Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: CLIVE SONG - Anne Carson
KHÚC HÁT CHO CLIVE
Nếu tôi là người sống ở thời kỳ đầu
Tôi sẽ tìm kiếm giới hạn của trí tuệ con
người
bằng cách đến những cây sồi thiêng
hoặc người đàn ông mù địa phương với đôi môi bốc lửa.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: CLIVE SONG - Anne Carson
KHÚC HÁT CHO CLIVE
Nếu tôi là người sống ở thời kỳ đầu
Tôi sẽ tìm kiếm giới hạn của trí tuệ con
người
bằng cách đến những cây sồi thiêng
hoặc người đàn ông mù địa phương với đôi môi bốc lửa.
NIỀM MÊ ĐẮM NHỎ BÉ VÀ BUỒN BÃ CỦA TÌNH YÊU
Mộc Nhân dịch
Nguyên tác: O SMALL SAD ECSTASY OF LOVE - by Anne Carson
Anh muốn được ở bên em trọn đêm dài – không ngủ
Thật may mắn làm sao, anh đang ở nơi này.
Anh đến theo những vì sao!
Bởi em đã thực hiện một chuyến hành trình
khắp tâm trí và trái tim anh.
Thơ Haiku, với đặc trưng là sự súc tích ấn tượng, thể hiện tinh thần thẩm mỹ tối giản được nhiều nhà thơ hiện đại ưa chuộng. Mỗi bài thơ Haiku của Tomas Tranströmer được xếp thành bốn đoạn/ bài, mỗi đoạn đều nắm bắt trọn vẹn tinh thần cô đọng của thể loại này và có thể xem như một bài thơ độc lập.
Bài thơ dưới đây có tựa Himalaya Silence (Himalaya Tĩnh lặng) của tác giả Barbara Gramza người Ba Lan, như một lời tưởng niệm gửi tới tất cả những sinh linh đã thiệt mạng, cũng như các gia đình và cộng đồng đang gánh chịu nỗi đau mất mát trong thảm họa lũ băng tại Nepal, cuối tháng 8/2026 - nơi bi kịch để lại vết sẹo mà thời gian chẳng thể xóa nhòa.

Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert
Schubertiana nằm trong tập thơ Những rào cản sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, là một trong những đỉnh cao xuất sắc nhất của thơ ông, khám phá vai trò của âm nhạc như một liều thuốc giải cho sự chia cắt, manh mún vốn là đặc trưng của đời sống đương đại. Năm phần của bài thơ đề cập đến nhiều hình ảnh khác biệt nhưng vẫn gắn kết với nhau nhờ cùng hướng về một chủ đề trung tâm: tinh thần âm nhạc của Schubert.
Bài thơ "November in the Former DDR" (Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ) của Tomas Tranströmer được viết sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1990 và Nước Đức thống nhất. Đây là một chiêm nghiệm hiện sinh lẫn lịch sử vô cùng đặc sắc về sự sụp đổ của một chế độ toàn trị tồn tại từ 1949 - 1990 và vết thương tâm lý còn sót lại. Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ đánh dấu thời khắc giao thời khi cái bóng bóng ma của chế độ độc tài tan biến. (1)
Thơ của Tranströmer, kế thừa các trào lưu Hiện đại, Biểu hiện và Siêu thực (Modernism, Expressionism, and Surrealism), chứa đựng những hình ảnh đầy sức gợi, xoay quanh các vấn đề về sự phân mảnh và nỗi cô độc. "Ông đã hoàn thiện một thể loại thơ trữ tình mang tính khai sáng (epiphanic lyric) đặc trưng, trong đó thiên nhiên đóng vai trò chủ thể năng động, tràn đầy sinh lực, còn cái tôi (nếu có) lại đóng vai trò là đối tượng," - Katie Peterson: "Thơ của Tranströmer hình dung về những không gian mà chiều sâu tâm thức sẽ ngự trị, tựa như dòng nước ngầm phun trào vào một cái giếng mới đào."
Những chiếc thuyền Gondola truyền thống của Venice |
Bài thơ Alone (tiếng Thụy Điển: Ensamhet - Cô đơn) nằm trong tập Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở), 1962 và tập Bells and Tracks (Tiếng chuông và Dấu vết), 1966 của Tomas Tranströmer. Đây là bài thơ tự sự mang tính trải nghiệm cá nhân sâu sắc và rõ nét nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này cùng với nhiều bài thơ khác của Tomas Tranströmer là một trong những tiết mục được trình bày thay cho bài diễn từ. (1)
Bài thơ C Major (tiếng Thuỵ Điển: C Dur - Đô Trưởng) trích trong tập Thiên đường dang dở (The Half-Finished Heaven) của Tomas Tranströmer, xuất bản 1962. Đây là một trong những kiệt tác ngắn gọn nhưng hoàn hảo nhất của ông, nơi âm nhạc, tình yêu và cảm thức tâm linh hòa quyện để tạo nên một khoảnh khắc bừng sáng của sự hiện sinh. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này được trình bày trong một tiết mục diễn đọc. (1)
Bài thơ The
Journey (Resan) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ đầu tay: 17 Poems (17 Dikter - 17 bài thơ), xuất
bản năm 1954. Tập thơ
này đưa Tranströmer (khi đó mới 23 tuổi) trở thành một trong những giọng thơ đột
phá nhất của thi văn Thụy Điển hiện đại.
![]() |
Vermeer - danh họa Hà Lan (1632–1675) |
"Vermeer" là bài thơ trong tập For Living and Dead (Cho người sống và người chết) của Tomas Tranströmer, năm 1989. Vermeer là danh họa người Hà Lan, Tranh của Vermeer nổi tiếng với việc ngưng đọng thời gian, ông là hiện thân của người nghệ sĩ biết lắng nghe nhịp đập sâu thẫm bên dưới bề mặt ồn ào của đời sống, biến cái hữu hạn thành cái vô hạn. Tranströmer nhìn thấy ở Vermeer khả năng "hóa thạch" khoảnh khắc đời thường thành cái vĩnh cửu trong cảm hứng thi ca.
Bài thơ “The Light Streams In” (tiếng Thụy Điển: Ljuset strömmar in - Ánh sáng tràn ngập) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ The Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở) xuất bản lần đầu năm 1962. Đây là tập thơ thứ ba của Tomas Tranströmer, đánh dấu bước ngoặt quan trọng định hình thi phong "siêu hình" đặc trưng của ông, với những khoảnh khắc thức tỉnh, ranh giới giữa giấc mơ và thực tại, cũng như sự hiện diện của cái vĩnh cửu ngay trong đời sống thường nhật. (1)
Funchal là thủ phủ và thành phố lớn nhất của Bồ Đào Nha thuộc khu tự trị của quần đảo Madeira, có dân số 100.526 người và là thủ phủ của Madeira trong hơn năm thế kỷ. Bài thơ lấy cảm hứng từ chuyến đi của Tranströmer đến Funchal, được in trong tập Rào cản Sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, 1978 - những cuộc tiếp xúc của tác giả với các nền văn hóa khác.
“An Artist in the North” (Một nghệ sĩ phương Bắc - nguyên bản tiếng Thụy Điển: En konstnär i norr) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ "Night Vision", xuất bản lần đầu năm 1970. Tập thơ này ghi dấu giai đoạn sáng tác đầy chiều sâu của Tranströmer với những nét phác thảo tinh tế, cô đọng về thiên nhiên Bắc Âu, sự tĩnh lặng và không gian tâm lý ẩn sâu bên trong con người.
“Cũng như bao nhà thơ vĩ đại đi trước, Tranströmer luôn nhắc nhở chúng ta rằng thế giới không chỉ là những gì ta thấy; rằng nếu biết sống tỉnh thức và quan sát thật kỹ, ta có thể thoáng thấy một điều gì đó thật bao la và kỳ lạ.” (Like so many great poets before him, Tranströmer is forever reminding us that the world is not what it appears to be; that with mindfulness and close attention, you might get a glimpse of something vast and strange.) - John Freeman, nhà phê bình tại National Public Radio (Đài Phát thanh Công cộng Quốc gia Mỹ) – NPR.
Mộc Nhân phỏng dịch (thể lục bát)
Nguyên tác “A Mood of Quiet Beauty” - by John Ashbery.
Ánh chiều vàng mật vòm cây
em đi bỏ lại cuối ngày và tôi
hoàng hôn tắt lịm trên đồi
cầu vồng hạ xuống đơn côi hình hài
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: "Blackberry-Picking" - Seamus Heaney
Cuối tháng Tám, dưới nắng và mưa dầm
Những quả mâm xôi chín mọng, cả tuần
CHẲNG CÒN ĐIỀU GÌ THUỘC VỀ CHÍNH NÓ