Mộc Nhân - Unclassifiable.
7.
Lần đầu tiên nhìn thấy em, trái tim anh đã rung động. Lần thứ hai nhìn thấy em, trái tim anh đã rung động. Lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm và kể từ đó, trái tim anh vẫn rung động.
Mộc Nhân - Unclassifiable.
7.
Lần đầu tiên nhìn thấy em, trái tim anh đã rung động. Lần thứ hai nhìn thấy em, trái tim anh đã rung động. Lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm và kể từ đó, trái tim anh vẫn rung động.
Mộc Nhân - Unclassifiable
4.
Tôi có thể nhìn thấy vẻ đẹp của em và tôi trân trọng vẻ
đẹp đó, cả những gì có ở những người tôi
gặp lẫn những gì không có.
Thật ra mọi vẻ đẹp vốn không hoàn hảo. Việc yêu những khuyết điểm của ai đó cũng cần thiết như việc yêu những điểm mạnh của họ.
Mộc Nhân - Uclassifiable.
1.
Những tín hiệu cho phép đàn ông và phụ nữ tìm thấy tình yêu lại bị xáo trộn bởi sự bất an về tình dục. Em sẽ cảnh giác với hình ảnh phản chiếu của mình trong mắt tôi. Em sẽ thiếu tự tin về cơ thể mình, chuyển động hình thể của em sẽ mất tự nhiên. Dù sự ve vuốt tự nhiên đến và diễn ra tự nhiên.
Mộc Nhân
Đàn côn trùng điên cuồng va vào bóng đèn
cắt ánh sáng thành vệt chi chít với những chấm đen
rồi rơi trên khóm hoa trắng, dưới nền gạch.
Mộc Nhân dịch (1)
Giải Nobel Văn học năm 1971 được trao cho Pablo Neruda "vì một nền thơ ca với sức mạnh nguyên tố đã thổi hồn vào vận mệnh và ước mơ của cả một lục địa" (for a poetry that with the action of an elemental force brings alive a continent's destiny and dreams).
Kenzaburo Oe (1935) là một nhà văn Nhật Bản nổi tiếng, các tác phẩm văn học của ông đã mang lại cho ông sự công nhận quốc tế và nhiều giải thưởng, trong đó có Giải Nobel Văn học năm 1994. Phong cách viết của Oe được đặc trưng bởi sự phân tích sâu sắc về thân phận con người, các chủ đề về bản sắc cá nhân, dân tộc, và sự phê phán các cấu trúc xã hội - chính trị.
Mộc Nhân dịch
Bản Anh ngữ có
tựa “Japan, The Ambiguous, and Myself” (Nhật Bản, Sự mơ hồ và Chính tôi) -
Kenzaburo Oe đọc tại lễ nhận giải Nobel Văn học tại Viện Hàn lâm Thụy Điển vào
ngày 7/ 12/ 1994.
“Nơi mạch nguồn tinh khôi” của tôi
ngọn đồi đầu tiên trên thế giới
nơi những dòng suối chảy vào
những thảm cỏ óng ánh
và những viên đá cuội sẫm màu
dưới mặt đường.
Cây thanh lương trà như cô gái môi son
đứng bên con đường nhỏ
hàng bạch dương phủ màn sương mờ tỏ
lẩn khuất bóng hình giữa đám lau
Seamus Heaney (1939 - 2013) là một nhà thơ , nhà viết kịch và dịch giả người Ireland, ông nhận giải Nobel Văn học 1995: “vì những tác phẩm có vẻ đẹp trữ tình và chiều sâu đạo đức, tôn vinh những phép màu hàng ngày và quá khứ sống động” (for works of lyrical beauty and ethical depth, which exalt everyday miracles and the living past).
Những câu trích trong các tác phẩm của nhà văn Mỹ, Toni Morrison.
1. “Nếu có một cuốn sách bạn muốn đọc, nhưng nó chưa được viết ra, thì bạn phải viết nó.” (If there's a book that you want to read, but it hasn't been written yet, then you must write it.)
Mộc Nhân dịch (1)
Giải Nobel Văn học năm
1993 được trao cho Toni Morrison vì: “người mà trong những tiểu thuyết mang đậm
sức mạnh viễn tưởng và ý nghĩa thi ca, đã thổi hồn vào một khía cạnh thiết yếu của
hiện thực nước Mỹ” (motivation: “who in novels characterized by visionary force
and poetic import, gives life to an essential aspect of American reality).
Octavio Paz (1914 - 1998), nhà thơ, nhà văn Mexico, nhận giải Nobel Văn học năm 1990. Thơ của Paz được đặc trưng bởi sự chặt chẽ về mặt trí tuệ và thử nghiệm ngôn ngữ; kết hợp nhuần nhuyễn những ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực với các chủ đề về tình yêu, sự cô đơn và sự tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới đầy bất ổn, luôn biến đổi.
Mộc Nhân dịch
Bản Anh ngữ có tựa “The Antilles: Fragments of Epic Memory” (Quần đảo Antilles: Những mảnh vỡ của ký ức sử thi) – Derek Walcott (1) đọc tại lễ nhận giải Nobel Văn học tại Viện Hàn lâm Thụy Điển vào ngày 7 tháng 12 năm 1992. (2)
***