Mộc Nhân
1.
Đêm tháng Bảy trời nóng nực, muốn phát điên.
Tôi mắc kẹt trong một đợt nắng nóng nhiệt đới, với từng đợt gió foehn thổi rát mặt từ ban trưa cho đến tận khuya.
Mộc Nhân
1.
Đêm tháng Bảy trời nóng nực, muốn phát điên.
Tôi mắc kẹt trong một đợt nắng nóng nhiệt đới, với từng đợt gió foehn thổi rát mặt từ ban trưa cho đến tận khuya.
Một số câu trích của Orhan Pamuk - nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, Nobel Văn học 2006, lấy từ tác phẩm "Istanbul: Memories and the City" (Istanbul: Ký ức và Thành phố) của ông.
***
1. Hội họa là sự tĩnh lặng của tư tưởng và âm nhạc của thị giác. (Painting is the silence of thought and the music of sight.)
Năm 2006, Orhan Pamuk (1952 -), tiểu thuyết gia người Thổ Nhĩ Kỳ, được trao giải Nobel Văn học vì “người trong hành trình tìm kiếm tâm hồn u sầu của thành phố quê hương mình đã khám phá ra những biểu tượng mới cho sự xung đột và đan xen của các nền văn hóa” (who in the quest for the melancholic soul of his native city has discovered new symbols for the clash and interlacing of cultures).
Mộc Nhân dịch (*)
Harold Pinter, nhà văn Anh, đoạt giải Nobel Văn học 2005. Danh tiếng của ông được xây dựng dựa trên các tác phẩm kịch, nhưng vào cuối đời, Harold Pinter lại liên tục quay trở lại với thơ ca - một phương tiện trong sáng và rõ ràng hơn để thể hiện sự phẫn nộ chính trị ngày càng tăng của mình.
Mộc Nhân dịch (1)
Đừng nhìn.
Thế giới sắp sụp đổ.
Đừng nhìn.
Thế giới sắp vứt bỏ hết ánh sáng
Và nhét chúng ta vào hố thẳm tối tăm
NƠI NÀY
Mộc Nhân dịch (1)
Từ nguyên tác: It Is Here - by Harold Pinter
Âm thanh gì vậy?
Tôi quay lại, căn phòng đang rung chuyển.
Âm thanh gì vọng vào bóng tối?
Harold Pinter, kịch tác gia người Anh - Nobel Văn học 2005 - ra mắt với tư cách nhà viết kịch vào năm 1957 với vở: The Room, được trình diễn tại Bristol. Những vở kịch đầu tiên khác bao gồm The Birthday Party (1957), sau này trở thành một trong những vở kịch được trình diễn nhiều nhất của ông, và The Dumb Waiter (1957). Bước đột phá thực sự của ông đến với The Caretaker (1959), tiếp theo là The Homecoming (1964) và các vở kịch khác... Dưới đây là một số câu trích từ các tác phẩm của ông.
Năm 2005, Harold Pinter (1930 - 2008) - Nhà viết kịch và đạo diễn sân khấu người Anh, được trao giải Nobel Văn học vì “trong các vở kịch của mình đã vạch trần vực thẳm dưới những lời nói chuyện phiếm hàng ngày và buộc phải bước vào những căn phòng khép kín của sự áp bức” (who in his plays uncovers the precipice under everyday prattle and forces entry into oppression's closed rooms).
Đây là một trong những bài thơ chính luận - trữ tình chấn động và mạnh mẽ nhất của thi hào Pablo Neruda, trích từ tập thơ Tây Ban Nha trong trái tim (España en el corazón), viết trong bối cảnh cuộc Nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ (1936).
Mộc Nhân
Những nhà văn trẻ thường mắc lỗi giả tạo về cảm xúc. Họ bắt đầu công việc một cách nghiêm túc, nhưng rồi lại vượt quá giới hạn của cảm xúc thật, tô điểm những trải nghiệm khó nhọc mới có được bằng những ý tưởng vay mượn với hy vọng tăng cường tác động, nhưng thực chất lại làm giảm đi hiệu quả.
Mộc Nhân
Giới thiệu tập truyên ngắn "Cây đa trên sân đình cũ" - Nguyễn Vĩnh, Nxb Hội Nhà Văn 2025
Tôi lại có duyên đọc bản thảo tập truyện ngắn thứ hai/ tác phẩm văn học thứ tư của Nguyễn Vĩnh - “Cây đa trên sân đình cũ”. Tôi cố gắng đọc chậm, lưu giữ, ghi chú chi tiết về các nhân vật, mốc thời gian, những chuyển biến dời đổi của sự kiện… bởi ký ức và trải nghiệm đời sống của anh – một người lính – khác hẳn với tôi, với chúng ta, nhất là ở giai đoạn đất nước còn chiến tranh.
Mộc Nhân phỏng dịch (1)
Nguyên tác: Ashes of Roses - by Elaine
Mềm mại trên bầu trời
Ánh hoàng hôn khép lại
Sắc màu vương vấn mãi
Trong tàn tro hoa hồng.
Mộc Nhân dịch (1)
CoBrA là một phong trào nghệ thuật tiên phong quốc tế, hoạt động từ năm 1948 đến 1951. Tên gọi này được ghép từ chữ cái đầu của các thành phố quê hương các nghệ sĩ sáng lập: Copenhagen, Brussels và Amsterdam. Phong trào này nhằm phản ứng lại sự tàn phá và các tiêu chuẩn nghệ thuật cũ sau Thế chiến thứ hai. Đặc trưng nghệ thuật của nó là chịu ảnh hưởng của trường phái nguyên thủy, nghệ thuật dân gian và tranh vẽ của trẻ em.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: The Special Rose - by Jim Cunningham
Bông hồng đặc biệt vẫn đang chờ
Dù nàng sẽ không bao giờ đến
Cái chết có gì đâu, là định mệnh
Mong trái tim bạn sẽ bình an.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: Pink Roses - by Gert Strydom
Có những đoá hồng
phía sau hàng rào dây thép gai,
nhiều cánh đã bung nở
và một số vẫn còn e ấp.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: Tonight - by Elfriede Jelinek
Bản dịch sang tiếng Anh bởi Michael Hofmann
Đêm nay
Những chú chim sẻ của tôi
thả tuyết
vào cánh đồng hoa cẩm chướng căng tràn giận dữ.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: I Showed Up with a Rose - by
Patrick White
Tôi mang đến một bông hồng và em nói
màu này không hợp.
Tôi đến với cái đầu đặt trên đĩa bạc
và em hỏi khi đang nhảy với người khác
tôi chôn trái tim mình nơi đâu
Năm 2004, Elfriede Jelinek (1946 -) – Nữ tiểu thuyết gia, nhà viết
kịch người Áo, được trao giải Nobel Văn học “vì dòng chảy âm nhạc của các giọng
nói và phản giọng nói trong tiểu thuyết và kịch, với sự nhiệt huyết ngôn ngữ
phi thường, đã phơi bày sự phi lý của những định kiến xã hội và sức mạnh áp bức
của chúng” (for her musical flow of
voices and counter-voices in novels and plays that with extraordinary
linguistic zeal reveal the absurdity of society's clichés and their subjugating
power).
Một số câu trích về đề tài Báo chí
1. Một nhà thơ nên ‘thuộc về thời đại của mình’. Tôi nói rằng những sản phẩm của Thời đại Kỹ thuật số thuộc về báo chí, chứ không phải văn học. (A poet should be 'of his time.' I say objects of the Digital Age belong in newspapers, not literature.) - Roman Payne.
Tôi tự hỏi liệu định kiến có chi phối tự
nhiên…
bao lâu nữa thì tất cả hoa hồng sẽ đỏ?
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: One Perfect Rose - by Dorothy Parker (2)
Bông hoa duy nhất anh tặng tôi –
kể từ khi chúng ta gặp nhau.
Mộc Nhân
1.
Tôi bước đi giữa cuộc đời này với một tâm thế từ chối làm một phần tử ẩn danh trong những danh xưng tập thể vô nghĩa. Tôi không phải là "chúng ta" của bất kỳ ai. Trên hành trình hiện sinh độc đạo ấy, tôi nhận ra một sự thật: thế giới của ngôn từ tạo nên thế giới của vật chất. Chúng ta dùng ngôn từ để định danh, để kiến tạo và cũng để giam cầm chính mình.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: Between the Stone and the Flower – by Octavio Paz
Ban mai nhiễm độc câm lặng
chúng ta thức tỉnh như loài rắn
chúng ta thức tỉnh như bãi đá,
chùm rễ cứng, cơn khát héo hon đôi môi…
Mộc Nhân
Chỉ riêng việc chúng ta được sinh ra trên cõi đời này đã chứa đựng rất nhiều cơ hội. Mọi người đều đến thế giới này do một chuỗi những sự kiện ngẫu nhiên, chỉ vậy thôi. Có kẻ thấy ý tưởng này thật nản lòng vì nó tước đi cái vẻ định mệnh thiêng liêng, nhưng với tôi, sự ngẫu nhiên ấy chính là phép màu khởi đầu cho mọi chuyến lữ hành của bản thể.
Một số câu trích của JM.Coetzee từ các phẩm: Dusklands (Miền tăm tối), In the Heart of the Country (Trong lòng quê xứ), Chờ đợi những kẻ man rợ (Waiting for the Barbarians), Cuộc đời và thời đại của Michael K (With Life and Times of Michael K), Bậc thầy thành Petersburg (The Master of Petersburg), Nỗi ô nhục (Disgrace), Thời thơ ấu (Boyhood).
J. M. Coetzee đã trình bày Bài diễn thuyết nhận giải Nobel tại Viện Hàn lâm Thụy Điển, Stockholm, ngày 7 tháng 12 năm 2003. Bài diễn từ này có tựa Ông ấy và người hầu (He and his man).
Lời dẫn MN: Thay vì đọc một bài phát biểu thông thường, Coetzee đã chọn cách kể một câu chuyện hư cấu đầy ẩn ý (metafiction), mượn lại hai cái tên kinh điển là nhân vật Robinson Crusoe và tác giả Daniel Defoe để suy tư về bản chất của việc đọc, việc viết và mối quan hệ kỳ lạ giữa tác giả và nhân vật.
Năm 2003, John Maxwell Coetzee (sinh năm 1940) - Tiểu thuyết gia, nhà tiểu luận, nhà ngôn ngữ học và dịch giả người Nam Phi và Úc, được trao giải Nobel Văn học “vì đã khắc họa sự tham gia đáng ngạc nhiên của người ngoài cuộc dưới vô số hình thức” (who in innumerable guises portrays the surprising involvement of the outsider).
Dưới đây là bản thông cáo báo chí (Press release) của Viện Hàn lâm Thụy Điển về sự kiện trên. (1)
Mộc Nhân
1.
Có một buổi chiều, tôi ngồi rất lâu trước khung cửa sổ phòng làm việc quen thuộc. Đó là một gian phòng có góc nhìn gần như hoàn hảo ra khoảng không khoáng đạt phía ngoài, nơi vòm cây và mây trời đan cài vào nhau thành một bức tranh tĩnh vật tuyệt mỹ.
Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: Shoulders – by Naomi Shihab Nye
Đây là một bài thơ dung
dị nhưng chứa đựng một sức nặng mênh mông về tình yêu thương và trách nhiệm của
con người. Hình ảnh một người cha cõng đứa con nhỏ ngủ say trên vai đi trong
cơn mưa đã trở thành một biểu tượng tuyệt đẹp về sự chở che, và rộng hơn là
trách nhiệm của con người đối với thế giới này.
Mộc Nhân
Khi còn là đứa trẻ
tôi từng nghe tiếng thở của ngọn gió
trái thời gian rụng xuống
lẫn vào dấu chân trên đồng
Mộc Nhân
1.
Mùa hè luôn bắt đầu bằng một sự thức tỉnh lộng lẫy và choáng ngợp của đất trời. Khi những cơn mưa xuân ẩm ướt lùi xa, vương quốc của ánh sáng chính thức được thiết lập với nắng gắt, nóng nực và mưa dông.
Những trang sách luôn chứa đựng những câu trích dẫn có thể khích lệ tinh thần, thúc đẩy sự thay đổi, hoặc đơn giản là mang đến sự vui vẻ. Chúng đã trường tồn theo thời gian, chứng tỏ sức mạnh truyền cảm hứng và tác động đến độc giả qua nhiều thế hệ; vượt qua mọi ranh giới và mang đến cho mỗi độc giả những suy ngẫm. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà chúng trở nên nổi tiếng, có sức ảnh hưởng và sức lan tỏa lâu dài trong những người yêu văn học.
LTS: "Reader's Bill of Rights" (Tuyên ngôn về quyền độc giả) là một chương vô cùng nổi tiếng trong cuốn sách sư phạm - văn học (năm 1992) của nhà văn Pháp Daniel Pennac (1) có tựa Comme un roman (Như một cuốn tiểu thuyết), bản dịch tiếng Anh với tựa Reads Like a Novel (Đọc như tiểu thuyết) hoặc Hay hơn cả cuộc đời (Better Than Life). Ý nghĩa của bản tuyên ngôn này là giải phóng người đọc khỏi mọi áp lực, định kiến và nghĩa vụ mang tính giáo điều khi đọc sách vô tình giết chết tình yêu văn học thuần khiết của trẻ em và người trưởng thành.
Những câu trích dưới đây lấy từ các tác phẩm của Imre Kertész - Nobel VH 2022: Kinh cầu siêu cho thai nhi (Kaddish for an Unborn Child), Thanh lọc (Liquidation), Truyện trinh thám (Detective Story), Số phận vô định (Fatelessness)...
Mộc Nhân - Tuyển dịch từ nhiều nguồn.
1. Tôi nghĩ một người trở thành nhà văn bằng cách tự biên tập các tác phẩm của mình. (I think a man turns into a writer by editing his own texts.)
Imre Kertész đã trình bày Bài diễn từ nhận giải Nobel (bằng tiếng Hungary) tại Börssalen thuộc Viện Hàn lâm Thụy Điển ở Stockholm, ngày 7 tháng 12 năm 2002. Bài diễn từ này có tựa: “HEUREKA!” (1)
Năm 2002, Imre Kertész (1929 - 2016) - Nhà văn người Hungary gốc Do Thái, sống sót trại tập trung Holocaust, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm đề cao trải nghiệm mong manh của cá nhân trước sự tàn bạo man rợ của lịch sử” (for writing that upholds the fragile experience of the individual against the barbaric arbitrariness of history).
Dưới đây là Thông cáo báo
chí (Press release) của Viện Hàn lâm Thụy Điển về giải Nobel VH 2002
Mộc Nhân
Phần thưởng lớn nhất mà tôi từng biết đối với việc làm cha mẹ chính là niềm vui khi được ở bên cạnh những đứa con đã trưởng thành của mình. Chúng là những người bạn với một chiều sâu tình cảm đặc biệt.
Mộc Nhân – Tuỳ bút
Giờ đây, tôi muốn viết điều gì đó sau nhiều lần đến với những bãi biển - lang thang, thưởng ngoạn, khám phá, vài chuyến đi biển…
Lê Đức Thịnh
![]() |
| Bài đăng trên Tc Sống Đạo - Số Mùa Hạ/ Bính Ngọ (Ra tháng đầu tháng 6/ 2026) |
"Khảo đảo" là một từ Hán Việt cổ, ít xuất hiện trong các văn bản phổ thông, nhưng tồn lưu trong các văn kinh Phật Giáo, Cao Đài Giáo. Ngay cả trong sinh hoạt tôn giáo thường nhật, các vị giảng pháp hoặc chia sẻ nội dung phổ tế cũng ít dùng; nhất là trong phương ngữ Trung trung bộ, khi phát âm “khảo” có thể thành khổ, tạo nên một nét nghĩa mới.