Những câu trích dưới đây lấy từ các tác phẩm của Imre Kertész - Nobel VH 2022: Kinh cầu siêu cho thai nhi (Kaddish for an Unborn Child), Thanh lọc (Liquidation), Truyện trinh thám (Detective Story), Số phận vô định (Fatelessness)...
Mộc Nhân - Tuyển dịch từ nhiều nguồn.
1. Tôi nghĩ một người trở thành nhà văn bằng cách tự biên tập các tác phẩm của mình. (I think a man turns into a writer by editing his own texts.)
2. Tôi bị giam giữ ở
Auschwitz một năm. Tôi không mang về bất cứ thứ gì, ngoại trừ một vài câu chuyện
cười, và điều đó khiến tôi xấu hổ. Nhưng rồi, tôi cũng không biết phải làm gì với
trải nghiệm mới mẻ này. Trải nghiệm này không phải là một sự thức tỉnh văn
chương, cũng không phải là dịp để tự soi xét về mặt nghề nghiệp hay nghệ thuật.
(I was interned in Auschwitz for one
year. I didn't bring back anything, except for a few jokes, and that filled me
with shame. Then again, I didn't know what to do with this fresh experience.
For this experience was no literary awakening, no occasion for professional or
artistic introspection.)
3. Một cuốn sách hoặc là
tự truyện hoặc là tiểu thuyết. Khi viết về Auschwitz, chúng ta phải biết rằng
Auschwitz, ít nhất là theo một nghĩa nào đó, đã làm đình trệ văn học. Người ta
chỉ có thể viết một tiểu thuyết đen tối về Auschwitz hoặc - xin thứ lỗi cho
cách diễn đạt này - một loạt truyện rẻ tiền, bắt đầu ở Auschwitz và vẫn chưa kết
thúc. (A book is either autobiography or
a novel.Share this When we write about Auschwitz, we must know that Auschwitz,
in a certain sense at least, suspended literature. One can only write a black
novel about Auschwitz or - you should excuse the expression - a cheap serial,
which begins in Auschwitz and is still not over.)
4. Người ta thường nói về
tôi - một số người coi đó là lời khen, số khác lại coi đó là lời phàn nàn - rằng
tôi viết về một chủ đề duy nhất: Holocaust. Tôi không có gì phản đối điều đó. Tại
sao tôi không nên chấp nhận, với một số điều kiện nhất định, vị trí được dành
cho tôi trên các kệ sách thư viện? (It is
often said of me - some intend it as a compliment, others as a complaint - that
I write about a single subject: the Holocaust. I have no quarrel with that. Why
shouldn't I accept, with certain qualifications, the place assigned to me on
the shelves of libraries?)
5. Tôi đến từ hai chế độ
độc tài hà khắc, Đức Quốc xã và Stalin. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc trở
thành một nhà văn, nhưng trong một khoảnh khắc sáng suốt, tôi nhận ra điều mình
phải làm. (I came from two harsh
dictatorships, Nazi and Stalinist. I never thought of becoming a writer as
such, yet in a lucid moment, I recognised what I had to do.)
6. Một cuốn tự truyện
hay giống như một tài liệu: một tấm gương phản chiếu thời đại mà mọi người có
thể 'dựa vào'. Ngược lại, trong một cuốn tiểu thuyết, điều quan trọng không phải
là sự thật, mà chính là những gì bạn thêm vào sự thật đó. (A good autobiography is like a document: a mirror of the age on which
people can 'depend.' In a novel, by contrast, it's not the facts that matter,
but precisely what you add to the facts.)
7. Nếu thế giới là một
thực tại khách quan tồn tại độc lập với chúng ta, thì bản thân con người, ngay
cả trong mắt chính họ, cũng không hơn gì những vật thể, và câu chuyện cuộc đời
họ chỉ là một chuỗi những sự kiện lịch sử rời rạc, mà họ có thể ngạc nhiên,
nhưng bản thân họ không liên quan gì đến chúng. (If the world is an objective reality that exists independently of us,
then humans themselves, even in their own eyes, are nothing more than objects,
and their life stories merely a series of disconnected historical accidents,
which they may wonder at, but which they themselves have nothing to do with.)
8. Viết lách đã thay đổi
cuộc đời tôi. Nó có một chiều kích hiện sinh, và điều đó cũng đúng với mọi nhà
văn. Mỗi nghệ sĩ đều có một khoảnh khắc thức tỉnh, một khoảnh khắc tình cờ nảy
ra một ý tưởng thu hút họ, bất kể họ là họa sĩ hay nhà văn. (Writing changed my life. It has an
existential dimension, and that's the same for every writer. Every artist has a
moment of awakening, of happening upon an idea that grabs hold of you,
regardless of whether you are a painter or a writer.)
9. Không ai trong gia
đình tôi viết văn. Và cũng không có sự giới thiệu thực sự nào. Tôi cho rằng bằng
cách nào đó tôi đã tình cờ bén duyên với nó khi tôi khoảng sáu hoặc bảy tuổi.
Tôi được hỏi muốn món quà gì, và, không biết tại sao, tôi trả lời rằng tôi muốn
một cuốn nhật ký. Đó là một cuốn nhật ký tuyệt đẹp - đẹp đến nỗi tôi không muốn
làm vấy bẩn nó. (No one in my family
wrote. And there was no real introduction. I suppose I somehow blundered into
it when I was about six or seven years old. I was asked what present I would
like, and, without knowing why, I responded that I would like a journal. It was
a beautiful journal - so beautiful that I didn't want to sully it.)
10. Thế giới tiểu thuyết
là một thế giới độc lập, sống động trong trí tưởng tượng của tác giả và tuân
theo các quy tắc của nghệ thuật, của văn học. Và đó là sự khác biệt lớn được phản
ánh trong hình thức của tác phẩm, trong ngôn ngữ và cốt truyện của nó. Một tác
giả sáng tạo ra mọi khía cạnh của một tác phẩm hư cấu, mọi chi tiết. (The world of fiction is a sovereign world
that comes to life in the author's head and follows the rules of art, of
literature. And that is the major difference that is reflected in the form of
the work, in its language and its plot. An author invents every aspect of a
fiction, every detail.)
11. Bạn chỉ ngồi đó và
chịu đựng, giống như cách người ta chịu đựng mọi thứ ở đất nước này. Mọi sự lừa
dối, mọi lời nói dối, mọi viên đạn găm vào não. Cũng giống như bạn đã chịu đựng
những viên đạn găm vào não mà chỉ được thực thi sau khi viên đạn đó găm vào não
bạn. (You just sit there and tolerate it,
the same way everything in this country is tolerated. Every deception, every
lie, every bullet in the brains. Just as you are already tolerating bullets in
the brains that will be implemented only after the bullet is put in your
brains.)
12. Người ta không sinh
ra để làm bất cứ điều gì cụ thể, nhưng nếu ta sống đủ lâu, thì cuối cùng ta
không thể tránh khỏi việc trở thành một cái gì đó. (One is not born for anything in particular, but if one manages to stay
alive long enough, then one cannot avoid eventually becoming something.)
13. Những bức tường nhà
tù không thể đặt ra giới hạn cho những chuyến bay của trí tưởng tượng. (the confines of prison walls cannot impose
boundaries on the flights of one’s fantasy.)
14. Người ta không thể bắt
đầu một cuộc sống mới, chỉ có thể tiếp tục cuộc sống cũ. (One cannot start a new life, you can only continue the old one.)
15. Dĩ nhiên, sống cũng
là một cách tự sát: nhược điểm của nó là quá trình này kéo dài khủng khiếp. (Of course, living is another way of killing
oneself: its drawback is that it takes so horribly long.)
16. Tôi coi cuộc đời
mình như nguyên liệu thô cho những cuốn tiểu thuyết của mình: đó là bản chất của
tôi, và nó giải phóng tôi khỏi mọi sự kìm hãm. (I look on my life as raw material for my novels: that's just the way I
am, and it frees me from any inhibitions.)
17. Tôi phát ốm vì những
hành động tàn bạo, mặc dù giờ đây chúng đã trở thành trật tự tự nhiên của thế
giới chúng ta. Và tôi vẫn muốn hành động! (I
am sick of atrocities, though these are now the natural order of our world. And
I would still like to act!)
18. Nếu tự do thực sự tồn
tại, thì số phận không hề có. (If there
is such a thing as freedom, then there is no fate.)
19. Cuộc sống hiện đại
được tổ chức sao cho bạn được hưởng lợi trên sự thiệt hại của người khác, và ví
dụ cực đoan nhất về điều đó chính là trại tập trung. (Modern life is organised so that you benefit at the expense of the
other, and the most extreme example of that is a camp.)
20. Trong một nền dân chủ,
bạn phải tìm ra một thị trường ngách, đảm bảo một cuốn tiểu thuyết phải
"thú vị" và "ấn tượng". Đó có thể là sự kiểm duyệt khắc
nghiệt nhất. (In a democracy, you have to
find a market niche, make sure a novel is 'interesting' and 'spectacular.' That
may be the toughest censorship of all.)
21. Nếu tự do thực sự tồn
tại, thì số phận không hề có. (If there
is such a thing as freedom, then there is no fate.)
22. Tôi
coi cuộc đời mình như nguyên liệu thô cho những cuốn tiểu thuyết: đó là bản chất
của tôi, và nó giải phóng tôi khỏi mọi sự kìm hãm. (I look on my life as raw material for my novels: that's just the way I
am, and it frees me from any inhibitions.)
23. Phi tồn tại. Xã hội
của những thứ phi tồn tại. Hôm qua trên đường phố, một người phi tồn tại đã giẫm
lên chân tôi bằng chính bàn chân phi tồn tại của anh ta. (Nonexistence. The society of the nonexistent. In the street yesterday
a nonexistent person trod on my foot with his nonexistent foot.)
24. Khi chúng ta vượt
qua một bước, và khi chúng ta nhận ra nó đã ở phía sau, bước tiếp theo đã hiện
ra trước mắt. Đến khi chúng ta học được mọi thứ, chúng ta dần dần hiểu ra. Và
trong khi bạn dần dần hiểu mọi thứ, bạn không hề nhàn rỗi: bạn đã bắt tay vào
công việc mới; bạn sống, bạn hành động, bạn di chuyển, bạn đáp ứng những yêu cầu
mới của mỗi bước phát triển mới. Mặt khác, nếu không có kế hoạch, không có sự
khai sáng dần dần, nếu tất cả kiến thức ập đến cùng một lúc ngay tại một điểm,
thì có thể cả bộ não lẫn trái tim bạn đều không thể chịu đựng được. (As we pass one step, and as we recognize it
as being behind us, the next one already rises up before us. By the time we
learn everything, we slowly come to understand it. And while you come to
understand everything gradually, you don't remain idle at any moment: you are
already attending to your new business; you live, you act, you move, you
fulfill the new requirements of every new step of development. If, on the other
hand, there were no schedule, no gradual enlightenment, if all the knowledge descended
on you at once right there in one spot, then it's possible neither your brains
nor your heart could bear it.)
25. Tôi đọc ở đâu đó rằng,
khi Chúa còn tồn tại, người ta duy trì đối thoại với Chúa, và giờ đây khi Ngài
không còn tồn tại nữa, tôi đoán người ta phải duy trì đối thoại với người khác,
hoặc, tốt hơn hết là với chính mình, nghĩa là, người ta nói chuyện hoặc lẩm bẩm
với chính mình. (I read somewhere; while God
still existed one sustained a dialogue with God, and now that He no longer
exists one has to sustain a dialogue with other people, I guess, or, better
still, with oneself, that is to say, one talks or mumbles to oneself.)
26. Phương Tây nói chung
nên bảo vệ các giá trị của chính mình nhiều hơn. Thỏa hiệp không phải lúc nào
cũng đáng giá. (The West in general
should stand up more for its own values. It is not always worthwhile to
compromise.)
27. Kurti đã tin vào
chính trị, và chính trị đã lừa dối anh ta, giống như chính trị lừa dối mọi người.
(Kurti had believed in politics, and
politics had deceived him, the way politics deceives everyone.)
28. Các nhà văn đôi khi
tự đẩy mình vào vực sâu tuyệt vọng nhất để chế ngự nó và bước tiếp. (Writers sometimes cast themselves into the
most profound depths of despair in order to master it and move on.)
29. Phương tiện biểu đạt
thực sự của một người chính là cuộc sống của người đó. Sống trong nỗi hổ thẹn của
cuộc đời và giữ im lặng, đó mới là thành tựu vĩ đại nhất. (A person’s true means of expression is his life. Living the shame of
life and maintaining silence, that was the greatest accomplishment of all.)
30. Tôi tin vào việc viết
lách — không gì khác; chỉ là viết lách. Con người có thể sống như một con sâu,
nhưng viết như một vị thần. Đã có thời người ta biết bí mật đó, nhưng giờ nó đã
bị lãng quên; thế giới được tạo thành từ những mảnh vụn tan rã, một mớ hỗn độn
đen tối không mạch lạc, chỉ được duy trì bởi việc viết lách mà thôi. (I believe in writing — nothing else; just
writing. Man may live like a worm, but he writes like a god. There was a time when
that secret was known, but now it has been forgotten; the world is composed of
disintegrating fragments, an incoherent dark chaos, sustained by writing
alone.)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét