13/6/12

169. BÂY GIỜ CÓ NGƯỜI LÀM THƠ NHƯ THẾ


Nguyễn Đức Thiện

Người ta cứ huếnh lên với những con chữ, khiến nó cứ rối nùi và sau đó bảo nó là thơ, và còn bảo thơ như thế mới là thơ,
như thế mới là,
như thế mới,
như thế… 
Người ta vo tròn những con chữ lại, hoặc căng nó ra, hoặc thắt cổ chữ như thắt cổ người rồi bảo thơ phải là như thế,
phải là như
phải là…
Người ta cưỡng hiếp những con chữ, không muốn thụ thai một đứa con trong trò cưỡng đoạt, nhưng vẫn cứ phải thụ tinh, đứa con cứ phải sinh ra, dù méo hay tròn, dù đui què mẻ sứt, rồi người ta bảo thơ là linh hồn của đấng tạo hóa
là linh hồn của đấng tạo,
linh hồn của đấng,
linh hồn của,
linh hồn…
Người ta băm chém những con chữ, thành năm, thành bảy, thành mười, nát như tương, lổn nhổn như đá cuội, ném lung tung lên giấy, lên mạng, lên vũ trụ, sang cả những hành tinh trong tưởng tưởng, mặc kệ những nỗi đau, bỏ qua những nỗi buồn, chỉ biết đến khoái cảm của riêng mình, giống như vừa trút hết tinh dịch của một cuộc làm tình rồi bảo thơ phải bắt đầu từ cõi tâm linh sâu thẳm,
phải bắt đầu từ cõi tâm linh sâu,
bắt đầu từ cõi tâm linh,
bắt đầu từ cõi tâm,
bắt đầu từ cõi,
bắt đầu từ,
bắt đầu…
Rồi cũng có những cuộc đồng tính luyến ái để con chữ chẳng còn là giống đực hay giống cái, lúc thì ồm ồm, lúc thì oe oe, tò le, tí lét, hoắng nhặng sị, lại còn cái mùi khăn khẳn của đàn ông trộn với mùi thơm thơm, khen khét của kem xức mặt, son bôi môi và xà bông lưỡng tính và bảo với thiên hạ thơ phải sinh ra từ chốn đồng loài về với đồng loài, nhưng chẳng để biết ai đực, ai cái,
phải sinh ra từ chốn đồng loài, về với đồng loài, nhưng chẳng đế biết ai đực ai,
phải sinh ra từ chốn đồng loài, về với đồng loài, nhưng chẳng để ai biết ai đực,
phải sinh ra từ chốn đồng loài, nhưng chẳng để
ai biết ai…
Ha, ha, ha, thơ
Là một công nghệ huếnh lên, vo tròn, cưỡng hiếp, băn chém, và đồng tính luyến ái
Đáng thương thay chữ ơi, bay chỉ còn là công cụ
Đáng thương thay, thơ ơi.
Ta chẳng hiểu được bay, và nhất định, bay chẳng hiểu gì ta…
Khoái thật, sướng thật, mê ly thật
Nhưng quả là tôi dốt
Không biết làm thơ để mọi người chẳng thể hiểu gì…
N.Đ.T
(nguồn : blog Nguyễn Trọng Tạo)

8/6/12

167. VIẾT VÀ ĐỌC - CÁI MỚI VÀ CÁI CỔ ĐIỂN

Nguyễn Hưng Quốc

1. VIẾT VÀ ĐỌC

Viết văn để ai đọc cũng hiểu và cũng thích là một cái thú: Cái thú phục vụ.
Viết văn để chỉ có một ít người đọc tương đối ưu tú hiểu và thích là một cái thú khác: Cái thú chinh phục.
Viết văn, viết thật rõ ràng, trong sáng và mạch lạc, để ngay cả những người đọc nghiêm túc và được trang bị đầy đủ nhất cũng không hiểu và không thích là một cái thú khác nữa: Cái thú thách thức.
Đằng nào thì cũng là thú. Mỗi người có thể có cái thú khác nhau. Tuỳ tạng, tuỳ trình độ và tuỳ gu.
Trong từng người, cái thú cũng có thể thay đổi tuỳ theo tuổi tác.
Cũng như cái thú đọc sách.
Hồi nhỏ, đọc sách tôi dễ dàng say mê tất cả những gì mới lạ. Những cái mới lạ ấy khiến việc đọc sách giống như việc tham gia những cuộc phiêu lưu bất tận. Nội dung cuốn sách càng lạ, cuộc phiêu lưu lại càng ly kỳ. Và càng hấp dẫn.
Sau, quan tâm nhiều đến kinh nghiệm và ý tưởng, nhắm đến việc củng cố lại vốn kiến thức mình đã gom góp, tôi sung sướng mỗi lần bắt gặp những tâm hồn đồng điệu từ các trang sách. Mỗi lần gặp được cái gì quen thuộc, tôi mừng húm: Nó làm cho tôi tự tin hơn. Và thấy thế giới gần gũi và ấm áp hơn.
Nhưng càng đọc nhiều sách, tôi càng tìm thấy cái thú ở chỗ khác: Những gì mình chưa biết. Cái chưa biết ấy có thể ở phạm vi kiến thức. Nhưng tôi thích nhất những cái chưa biết thuộc phạm trù thẩm mỹ, những tác phẩm thách thức lại kinh nghiệm thẩm mỹ của mình; những cuốn sách vượt ra ngoài cái định nghĩa về văn học mà tôi đã có cũng như đang có.
Cứ mỗi lần cầm cuốn sách nào lên mà đọc vài ba trang vẫn không hiểu gì cả, tôi bỗng mừng, nhủ thầm: Chưa biết nó hay hay dở thế nào, ít nhất nó cũng đáng đọc!
Đáng đọc vì chỉ những tác phẩm như thế mới làm cho mình giàu hơn mà thôi.

6/6/12

166. “MUỐN LÀM THẰNG CUỘI” : CÁI TÀI, CÁI TẦM, CÁI TÂM, CÁI TÔI CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ

Mộc Nhân
( Kỉ niệm 73 năm ngày mất thi sĩ Tản Đà : 07/ 6/ 1939 – 07/ 6/ 2012)

Tản Đà sáng tác nhiều tác phẩm mà chỉ đọc tên, chúng ta thấy rõ tính độc đáo, mộng mơ, lãng mạn : Khối tình con, Giấc mộng lớn, Giấc mộng con.
Bài thơ “Muốn làm thằng cuội” trong tập thơ “Khối tình con” được coi là độc đáo nhất, được nhiều người biết đến trong văn nghiệp của tác giả. Bài thơ là một ước muốn kì quặc, một giấc mơ kì thú, ngông nghênh, lãng mạn thể hiện cái tài, cái tầm, cái tâm, cái tôi của người nghệ sĩ mà một thời trở thành tâm điểm của những công kích cả về văn chương lẫn tính cách.

165. HỘI NHÀ VĂN VN HÈ NHAU TIỄN THI CA LÊN ĐOẠN ĐẦU ĐÀI ?

(Nhân đọc hai tập thơ được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010- 2011)

Trần Mạnh Hảo
Nguồn : Bà Đầm xòe

Năm 2012, Hội nhà văn Việt Nam đã trao hai giải thưởng thơ cho hai tập thơ : “ Bầu trời không mái che” của nhà thơ Mai Văn Phấn và “Hoan ca” của tác giả trẻ Đỗ Doãn Phương, gây nhiều phản ứng trên văn đàn, khen thì ít mà chê thì nhiều. Nhân đọc kỹ hai tập thơ này, chúng tôi (TMH ) mạn phép bàn thêm về tiêu chí chọn giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam: lấy cách tân thơ làm mục đích hay lấy chất lượng thơ ( thơ hay) làm mục đích ?
Đọc qua hàng chục bài khen, hàng chục lời khen hai tác giả trên và hai tập thơ được giải trên, thấy những lời khen rất mù mờ, tối nghĩa, lập lờ, thậm chí đao to búa lớn, tùy tiện, trích toàn những câu rất tầm thường, thậm chí rất dở ra khen hay, khiến những người đọc trẻ chưa đủ bản lĩnh trong thẩm mỹ thi ca dễ bị choáng váng, dễ bị định hướng sai lạc về thơ, rồi thi nhau viết những câu văn xuôi ngờ nghệch, ngớ ngẩn, xuống dòng liên tù tì và thi nhau nhận những giải thưởng phi…thơ.

4/6/12

164. VÀI SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC


Vài Suy Nghĩ về Giáo Dục là cuốn sách của John Locke viết về giáo dục. Khởi đầu đây chỉ là một tuyển tập những lá thư trao đổi giữa Locke và người bạn của ông là Edward Clarke trong thời gian Locke sống lưu vong tại Hòa Lan. Những trao đổi đó về sau được tác giả tập hợp lại thành sách.
MN giới thiệu một số đoạn trong cuốn sách này theo ấn bản iện tử được đăng tải trên trang mạng : http://www.bartleby.com/37/1/  
 Bản dịch tiếng Việt từ nguồn : HVCD - http://icevn.org/  

2/6/12

163. MỘT GÓC NHÌN VỀ BÀI THƠ “NHỚ RỪNG” của Thế Lữ

Mộc Nhân
Kỉ niệm 23 năm ngày mất của Thi sĩ Thế Lữ (3.6.1989 – 3.6.2012)

Mở đầu bài thơ “Nhớ rừng”, tác giả viết lời đề dẫn “Lời con hổ ở vườn bách thú” để tránh đi sự suy diễn, hiểu lầm, mà ngày nay chúng ta quen gọi là “chụp mũ”.
Hình tượng con hổ cho dù đó là sự hóa thân của thi sĩ, nó vẫn là một chủ thể trữ tình, nhất quán và toàn vẹn.
Phần nổi của bài thơ có ý nghĩa gợi liên tưởng đến ý thức giải phóng cái tôi cá nhân; có cả tâm trạng nhớ tiếc, u hoài của một dân tộc đang bị xiềng xích, khát khao tự do; phủ nhận thực tại hướng về quá khứ oanh liệt.

1/6/12

162. TẶNG HỌC TRÒ

                                        Mộc Nhân


                                  “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”

          Học trò hơn cả quỉ ma
          Mà sao lại đứng thứ ba cuối hàng
          Kiện thưa lên tới thiên đàng
          Xếp cho thứ nhất - đạo tràng bình yên

          Chăm ngoan mà cũng khùng điên
          Đứng đâu cũng thể làm nghiêng địa cầu
          Vui chơi mà cũng u sầu
          Học trò đứng trước, đứng đầu, đứng trên.

                                                                      Tháng 6 /  2012

30/5/12

161. PHÁT BIỂU RA TRƯỜNG CỦA HỌC SINH LỚP 9

Thầy  Mộc Nhân  và  học sinh Phạm Thị Khánh Tâm


Kính thưa quý vị đại biểu, quý thầy cô giáo và các bạn học sinh thân mến ! 
Em tên là Phạm Thị Khánh Tâm học sinh lớp 9/ 7 trường THCS Nguyễn Trãi. 
Hôm nay, em vinh dự được đại diện cho gần 1000 học sinh trong toàn trường nói lên những suy nghĩ của mình trong ngày bế giảng năm học và cũng là ngày 250 học sinh lớp 9 chúng em sắp xa trường. 
Thấm thoắt đã bốn năm trôi qua. Bốn năm kể từ ngày khai trường đầu tiên khi chúng em vào lớp 6 trong sự đón chào của quí thầy cô và các anh chị học sinh lớp lớn. 
Bốn năm là quãng thời gian không dài nhưng cũng đã đủ để biến tất cả nơi đây thành kỉ niệm, thành yêu thương đến nỗi, dù có xa ngôi trường này chúng em vẫn có thể ghi nhớ hình ảnh của từng người thầy, vẫn hình dung được từng khuôn mặt bạn bè thân quen, vẫn có thể nhớ từng ghế đá, hàng cây, bóng mát, lối cỏ … những niềm vui và cả nước mắt. 

26/5/12

160. THƠ VIỆT PHẢI ĐI ĐẾN TẬN CÙNG NGÔN NGỮ VIỆT

Lan Hương ( thực hiện)


Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha quan niệm: “Tư tưởng làm thơ phải khác người khác là rất chuẩn, có thể có cả tỷ người vội vã, nhưng cứ để họ thi đấu, người nào trụ được thì còn lại. Đôi khi sự công bố cũng chỉ là sự công bố, cái người ta sợ nhất vẫn là cái chưa công bố và người ta vẫn còn chờ đợi. Các nhà thơ hiện nay đang trong hội chứng dở nếp dở tẻ, không hồn nhiên được nữa, mà già dặn thì chưa tới. Thêm vào đó là hội chứng ham nổi tiếng. Cần phải biết theo cách nào. Có những người nổi tiếng chính bằng sự vô danh. Nhưng bây giờ tìm sự bình thường vô cùng khó. Dù vội vàng đến mấy thì cũng không nên vội vàng với thơ. Có một câu châm ngôn rằng: hãy vừa cày ruộng và vừa chờ chết. Có thể anh sẽ đi một chuyến vô tăm tích và không được gì cả, nhưng vẫn thực là anh”.
Hãy giữ gìn thơ Việt, đừng giết chết thơ Việt 

25/5/12

159. CHỚ ẢO TƯỞNG VỀ CÁCH TÂN THƠ


 Nguyễn Hoàng Đức

Vài năm gần đây, đứng trước tình trạng sình lầy, ứ đọng, dậm chân tại chỗ, bế tắc, đặc biệt tầm vóc sinh hoạt quá nhỏ bé của thơ, thì xuất hiện một trào lưu “vùng dậy” như một mặc cảm vượt thoát chua cay rằng: đâu đâu người ta cũng sẵn sàng chỉ ra cây bút này cách tân thơ, cây bút kia đổi mới thơ. Liệu cách tân hay đổi mới thơ có dễ dàng đến mức xuất hiện đại trà như vậy sao? Và cách tân có thực sự là liệu pháp thần tiên để cứu vãn sự nhạt nhẽo của thơ? Cách tân ư, cách tân có bao nhiêu giá trị nếu người ta chỉ có một chiếc bình nước sơn mới nhưng bên trong vẫn chỉ là rượu cũ vẫn cứ rỉ rả đàn nhị sáo trúc của ngũ âm ngày xửa ngày xưa?
 

21/5/12

158. THƠ VÀ SỰ LẠM PHÁT THƠ

Nguyễn Hiếu
(Nguồn : badamxoe)


“Tôi viết bài này đã lâu, cũng chẳng muôn đăng làm gì vì thiết nghĩ dù sao tôi cũng nghĩ đến cái tình anh em. Nhưng khổ một nỗi có thể do trình độ tôi có hạn nên tôi không hiểu vì sao Hội Nhà văn lại tán tụng thứ thơ “lai căng như kiểu ngưòi nứoc ngoài nói tiếng Việt không sõi”, làm hỏng thẩm mỹ của ngưòi đọc thơ, làm băng hoại ngôn ngữ Việt Nam muôn ngàn yêu quí của chúng ta, nên sau đôi hồi nghĩ ngợi, tôi quyết định cho Bà Đầm xòe công bố bài viết này. Có thể đúng,có thể sai về những ý kiến của tôi, rất mong anh em  xa gần góp ý, dậy bảo. Vẫn biết là một hội viên Hội Nhà văn, bài viết này sẽ có thể ít nhiều làm nhiều vị lãnh đạo hội không hài lòng. nhưng vì tồn vong của thi ca, sự trong sáng của tiếng Việt,  tôi quyết định cho đăng. Cám ơn những ai đọc bài này."

10/5/12

157. SỰ NGỘ NHẬN ĐI ĐẾN THA HÓA

Nguyễn Tất Thịnh



 Một bông hoa đẹp là chình nó và hòa được với những bông hoa đẹp khác.
Tôi thật cảm động khi biết rằng ngày xưa có những người làm biên tập xuất bản mót lại trong thùng giấy rác những tờ bị vò nát của ai đó để tìm lại những bài hay, lặn lội vất vả đến nơi xa cố tìm người không quen biết để thẩm định động viên họ cung cấp hay sửa lại đôi ý cho một tác phẩm nhỏ để in…từ đó có nhiều người đã thành danh, được công chúng nhớ đến tác phẩm của họ. Xuân Diệu tuyệt vời thế mà có tâm để tìm ra và nâng đỡ một mầm tài Thơ Trần Đăng Khoa. Có nhiều quốc sĩ thân gày yếu mà ‘mang chuông đi đánh nước người’ thật vinh quang…Những thày giáo đói khổ mà lỗi lạc quên mình cho thế hệ trẻ đứng trên vai mình
Tôi có dịp được tiếp xúc với khá nhiều người, nhiều giới, tạm gọi là tầng lớp khá trở lên của xã hội.có vài điều ( đương nhiên không phải là tất cả rồi, nhưng tương đối phổ biến ) nhận xét thế này :

9/5/12

156. ĐỐI MẶT VỚI NGUY CƠ BỊ ĐỒNG HÓA VĂN HÓA !

Tô Phán

Một dân tộc có thể chết từ văn hóa, chết bằng văn hóa!
Có một chiến trận không nóng bỏng và gây hiệu quả trực tiếp như mất đất, mất biển, mất người, mất tài sản, mất tự do, mất miếng cơm…, nhưng lại từng ngày, êm ả và ngọt ngào gặm nhấm xã hội, gặm nhấm mỗi con người; mà nếu không nhìn thấy trước, cuối cùng kẻ chiến bại sẽ là cả dân tộc, chịu một cái MẤT lớn hơn tất cả những cái mất nói trên cộng lại.
Một dân tộc bị “thất trận” về văn hóa thì không còn gì cả, đó là một dân tộc bị tan rã và chết, mặc dù hàng chục triệu sinh thể của nó có thể vẫn sống béo tốt ở khắp đó đây, nhưng tất cả đều mất gốc, không còn “căn cước” vì “không lớn nổi thành người” (thơ Đỗ Trung Quân).

6/5/12

155. NGẪM CHUYỆN BÚT TRE

Ngô Minh


Trong lịch sử thơ ca nước ta có lẽ tôi chưa biết có một nhà thơ nào sáng tạo ra một cấu trúc thơ riêng của mình có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống sinh hoạt xã hội của người Việt như Bút Tre. Thơ Bút Tre sinh ra từ những năm 60 của thế kỷ trước. Chỉ sau đó 5 năm thôi,Thơ Bút Tre đã được “nhân bản” thành các dòng thơ hậu Bút Tre khi ông còn sống, như Bút Tre trẻ, Bút Tre non, Bút Tre xanh, Bút Tre Tây….Bây giờ thì dân ta ai cũng thuộc những cậu thơ hậu Bút Tre :
"Anh đi công tác Plây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra;"
Hay:
            "Núi Voi trông thật giống con voi
            Có cả đầu đuôi, có cả vòi
            Núi cũng như người hăng sản xuất
Đầu thì trồng sắn, đít trồng khoai…."
Chắc chắn cuộc sống càng phát triển, thì “dòng thơ” Bút Tre ngày càng sinh sôi.
          Vậy thơ Bút Tre có phải là thơ không ? Dòng thơ đó sinh ra trong hoàn cảnh nào? Và tại sao nó lại được công chúng khắp cả nước truyền tụng, “nối mạng” liên tục như vậy ?. Nhà “Bút Tre học” Ngô Quang Nam qua cuốn sách đã cho chúng ta hiểu về thơ và giai thoại Bút Tre . Nhưng có thể do bối cảnh ông chưa muốn lý giải kỹ nguyên nhân tại sao lại sinh ra dòng thơ Bút Tre . Đây là một vấn đề xã hội học và lịch sử văn học nghiêm túc cần phải được nghiên cứu thấu đáo.

2/5/12

154. BÙI GIÁNG - K81 VÀ THÁC GRĂNG

K81 dã ngoại tại thác Grăng - Nam Giang
Hình ảnh từ Nguyễn Lương Tín và Mộc Nhân
Thơ lấy từ tập "Rong rêu", "Mười hai con mắt" của Bùi Giáng




Sáng nay chim hót thật nhiều
Tưởng nghe tiếng nói tình yêu đất trời
Chào anh suốt cõi chiêm bao
Suốt miền mộng mị đón vào đưa ra