Mộc Nhân
Mộc Nhân
Đôi khi là vậy/ 때로는 그런 것 – tập thơ song ngữ Việt – Hàn, của Mai Hữu Phước là một tác phẩm có duyên trong xuất bản và phát hành bởi nó ra đơi đúng “điểm rơi” trong tuần lễ giao lưu văn hoá Việt – Hàn tổ chức tại Đà Nẵng. Bạn đọc ghi nhận đây là tuyển thơ song ngữ có giá trị về nội dung tư tưởng, nghệ thuật biểu đạt và ý nghĩa giao lưu văn hóa.
Bài thơ dưới đây có tựa Himalaya Silence (Himalaya Tĩnh lặng) của tác giả Barbara Gramza người Ba Lan, như một lời tưởng niệm gửi tới tất cả những sinh linh đã thiệt mạng, cũng như các gia đình và cộng đồng đang gánh chịu nỗi đau mất mát trong thảm họa lũ băng tại Nepal, cuối tháng 8/2026 - nơi bi kịch để lại vết sẹo mà thời gian chẳng thể xóa nhòa.
Mộc Nhân - Cho bài viết số 4.000
1.
Buổi sáng, thị trấn thu mình bên góc phố, đêm qua cơn mưa rải hơi ẩm xuống mặt đường. Mùa chuyển từ mây sang phía núi - nhẹ như giai điệu không lời trong bản hoà âm giản dị - với cung đô trưởng.
Mộc Nhân biên dịch từ nhiều nguồn
Cũng như bao nhà thơ vĩ đại đi trước, Tranströmer luôn nhắc nhở chúng ta rằng thế giới không phải lúc nào cũng như vẻ bề ngoài của nó; rằng nếu biết sống tỉnh thức và quan sát thật kỹ, ta có thể thoáng thấy một điều gì đó thật bao la và kỳ lạ. (Like so many great poets before him, Tranströmer is forever reminding us that the world is not what it appears to be; that with mindfulness and close attention, you might get a glimpse of something vast and strange.) - John Freeman.
Adagio là tên của một chương trong tác phẩm Ngũ tấu đàn dây cung Đô trưởng của Franz Schubert. Đây là tác phẩm khí nhạc thính phòng cuối cùng, được coi là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của thể loại nhạc thính phòng do Schubert sáng tác. Tác phẩm từ lâu đã được xem là hiện thân của sự chấp nhận và thanh thản khi đối diện với thời khắc cuối đời.

Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert
Schubertiana nằm trong tập thơ Những rào cản sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, là một trong những đỉnh cao xuất sắc nhất của thơ ông, khám phá vai trò của âm nhạc như một liều thuốc giải cho sự chia cắt, manh mún vốn là đặc trưng của đời sống đương đại. Năm phần của bài thơ đề cập đến nhiều hình ảnh khác biệt nhưng vẫn gắn kết với nhau nhờ cùng hướng về một chủ đề trung tâm: tinh thần âm nhạc của Schubert.
Bài thơ "November in the Former DDR" (Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ) của Tomas Tranströmer được viết sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1990 và Nước Đức thống nhất. Đây là một chiêm nghiệm hiện sinh lẫn lịch sử vô cùng đặc sắc về sự sụp đổ của một chế độ toàn trị tồn tại từ 1949 - 1990 và vết thương tâm lý còn sót lại. Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ đánh dấu thời khắc giao thời khi cái bóng bóng ma của chế độ độc tài tan biến. (1)
Thơ của Tranströmer, kế thừa các trào lưu Hiện đại, Biểu hiện và Siêu thực (Modernism, Expressionism, and Surrealism), chứa đựng những hình ảnh đầy sức gợi, xoay quanh các vấn đề về sự phân mảnh và nỗi cô độc. "Ông đã hoàn thiện một thể loại thơ trữ tình mang tính khai sáng (epiphanic lyric) đặc trưng, trong đó thiên nhiên đóng vai trò chủ thể năng động, tràn đầy sinh lực, còn cái tôi (nếu có) lại đóng vai trò là đối tượng," - Katie Peterson: "Thơ của Tranströmer hình dung về những không gian mà chiều sâu tâm thức sẽ ngự trị, tựa như dòng nước ngầm phun trào vào một cái giếng mới đào."
Những chiếc thuyền Gondola truyền thống của Venice |
Bài thơ Alone (tiếng Thụy Điển: Ensamhet - Cô đơn) nằm trong tập Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở), 1962 và tập Bells and Tracks (Tiếng chuông và Dấu vết), 1966 của Tomas Tranströmer. Đây là bài thơ tự sự mang tính trải nghiệm cá nhân sâu sắc và rõ nét nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này cùng với nhiều bài thơ khác của Tomas Tranströmer là một trong những tiết mục được trình bày thay cho bài diễn từ. (1)
Bài thơ C Major (tiếng Thuỵ Điển: C Dur - Đô Trưởng) trích trong tập Thiên đường dang dở (The Half-Finished Heaven) của Tomas Tranströmer, xuất bản 1962. Đây là một trong những kiệt tác ngắn gọn nhưng hoàn hảo nhất của ông, nơi âm nhạc, tình yêu và cảm thức tâm linh hòa quyện để tạo nên một khoảnh khắc bừng sáng của sự hiện sinh. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này được trình bày trong một tiết mục diễn đọc. (1)
Bài thơ The
Journey (Resan) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ đầu tay: 17 Poems (17 Dikter - 17 bài thơ), xuất
bản năm 1954. Tập thơ
này đưa Tranströmer (khi đó mới 23 tuổi) trở thành một trong những giọng thơ đột
phá nhất của thi văn Thụy Điển hiện đại.
![]() |
Vermeer - danh họa Hà Lan (1632–1675) |
"Vermeer" là bài thơ trong tập For Living and Dead (Cho người sống và người chết) của Tomas Tranströmer, năm 1989. Vermeer là danh họa người Hà Lan, Tranh của Vermeer nổi tiếng với việc ngưng đọng thời gian, ông là hiện thân của người nghệ sĩ biết lắng nghe nhịp đập sâu thẫm bên dưới bề mặt ồn ào của đời sống, biến cái hữu hạn thành cái vô hạn. Tranströmer nhìn thấy ở Vermeer khả năng "hóa thạch" khoảnh khắc đời thường thành cái vĩnh cửu trong cảm hứng thi ca.