P.3: Giới thiệu tóm tắt các tác giả Nobel Văn học từ 1944 - 1964.
![]() |
| Ivo Andrić - Nam Tư Nobel VH 1961 |
39. Năm 1944, Johannes V. Jensen (1873 - 1950) -Tiểu thuyết gia, nhà thơ Đan Mạch, được trao giải Nobel Văn học: “vì sức mạnh và sự phong phú hiếm có của trí tưởng tượng thơ ca, kết hợp với sự tò mò trí tuệ sâu rộng và phong cách sáng tạo táo bạo, mới mẻ” (for the rare strength and fertility of his poetic imagination with which is combined an intellectual curiosity of wide scope and a bold, freshly creative style).
40. Năm 1945, Gabriela Mistral (1889
- 1957) - Nhà giáo dục, nhà ngoại giao, nhà thơ nữ Chile, được trao giải
Nobel Văn học “vì thơ trữ tình của bà, được truyền cảm hứng từ những cảm xúc mạnh
mẽ, đã khiến tên tuổi bà trở thành biểu tượng cho khát vọng lý tưởng của toàn bộ
thế giới Mỹ Latinh” (for her lyric poetry
which, inspired by powerful emotions, has made her name a symbol of the
idealistic aspirations of the entire Latin American world).
* Bài liên quan đã đăng trên Blog: Thẻ Gabriela Mistral
41. Năm 1946, Hermann Hesse (1877 - 1962) - Nhà thơ, nhà văn và họa
sĩ Đức, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm đầy cảm hứng, ngày càng
táo bạo và sâu sắc, thể hiện lý tưởng nhân đạo cổ điển và phẩm chất văn chương
cao quý” (for his inspired writings
which, while growing in boldness and penetration, exemplify the classical
humanitarian ideals and high qualities of style).
* Bài liên quan đã đăng trên Blog: Thẻ Hermann Hesse
42. Năm 1947, André Gide (1869
– 1951) - Nhà văn Pháp, được trao giải Nobel Văn học: “vì những tác phẩm
toàn diện và có ý nghĩa nghệ thuật, trong đó các vấn đề và hoàn cảnh của con
người được trình bày với tình yêu chân lý không sợ hãi và sự thấu hiểu tâm lý
sâu sắc” (for his comprehensive and artistically
significant writings, in which human problems and conditions have been
presented with a fearless love of truth and keen psychological insight).
43. Năm 1948, T.S. Eliot (1888
– 1965) - Nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học Anh gốc Hoa Kỳ, được
trao giải Nobel Văn học: “vì những đóng góp tiên phong xuất sắc của ông cho thơ
ca đương đại” (for his outstanding,
pioneer contribution to present-day poetry).
* Bài liên quan đã đăng trên Blog:
- 30 nhà văn vĩ đại mọi thời đại
44. Năm 1949, William Faulkner (1897
– 1962) - Nhà văn Mỹ, được trao giải Nobel Văn học: “vì những đóng góp mạnh
mẽ và độc đáo về mặt nghệ thuật của ông cho tiểu thuyết hiện đại Mỹ” (for his powerful and artistically unique
contribution to the modern American novel).
45. Năm 1950, Bertrand Russell (1872
– 1970) - Triết gia, nhà trí thức công chúng Anh, được trao giải Nobel Văn
học “để ghi nhận những tác phẩm đa dạng và quan trọng của ông, trong đó ông đề
cao lý tưởng nhân đạo và tự do tư tưởng” (in
recognition of his varied and significant writings in which he champions
humanitarian ideals and freedom of thought).
46. Năm 1951, Pär Lagerkvist (1891
- 1974) - Nhà văn, nhà thơ Thụy Điển, được trao giải Nobel Văn học “vì sức
sống nghệ thuật và sự độc lập thực sự trong tư tưởng mà ông đã nỗ lực tìm kiếm
câu trả lời cho những câu hỏi muôn thuở mà nhân loại phải đối mặt trong thơ ca
của mình” (for the artistic vigour and
true independence of mind with which he endeavours in his poetry to find
answers to the eternal questions confronting mankind).
47. Năm 1952, François Mauriac (1885
– 1970) - Nhà văn, nhà thơ Pháp, được trao giải Nobel Văn học “vì sự thấu
hiểu tâm linh sâu sắc và cường độ nghệ thuật mà ông đã thể hiện trong các tiểu
thuyết của mình, đi sâu vào bi kịch của cuộc sống con người” (for the deep spiritual insight and the
artistic intensity with which he has in his novels penetrated the drama of
human life).
48. Năm 1953, Winston Churchill (1874
– 1965) - Chính khách, sĩ quan quân đội, nhà văn, Thủ tướng Anh, được trao
giải Nobel Văn học “vì sự thành thạo trong miêu tả lịch sử và tiểu sử cũng như
tài hùng biện xuất sắc trong việc bảo vệ các giá trị nhân văn cao cả” (for his mastery of historical and
biographical description as well as for brilliant oratory in defending exalted
human values).
49. Năm 1954, Ernest Hemingway (1899
–1961) Tiểu thuyết gia Mỹ, được trao giải Nobel Văn học “vì sự thành thạo
nghệ thuật tự sự, được thể hiện gần đây nhất trong tác phẩm Ông già và biển cả,
và vì tầm ảnh hưởng mà ông đã tạo ra Ông đã có ảnh hưởng lớn đến phong cách
đương đại” (for his mastery of the art of
narrative, most recently demonstrated in The Old Man and the Sea, and for the
influence that he has exerted on contemporary style).
50. Năm 1955, Halldór Laxness (1902
– 1998) - Nhà văn Iceland, “vì sức mạnh sử thi sống động đã làm mới nghệ
thuật tự sự vĩ đại của Iceland” (for his
vivid epic power which has renewed the great narrative art of Iceland).
51. Năm 1956, Juan Ramón Jiménez (1881 – 1958) - Nhà thơ Tây Ban Nha, được trao giải Nobel Văn học
“vì thơ trữ tình của ông, trong tiếng Tây Ban Nha là một ví dụ về tinh thần cao
thượng và sự thuần khiết nghệ thuật” (for
his lyrical poetry, which in Spanish language constitutes an example of high
spirit and artistical purity).
52. Năm 1957, Albert Camus (1913 - 1960) - Nhà văn, triết gia, nhà
báo Pháp, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm văn học quan trọng của
ông, với sự nghiêm túc sáng suốt đã soi sáng những vấn đề của lương tâm con người
trong thời đại chúng ta” (for his
important literary production, which with clear-sighted earnestness illuminates
the problems of the human conscience in our times).
* Bài liên quan:
53. Năm 1958, Boris Pasternak (1890
– 1960) - Nhà thơ, tiểu thuyết gia dịch
giả Nga, được trao giải Nobel Văn học “vì thành tựu quan trọng của ông cả trong
thơ trữ tình đương đại và trong lĩnh vực truyền thống sử thi vĩ đại của Nga” (for his important achievement both in
contemporary lyrical poetry and in the field of the great Russian epic
tradition).
* Bài liên quan:
- Tháng Hai. Lấy mực ra và khóc
54. Năm 1959, Salvatore Quasimodo (1901 - 1968) - Nhà thơ Ý, được trao giải Nobel Văn học “vì thơ trữ
tình của ông, thể hiện bằng ngọn lửa cổ điển những trải nghiệm bi thảm của cuộc
sống trong thời đại chúng ta” (for his lyrical
poetry, which with classical fire expresses the tragic experience of life in
our own times).
55. Năm 1960, Saint-John Perse (1887
- 1975) - Nhà thơ Pháp, được trao giải Nobel Văn học “vì sự bay bổng và
hình ảnh gợi cảm trong thơ ca của ông, phản ánh một cách đầy tầm nhìn những điều
kiện của thời đại chúng ta” (for the
soaring flight and the evocative imagery of his poetry which in a visionary
fashion reflects the conditions of our time).
56. Năm 1961, Ivo Andrić (1892
– 1975) - Nhà văn Nam Tư, được trao giải Nobel Văn học “vì sức mạnh sử thi
mà ông đã sử dụng để khắc họa các chủ đề và miêu tả số phận con người dựa trên
lịch sử đất nước ông” (for the epic force
with which he has traced themes and depicted human destinies drawn from the
history of his country).
57. Năm 1962, John Steinbeck (1902
– 1968) - Tiểu thuyết gia Mỹ, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm
hiện thực và giàu trí tưởng tượng, kết hợp giữa sự hài hước đầy cảm thông và nhận
thức xã hội sắc bén” (for his realistic
and imaginative writings, combining as they do sympathetic humour and keen
social perception).
58. Năm 1963, Giorgos Seferis (1900-
1971) - Nhà thơ, nhà ngoại giao Hy Lạp, được trao giải Nobel Văn học “vì những
tác phẩm trữ tình xuất sắc, được truyền cảm hứng từ tình cảm sâu sắc dành cho
thế giới văn hóa Hy Lạp” (for his eminent
lyrical writing, inspired by a deep feeling for the Hellenic world of culture).
59. Năm 1964, Jean-Paul Sartre (1905
– 1980) - Nhà văn, nhà triết học hiện sinh Pháp, được trao giải Nobel Văn học
“vì tác phẩm giàu ý tưởng, tràn đầy tinh thần tự do và khát vọng tìm kiếm chân
lý, đã tạo nên ảnh hưởng sâu rộng đến thời đại chúng ta” (for his work which, rich in ideas and filled with the spirit of
freedom and the quest for truth, has exerted a far-reaching influence on our
age).
* Bài liên quan:
- Đọc "Ngôn từ", của Jean-Paul Sartre

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét