Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác “The best books on Aphorisms” recommended by Andrew Hui (2)
Cuộc sống không được xem xét kỹ lưỡng thì không đáng sống. Thiên nhiên thích ẩn mình. Bạn không thể bước vào cùng một dòng sông hai lần… Chắc chắn tất cả chúng ta đều lớn lên với những câu châm ngôn như thế, và có lẽ chúng ta coi tầm quan trọng của chúng là điều hiển nhiên. Andrew Hui, tác giả của cuốn sách đầy đủ đầu tiên về lý thuyết châm ngôn, dẫn dắt chúng ta qua lịch sử của những câu nói triết học ngắn gọn từ Heraclitus đến Nietzsche và xa hơn nữa.
Chúng ta hãy bắt đầu với
câu hỏi cơ bản nhất: Châm ngôn là gì?
Nói vắn tắt, châm ngôn
đơn giản là một câu nói ngắn gọn. Châm ngôn thuộc về một gia đình lớn với những
họ hàng xa: tục ngữ, ngạn ngữ, châm ngôm, lời khuyên… Xét về mức độ dễ hiểu, tục
ngữ thường là những câu nói thông thường không có tác giả hoặc là trí tuệ dân
gian (ví dụ: “Xa mặt cách lòng”, “Ăn quả
nhớ người trồng cây”, “Đa dạng là gia vị của cuộc sống”…). Đây là những câu nói
ngắn gọn, cơ bản và dễ hiểu và chúng thường phụ thuộc vào văn hóa.
Có điều gì đó rất biện
chứng trong thể loại châm ngôn. Có những châm ngôn hoàn toàn bí ẩn như lời
tuyên bố của điện thờ Delphi, hay những dòng chữ khắc trên xương, trên mai rùa
hoặc vách đá... thời Trung Quốc cổ đại. Đây là những trường hợp cực đoan của những
câu nói khó hiểu, đòi hỏi sự giải thích.
Những châm ngôn tôi chọn
cho cuốn sách của mình nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này, chúng được viết bởi
các nhà văn, triết gia, vĩ nhân. Câu hỏi thúc đẩy cuốn sách của tôi là: Mối
quan hệ giữa tư duy triết học và hình thức châm ngôn là gì? Chúng ta thường
nghĩ triết học là lập luận có tính diễn ngôn: nó logic; nó tiến hành bằng các
bước chứng minh từng bước. Điều tôi quan tâm là tư duy rời rạc và lập luận phi
diễn ngôn. Tư duy ‘nguyên tử’, như
người ta vẫn nói.
Thật thú vị khi bạn tập
trung vào những phát ngôn cần được giải thích. Để một đoạn văn được coi là châm
ngôn, tác giả phải có chủ đích và đạt được một mức độ thành công nhất định
trong việc trình bày cho người đọc điều gì đó khiến họ phải dừng lại suy ngẫm.
Đúng vậy. Châm ngôn mang
tính biện chứng rất cao. Khi đọc nó, chúng ta có một cuộc đối thoại nội tâm với
chính mình hoặc một cuộc đối thoại tưởng tượng với tác giả. Theo nghĩa đó, châm
ngôn đóng vai trò như một chất xúc tác cho việc tự triết lý hóa bản thân. Tôi
đang dựa trên tác phẩm của Alexander Nehamas và cuốn "Triết học như một lối
sống" của Pierre Hadot. Luận điểm của Nehamas là Nietzsche, Montaigne và
Socrates – dù họ có giáo điều hay học thuyết nào hay không, ai biết được - điều
họ thực sự muốn chúng ta làm là triết lý hóa, là thực hành triết học. Do đó,
châm ngôn là một lời mời gọi đến với triết học.
Châm ngôn được sử dụng rộng
rãi trong triết học Trung Quốc, nơi có truyền thống các bậc hiền triết hay triết
gia nói những điều ngắn gọn, súc tích để người học trò, người đọc hoặc người
nghe suy ngẫm và diễn giải. Đó là khoảnh khắc tiếp xúc với bậc thầy và khoảnh
khắc chiêm nghiệm. Mặc dù triết học phương Tây cũng có nhiều châm ngôn, nhưng bối
cảnh xuất hiện của chúng không nhất thiết phải mang tính sư phạm như vậy.
Hãy xem xét trường hợp của
Trung Quốc trước. Có một hình tượng Khổng Tử được xây dựng như là tác giả có thẩm
quyền của nhiều câu nói. Nhưng Khổng Tử không phải là tác giả. Mỗi câu nói
trong Luận ngữ đều được bắt đầu bằng cụm từ "Khổng Tử nói"; chính những
người được cho là đệ tử của ông đã ghi lại khoảnh khắc phát ngôn ban đầu.
1. Châm ngôn ngắn gọn, dễ hiểu, cho phép bạn suy ngẫm.
Điều này dẫn đến phần
phương pháp luận trong cuốn sách của tôi, đó là để nghiên cứu châm ngôn, chúng
ta không chỉ cần phân tích triết học mà còn phải nghiên cứu ngữ văn. Với châm
ngôn Khổng giáo, chúng ta phải tìm hiểu lý do tại sao các đệ tử muốn ghi chép lại
chúng, và truyền thống chú giải đã hình thành xung quanh những câu nói cụ thể
như thế nào - thường là một truyền thống rất đồ sộ.
Tôi quan tâm đến quyền
uy tối cao của người thầy và cách mà những người theo ông, hay những người kế
thừa, có nhiều bất đồng, tranh luận và bất đồng về ý nghĩa ban đầu của người thầy.
Đây là điều mà Max Weber gọi là sự chuyển đổi từ quyền uy dựa trên sức hút cá
nhân sang bộ máy quan liêu được mã hóa.
Nhưng điều đó nghe không
khác biệt nhiều so với lập luận mà bạn tìm thấy, chẳng hạn, trong tác phẩm của Quentin
Skinner về lịch sử: rằng để hiểu bất kỳ triết học nào, bạn phải hiểu rất nhiều
về ý nghĩa của người suy nghĩ vào thời điểm những lời đó được viết ra, người đó
đang ngầm đáp lại ai, và những lời đó sẽ có ý nghĩa gì trong bối cảnh đối với độc
giả đương thời.
Đối với Quentin Skinner,
có thẩm quyền của Machiavelli, của Hobbes. Chúng ta biết Machiavelli và Hobbes
đã viết những lời này. Trong khi đó, với Khổng Tử, đây là một trạng thái rất
linh hoạt của văn hóa văn bản truyền miệng. Các nhà Hán học ngày nay đang thực
sự đấu tranh chống lại phong trào theo chủ nghĩa mục đích luận cho rằng,
"Trước hết là truyền miệng, sau đó là văn bản." Nhưng trên thực tế,
nó linh hoạt hơn nhiều.
Có
một phép ẩn dụ tuyệt vời mà các học giả Trung Quốc sử dụng. Trong các văn bản cổ,
họ nói, có ba trạng thái của vật chất: khí, lỏng, rắn. Khí là quá trình tự do của
giao tiếp hoặc tranh luận bằng miệng, tất cả đều trôi nổi trong bầu khí quyển;
lỏng là văn hóa bản thảo, nơi có rất nhiều sự linh hoạt và biến thể; Và sự chắc
chắn là bản in, nơi mọi thứ được cố định.
* Vì chúng ta đang nói về
Khổng Tử, sẽ thật tuyệt nếu bạn gắn điều này với cuốn sách đầu tiên bạn chọn:
Luận ngữ:
Có rất nhiều bản dịch tiếng
Anh, bắt đầu từ bản của Arthur Waley. Có rất nhiều phiên bản khác nhau, được viết
bởi những người là triết gia phân tích, hoặc sử gia văn hóa. Tôi thích bản dịch
của Edward Slingerland một phần vì nó bao gồm cả truyền thống chú giải.
Tôi sẽ đọc một ví dụ:
“Sư phụ nói: Ngày nay
khó mà sống được nếu không có sự khéo léo của Tuệ sư Đà hoặc vẻ đẹp thể chất của
Tống Triều.” Ai đó có thể hỏi: Tuệ sư Đà là ai, và Tống Triều là ai? Truyền thống
chú giải cung cấp các loại chú giải và câu trả lời khác nhau cho loại câu hỏi
đó.
Điều đó trở thành động lực
lớn cho tư duy triết học và trí tuệ sau này ở Trung Quốc. Đây là cách mà Khổng
Tử trở thành Nho giáo. Ấn bản này thực sự rất tốt trong việc thể hiện cả tính
chất được xây dựng của bản gốc Luận ngữ
và cỗ máy chú giải rộng lớn đã thúc đẩy truyền thống triết học Trung Quốc qua
nhiều thế kỷ.
Nếu bạn đang nói chuyện
với một độc giả phương Tây vừa mới tiếp cận Luận ngữ, họ nên tiếp cận nó như thế
nào? Có những điều gì mà chúng ta nên làm khi đọc khác với khi tiếp cận một văn
bản triết học quen thuộc hơn không?
Có nhiều cách để đọc Luận
ngữ. Một là bạn có thể đọc nó như một tài liệu về văn hóa Trung Quốc cổ đại vẫn
còn giá trị cho đến ngày nay. Về mặt đó, ấn bản tôi đã chọn rất tuyệt vời, bởi
vì nó cho bạn cảm nhận về truyền thống chú giải và những gì người khác đã nghĩ
về nó.
2. Câu châm ngôn sẽ không có tác dụng nếu thiếu đi tính sống động về mặt
văn chương.
Nếu bạn giống như đồng
nghiệp Bryan van Norden của tôi, bạn sẽ cố gắng tìm hiểu xem Khổng Tử muốn nói
gì về lòng nhân ái, về sự tốt đẹp, về lý thuyết tình bạn. Bạn có thể đọc Luận
ngữ mà không cần xem xét bối cảnh lịch sử của nó. Hoặc bạn có thể tiếp cận nó
theo hướng lịch sử như Michael Puett của Đại học Harvard, người quan tâm đến
Trung Quốc thời kỳ đầu và cả sự tiếp nhận qua các triều đại cũng như tầm quan
trọng của nó cho đến ngày nay.
Còn về truyền thống chủ
quan thì sao? Nếu tôi đến một phòng trưng bày nghệ thuật mà không am hiểu nhiều
về lịch sử, tôi vẫn có thể thu được rất nhiều điều từ việc tương tác với các bức
tranh, ngay cả khi cách diễn giải của tôi có thể không chính xác về mặt lịch sử
và đầy những liên tưởng cá nhân. Tôi được đưa vào một trạng thái mơ mộng, nơi
tôi bắt đầu suy ngẫm về những điều quan trọng đối với mình. Còn cách đọc châm
ngôn tương tự thì sao?
Ồ, chắc chắn rồi. Châm
ngôn rất phù hợp với cách tiếp cận đó. Chúng ngắn gọn; chúng dễ hiểu; chúng cho
bạn không gian để suy nghĩ. Thời gian bạn đọc một câu châm ngôn ngắn hơn thời
gian bạn hiểu được nó.
Khóa học về triết học
Trung Quốc thời kỳ đầu của Michael Puett coi đó như lời khuyên về cuộc sống -
và đó là một trong những khóa học lớn nhất tại Harvard với hơn 700 sinh viên!
* Bạn có thể trích dẫn một
câu châm ngôn Khổng giáo yêu thích, một câu mà bạn thấy dễ nhớ không?
Chắc chắn rồi. Đây là một
câu hay: “Nếu tôi chỉ ra một góc của vấn đề, và học trò không thể đưa ra ba góc
còn lại, tôi sẽ không cố gắng hướng dẫn cậu ta nữa.”
Tuyệt vời, bạn nên treo
câu này trên cửa văn phòng của mình.
Chính xác! Tôi thích điều
này vì nó hoàn toàn trái ngược với quan niệm rằng việc học Khổng giáo là thụ động
và học thuộc lòng. Điều này yêu cầu học trò tự mình giải quyết vấn đề. Khổng Tử
sẽ cho bạn một vectơ trong các tham số của căn phòng, và bạn phải tự tìm ra
vectơ còn lại. Theo một cách nào đó, tư duy Khổng giáo khá giống với toán học.
Điều tôi yêu thích ở những
câu châm ngôn là bạn có thể mang toàn bộ nội dung của chúng đi theo mình, trong
tâm trí. Chúng vốn dĩ rất dễ mang theo. Không có cảm giác mất mát khi bạn đóng
sách lại vì chúng thường đủ ngắn để nhớ từng chữ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét