23/10/26

4.036. ĐƯỜNG CHÂN TRỜI

         Mộc Nhân



1.

Qua cửa sổ phía trước, tôi nhận ra đường chân trời gồ lên bởi những đống rơm, đụn cỏ, nấm mồ, cột điện, toà nhà… Khái niệm đường chân trời luôn có độ mở từ nơi quan sát nên nó không hề vô tư hay nguyên vẹn. Những mã hoá của nó chứa đựng một nguồn cảm xúc gần như vô tận – vô tận như chính nó, bị chôn sâu bên dưới, bồng bềnh phía trên, mở rộng biên độ và thu hẹp lại trong một góc nhìn.

4.035. TÌNH YÊU CŨNG TƯƠNG TỰ NHƯ VẬY

 Mộc Nhân 


1.

Một buổi sáng nào đó, bạn sẽ nhận ra mình đang đẽo gọt tâm trí khi ngồi nhìn những cánh đồng hoan hỉ màu mới của cỏ dại. 

Mùa thu nơi đây tuy không rõ nét lắm nhưng nó vẫn là thu - là một kiểu thời tiết của tâm trí.

22/10/26

4.034. SÁCH ISAIAH, PHẦN I - Anne Carson

 Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác Book of Isaiah (2), Part I - by Anne Carson (Trích từ tập Glass, Irony, and God).

 


I.

Ê-sai thức giấc trong cơn giận.

Tiếng chim đen vỗ vào tai - không, đó là cơn giận.

Chúa đã lấp đầy tai Ê-sai bằng những chiếc ngòi.

21/10/26

4.033. CÁO VÀ NHÍM - NHỮNG HUYỀN THOẠI CỦA ANNE CARSON

  Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: Fox and Hedgehog - The Myths of Anne Carson

By Emily Wilson (2)

 


Hãy thể hiện chất Canada. Hãy lập dị. Hãy thất thường. Hãy tạo sự gần gũi. Viết về mẹ bạn. Viết về khao khát. Viết về tổn thương. Viết về nỗi cô đơn. Viết về niềm đau buồn. Viết về thiên nhiên. Viết về cơ thể. Khơi gợi những điều phổ quát. Khoác lên đó màu sắc huyền thoại. Kể chuyện theo lối gián tiếp, lệch hướng. Đừng dùng vần điệu. Đừng dùng niêm luật. Hãy dùng những dòng thơ ngắn. Để lại nhiều khoảng trắng trên trang giấy. Đặt ngôn từ của bạn bên cạnh những nét vẽ run rẩy bằng mực, màu vẽ hoặc nghệ thuật cắt dán.

20/10/26

4.032. NHỮNG CON CỪU LẠC - Anne Carson

Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác MISSING SHEEP- by Anne Carson (2)

 


Trời lạnh và tối; chúng tôi nhanh chóng đến nơi. Tôi ghét tiệc tùng. Bà của em đứng trong bếp, trông như một nhân vật bước ra từ thần thoại, hai tay khoanh trước chiếc tạp dề. Em bảo mình cần phải đi giao lưu. Lát sau, em bước lại chỗ tôi đang ngồi trên bậc cầu thang. Trông em thật hạnh phúc. Em kể cho tôi nghe về những dự định mới: tập luyện để biểu diễn trên sân khấu hòa nhạc, những buổi thử giọng cam go, và đi du lịch khắp thế giới. 

4.031. GIỮA CHÚNG TA VÀ - Anne Carson

 Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: “Between us and” – by Anne Carson (2)

 


Giữa chúng ta và loài vật

là một khoảng trống không tên.

Chúng ta loay hoay tìm kiếm

những cái tên chung chung –

19/10/26

4.030. CHỦ NGHĨA TỐI GIẢN ĐẦY SỨC HÚT CỦA Anne Carson

   Mộc Nhân dịch (*)

Nguyên tác: Anne Carson’s Ecstatic Minimalism

Bài viết của Merve Emre  - là cây bút cộng tác của The New Yorker, đồng thời là Giáo sư chuyên ngành Viết sáng tạo và Phê bình tại Đại học Wesleyan.


18/10/26

4.029. LỜI BẠT VỀ MỘT SỰ KIỆN TRÌNH DIỄN THƠ ANNE CARSON

    Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: Afterwords//Anne Carson for Seattle Arts & Lectures – by Jack Chelgren (2)




Vào thứ Ba, ngày 13 tháng 5/ 2014 tại Town Hall, Anne Carson cùng các cộng sự có buổi trình diễn nghệ thuật. Bài viết sau đây của Jack Chelgren thể hiện góc nhìn về thơ Anne Carson.

4.028. ESSAY ON WHAT I THINK ABOUT MOST – by Anne Carson

 LUẬN VỀ ĐIỀU TÔI SUY TƯ NHIỀU NHẤT

Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: “Essay on What I Think About Most” – by Anne Carson (2)



 

Lỗi sai.

Và những cảm xúc kèm theo.

Ngấp nghé bên mép lỗi sai là nỗi sợ hãi.

Tâm điểm lỗi sai là sự dại dột và thất bại.

Nhận ra mình đã mắc lỗi mang theo hổ thẹn và ân hận.

Hay là không?

4.027. BÀN VỀ BÀI THƠ: “LUẬN VỀ ĐIỀU TÔI SUY TƯ NHIỀU NHẤT” - by Anne Carson

 Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: Anne Carson, “Essay on What I Think About Most”- by Huck Gutman, from “Poetry Letters” (2)


***

Chúng tôi tham dự khá nhiều buổi đọc thơ; có buổi hay, nhưng cũng có buổi chưa thực sự ấn tượng. Một trong những buổi đọc thơ thu hút đông đảo khán giả nhất - diễn ra tại phòng khiêu vũ rộng lớn của khách sạn - là buổi đọc của nữ nhà thơ người Canada, Anne Carson. Tôi đã hoàn toàn bị cuốn hút và mê hoặc.

17/10/26

4.026. SHORT TALKS – INTRODUTION by Anne Carson

   Mộc Nhân dịch (1)

Đây là lời mở đầu (Introduction) cho tập Short Talks (1992) của Anne Carson. Có thể xem nó là "Tuyên ngôn nghệ thuật" (poetic manifesto) của Carson, nơi bà phác thảo nên toàn bộ triết lý về ngôn ngữ, tính tự sự và khát khao giải phóng cấu trúc thi ca khỏi sự nhàm chán. (2)



12/10/26

4.025. ĐỌC GÌ Ở ANNE CARSON?

   Mộc Nhân dịch

Nguyên tác: What to read Anne Carson - by Anders Olsson (*)

Bạn tò mò về Anne Carson – người đoạt giải Nobel Văn học năm 2026 – nhưng chưa biết nên bắt đầu với tác phẩm nào của bà? Dưới đây là những gợi ý từ Anders Olsson, Chủ tịch Ủy ban Nobel thuộc Viện Hàn lâm Thụy Điển.



11/10/26

4.024. SHORT TALKS BY ANNE CARSON

NHỮNG SHORT TALK CỦA ANNE CARSON (Tiểu luận)


Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác “Short Talks by Anne Carson” – an essay by Iris Dunkle (2)

Điều gì ở thơ ca của Anne Carson lại khơi mở tâm hồn ta? Điều gì thôi thúc ta, với tư cách là độc giả, phải lên tiếng hồi đáp? Lần đầu tiên tôi đọc tác phẩm của Anne Carson lúc 22 tuổi và đang cuống cuồng trốn chạy khỏi những kích thích dồn dập của thành phố New York để dành cuối tuần trên chuyến xe buýt Greyhound màu bạc hướng về Pennsylvania.

10/10/26

4.023. O SMALL SAD ECSTASY OF LOVE - Anne Carson

NIỀM MÊ ĐẮM NHỎ BÉ VÀ BUỒN BÃ CỦA TÌNH YÊU

Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: O SMALL SAD ECSTASY OF LOVE - by Anne Carson

 


Anh muốn được ở bên em trọn đêm dài – không ngủ

Thật may mắn làm sao, anh đang ở nơi này.

Anh đến theo những vì sao!

Bởi em đã thực hiện một chuyến hành trình

khắp tâm trí và trái tim anh.

9/10/26

4.022. SHORT TALKS - Anne Carson

 


Ra mắt lần đầu vào năm 1992, SHORT TALKS là tập thơ đầu tiên và duy nhất của Anne Carson được xuất bản tại Canada. Tác phẩm đã đánh dấu sự xuất hiện của một giọng văn mới đầy sâu sắc, mang âm hưởng bi ai nhưng cũng đầy sắc sảo, châm biếm. SHORT TALKS hoàn toàn xứng đáng đứng ngang hàng với những tác phẩm bán chạy và từng đoạt giải thưởng khác của Carson.

4.021. ANNE CARSON - Nobel Văn học 2026

           Mộc Nhân dịch (*)


Vào lúc 13.00 giờ CEST tức 18.00 giờ Đông Dương, Giải Nobel Văn học năm 2026 đã được Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển trao cho nhà văn người Canada, Anne Carson "vì những tác phẩm táo bạo và đầy sáng tạo, nơi bà đối thoại đầy ngẫu hứng với truyền thống cổ điển để kiến ​​tạo nên những hình thức mới cho văn học đương đại." (for her bold and inventive oeuvre that, in playful dialogue with the classical tradition, has created new forms for contemporary literature.)

7/10/26

4.020. MẠC NGÔN – Quotes (2)

 


Quản Mạc Nghiệp - được biết đến nhiều hơn với bút danh Mạc Ngôn - là một tiểu thuyết gia và nhà văn viết truyện ngắn người Trung Quốc. Donald Morrison từ tạp chí tin tức TIME của Mỹ đã gọi ông là "một trong những nhà văn Trung Quốc nổi tiếng nhất, thường xuyên bị cấm đoán và bị sao chép lậu nhiều nhất", còn Jim Leach thì ví ông như Franz Kafka hay Joseph Heller của Trung Quốc. Năm 2012, ông được trao giải Nobel Văn học. Dưới đây là các trích dẫn trong một số tác phẩm của ông.

4.019. MẠC NGÔN – Quotes 1

 Mộc Nhân - biên dịch từ nhiều nguồn 

(Một số câu trích trong các tác phẩm của Mạc Ngôn)


1. “Cuối cùng, nàng ngẫm nghĩ rằng kiếp người cũng ngắn ngủi tựa như cỏ mùa thu, vậy thì có gì phải sợ hãi khi dám đánh cược cả mạng sống của mình?” (Finally, she mused that human existence is as brief as the life of autumn grass, so what was there to fear from taking chances with your life?) - Red Sorghum.

4.018. ĐẤT TÌNH NHÂN

Lê Đức Thịnh 
             Tặng Nam Giang                                                                                    

1.

Đến với em thuở ngu ngơ vào đời, yêu em mà chẳng bận tâm, tình ngày khó như hoa trong kẽ đá mùa mưa khan nắng rát.

Em cho tôi tình hồn nhiên - cỏ lau ven sông Bung bấu víu bến bờ ngày nước dữ. Tôi trao em tình tả tơi, cánh hoa gạo bên góc sân vắng trường Z’ Nông trưa im bóng.

5/10/26

4.017. KHI ĐỒNG LÚA GẶT XONG

        Mộc Nhân



1.

Cánh đồng đã thu hoạch xong, lộ ra những lớp lá cũ dưới chân rạ và rơm mới rải rác che chở lối mòn dẫn đến hang chuột - như mê cung.

Ánh nắng ban ngày phả hơi nóng còn lại của mùa hè lên bụi nấm rơm già khiến chúng héo rũ, co quắp lại; nhưng về đêm lại mở ra và lớn thêm một chút. Trông chúng như những món đồ bằng vải vụn màu xám bị ai đó bỏ lại khi làm cỏ lúa, giờ đã mốc cũ.

4.016. KHÚC THÁNG CHÍN

           Mộc Nhân


Màn đêm buông xuống thị trấn. Cơn mưa lớn cả ngày làm con đường thành một dải sáng dài lung linh. Những quán hàng sớm đóng cửa, vài ánh đèn cửa hiệu đang chờ người cuối cùng.

4/10/26

4.015. DỰ ĐOÁN NOBEL VĂN HỌC 2026

 Mộc Nhân


 

Việc dự báo giải Nobel Văn học luôn là một "trò chơi ẩn số" đầy thú vị bởi tiêu chí đánh giá phức tạp của Viện Hàn lâm Thụy Điển xoay quanh các trục chính: Sự cân bằng giữa giá trị thẩm mỹ cá nhân, sự cách tân ngôn ngữ, tính phổ quát hiện sinh, cũng như sự luân phiên về khu vực địa lý, thể loại và ngôn ngữ sáng tác.

4.014. PHỎNG VẤN MẠC NGÔN

    Mộc Nhân dịch

Cuộc phỏng vấn này do YuSie Rundkvist Chou thực hiện bằng tiếng Trung vào ngày 6/ 12/ 2012 và được công ty Svensk Medietext AB chuyển thành văn bản tiếng Anh. (*)

3/10/26

4.013. MẠC NGÔN – Diễn từ Nobel VH 2012

 


Năm 2012, Mo Yan - Mạc Ngôn (1956) - Tiểu thuyết gia Trung Quốc, được trao giải Nobel Văn học “người đã kết hợp truyện dân gian, lịch sử và hiện thực đương đại bằng chủ nghĩa hiện thực ảo giác” (who with hallucinatory realism merges folk tales, history and the contemporary). Mạc Ngôn đã trình bày bài diễn từ nhận giải Nobel VH của mình vào ngày 7 tháng 12 năm 2012 tại Viện Hàn lâm Thụy Điển, Stockholm. Bài diễn từ này Những người kể chuyện (Storytellers).

30/9/26

4.012. HAI CÂU CHUYỆN CỦA MẠC NGÔN

 


Hai câu chuyện dưới đây là hai ngụ ngôn hiện sinh và đạo đức sâu sắc được trích từ diễn văn nhận giải Nobel Văn học của nhà văn Mạc Ngôn (Mo Yan). Khi đặt hai câu chuyện cạnh nhau dưới tư cách của một "người kể chuyện", ông đã gửi gắm những thông điệp triết học đa tầng về bản chất con người, nghệ thuật và thi ca.

28/9/26

4.011. KÝ ỨC VỀ MẸ - Trần Đình Việt

 

Khi đọc file mềm bản sách Ai đã giữ tôi ở lại giữa trần đời? của Trần Đình Việt, tôi liên tưởng đến câu thơ của Louise Glück – nhà thơ Mỹ, Nobel Văn học 2020, trong bài A Slip of Paper: “To get born, your body makes a pact with death…” (Để được sinh ra, hình hài của bạn đã lập một thỏa ước với cái chết…). 

4.010. LÝ THÁI BẠCH - ĐỜI VÀ ĐẠO

 

  Hôm nay ngày 18 tháng 8 âm lịch, trong Cao Đài Đại Đạo, là ngày vía Đức Lý Thái Bạch (thi hào Lý Bạch đời Đường) còn gọ là Lý Giáo Tông, Lý Đại Tiên, Lý Trích Tiên… Ngài là một vị Đại Tiên tối cao, giữ ngôi vị Nhất Trấn Oai Nghiêm và kiêm nhiệm chức Giáo Tông Vô Vi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

27/9/26

4.009. NHỮNG CÂU TRÍCH VỀ TUỔI GIÀ

 

Câu trích là các mảnh ghép nhỏ của những ý tưởng lớn lao, giúp thúc đẩy chúng ta vận động nhiều hơn, truyền cảm hứng để ta cống hiến cho cộng đồng, và thậm chí còn khiến ta bật cười sảng khoái. Trong một thế giới mà từ "lão hóa" (ageing) thường đi kèm với tiền tố "chống" (anti), thì những câu trích dẫn mang lại góc nhìn tích cực về quá trình già đi - một điều hoàn toàn tự nhiên - lại trở nên vô cùng quý giá.

4.008. KÝ ỨC LỊCH

        Mộc Nhân



1.

Mưa rơi làm ướt ánh chiều. Bên chiếc bếp than, bà tôi đọc những dòng chữ trên tờ lịch, giấu đi nỗi nhớ nào đó trong tiếng mưa đang gõ nhịp trên mái lá.

Tôi nghĩ bà tin vào những dự báo hay lời khuyên trên tờ lịch ấy: Giờ hoàng đạo: Tý – Sửu – Thìn – Tỵ… Thu phân lúc 07g06 phút. Hôm nay kiêng đi xa, khai trương. Nên làm: sửa mộ, thăm viếng…

24/9/26

4.007. QUOTES - by Tomas Tranströmer

 


Một số câu thơ của Tomas Tranströmer có thể đứng độc lập thành một diễn ngôn triết lý, tâm lý, cảm xúc với nội hàm sâu sắc. Tôi tuyển chọn/ dịch những câu như thế, trong các tác phẩm của ông, lấy từ nhiều nguồn để bạn đọc có thể cảm thấu bề sâu trong thơ Tomas Tranströmer…


1. “Mỗi con người là một cánh cửa hé mở/ dẫn vào căn phòng dành cho tất cả mọi người.” (Every person is a half-opened door/ leading to a room for everyone.)

4.006. THƠ HAIKU - Tomas Tranströmer

 


Thơ Haiku, với đặc trưng là sự súc tích ấn tượng, thể hiện tinh thần thẩm mỹ tối giản được nhiều nhà thơ hiện đại ưa chuộng. Mỗi bài thơ Haiku của Tomas Tranströmer được xếp thành bốn đoạn/ bài, mỗi đoạn đều nắm bắt trọn vẹn tinh thần cô đọng của thể loại này và có thể xem như một bài thơ độc lập.

23/9/26

4.005. KHOẢNH KHẮC TÂY GIANG

        Mộc Nhân



1.

Khi nhịp điệu đô thị đã bào mòn những ký ức xứ núi, tôi lại tìm về với đại ngàn, nơi mỗi vách đá, dốc đèo, thảm rừng đều thì thầm những lời xa xưa mà không bao giờ cũ. Nó không đơn thuần là một chuyến đi mà là cuộc hành trình với cội nguồn cảm xúc.

22/9/26

4.004. NHÀ VĂN TRẺ - Những câu trích

 Mộc Nhân tuyển dịch từ nhiều nguồn (*)



1. “Tương lai của chúng ta phụ thuộc vào những câu chuyện. Khi thế giới không ngừng tiến bước, văn học mang lại cho chúng ta điểm tựa vững chắc - gắn kết ta với bản chất con người, trí tưởng tượng và sự khai sáng.” (Our future depends on stories. As the world advances, literature has the ability to ground us—in our humanness, our imaginations, and our enlightenment.)

21/9/26

4.003. KHI NHÀ THƠ QUA ĐỜI

Mộc Nhân    



Cho những người anh, người bạn thơ của tôi...
khi cái chết kết thúc một cuộc sống,
chứ không kết thúc một danh tính hay mối quan hệ...

4.002. ĐÔI KHI LÀ VẬY - Mai Hữu Phước

 


Đôi khi là vậy/ 때로는 그런 것 – tập thơ song ngữ Việt – Hàn, của Mai Hữu Phước là một tác phẩm có duyên trong xuất bản và phát hành bởi nó ra đơi đúng “điểm rơi” trong tuần lễ giao lưu văn hoá Việt – Hàn tổ chức tại Đà Nẵng. Bạn đọc ghi nhận đây là tuyển thơ song ngữ có giá trị về nội dung tư tưởng, nghệ thuật biểu đạt và ý nghĩa giao lưu văn hóa. 

4.001. HIMALAYA TĨNH LẶNG

 

  Bài thơ dưới đây có tựa Himalaya Silence (Himalaya Tĩnh lặng) của tác giả Barbara Gramza người Ba Lan, như một lời tưởng niệm gửi tới tất cả những sinh linh đã thiệt mạng, cũng như các gia đình và cộng đồng đang gánh chịu nỗi đau mất mát trong thảm họa lũ băng tại Nepal, cuối tháng 8/2026 - nơi bi kịch để lại vết sẹo mà thời gian chẳng thể xóa nhòa.

17/9/26

4.000. BUỔI SÁNG ĐÔ TRƯỞNG

 Mộc Nhân - Cho bài viết số 4.000


1.

Buổi sáng, thị trấn thu mình bên góc phố, đêm qua cơn mưa rải hơi ẩm xuống mặt đường. Mùa chuyển từ mây sang phía núi - nhẹ như giai điệu không lời trong bản hoà âm giản dị - với cung đô trưởng.

16/9/26

3.999. VỀ DỊCH THƠ VÀ THƠ TOMAS TRANSTRÖMER

 Mộc Nhân biên dịch từ nhiều nguồn 


Cũng như bao nhà thơ vĩ đại đi trước, Tranströmer luôn nhắc nhở chúng ta rằng thế giới không phải lúc nào cũng như vẻ bề ngoài của nó; rằng nếu biết sống tỉnh thức và quan sát thật kỹ, ta có thể thoáng thấy một điều gì đó thật bao la và kỳ lạ. (Like so many great poets before him, Tranströmer is forever reminding us that the world is not what it appears to be; that with mindfulness and close attention, you might get a glimpse of something vast and strange.) - John Freeman.

3.998. ADAGIO - Franz Schubert

   


    Adagio là tên của một chương trong tác phẩm Ngũ tấu đàn dây cung Đô trưởng của Franz Schubert. Đây là tác phẩm khí nhạc thính phòng cuối cùng, được coi là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của thể loại nhạc thính phòng do Schubert sáng tác. Tác phẩm từ lâu đã được xem là hiện thân của sự chấp nhận và thanh thản khi đối diện với thời khắc cuối đời.

14/9/26

3.997. SCHUBERTIANA - Tomas Tranströmer

 


Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert

  Schubertiana nằm trong tập thơ Những rào cản sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, là một trong những đỉnh cao xuất sắc nhất của thơ ông, khám phá vai trò của âm nhạc như một liều thuốc giải cho sự chia cắt, manh mún vốn là đặc trưng của đời sống đương đại. Năm phần của bài thơ đề cập đến nhiều hình ảnh khác biệt nhưng vẫn gắn kết với nhau nhờ cùng hướng về một chủ đề trung tâm: tinh thần âm nhạc của Schubert. 

3.996. NOVEMBER IN THE FORMER DDR - Tomas Tranströmer

 


Bài thơ "November in the Former DDR" (Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ) của Tomas Tranströmer được viết sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1990 và Nước Đức thống nhất. Đây là một chiêm nghiệm hiện sinh lẫn lịch sử vô cùng đặc sắc về sự sụp đổ của một chế độ toàn trị tồn tại từ 1949 - 1990 và vết thương tâm lý còn sót lại. Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ đánh dấu thời khắc giao thời khi cái bóng bóng ma của chế độ độc tài tan biến. (1)

3.995. THE BLUE WIND-FLOWERS - Tomas Tranströmer

 


Thơ của Tranströmer, kế thừa các trào lưu Hiện đại, Biểu hiện và Siêu thực (Modernism, Expressionism, and Surrealism), chứa đựng những hình ảnh đầy sức gợi, xoay quanh các vấn đề về sự phân mảnh và nỗi cô độc. "Ông đã hoàn thiện một thể loại thơ trữ tình mang tính khai sáng (epiphanic lyric) đặc trưng, trong đó thiên nhiên đóng vai trò chủ thể năng động, tràn đầy sinh lực, còn cái tôi (nếu có) lại đóng vai trò là đối tượng," - Katie Peterson: "Thơ của Tranströmer hình dung về những không gian mà chiều sâu tâm thức sẽ ngự trị, tựa như dòng nước ngầm phun trào vào một cái giếng mới đào."

11/9/26

3.994. SLOW MUSIC - Tomas Tranströmer

      

    Slow Music nằm trong tập thơ Bells and Tracks (1966) của Tomas Tranströmer. Đây là một trong những bài thơ tinh tế và thanh khiết, nơi thiên nhiên, âm nhạc và tâm thức con người hòa làm một. (1)

10/9/26

3.993. GONDOLA BUỒN - Tomas Tranströmer, 1996.


Những chiếc thuyền Gondola truyền thống của Venice

    The Sad Gondola (tiếng Thụy Điển: Den sorgsna gondolen – Gondola Buồn) nằm trong tập thơ cùng tên của Tomas Tranströmer, xuất bản năm 1996. Tác phẩm lấy cảm hứng từ chuyến viếng thăm của nhà soạn nhạc người Đức vĩ đại Richard Wagner và con rể của ông là Franz Liszt tại Venice vào cuối năm 1882, ngay trước khi Wagner qua đời vào đầu năm 1883. Tiêu đề bài thơ cũng được đặt theo hai tác phẩm piano cuối đời của Liszt mang tên La lugubre gondola.