10/8/26

3.961. HERTA MÜLLER - Quotes

Những câu trích từ các tác phẩm: The Hunger Angel (Thiên thần đói), The Land of Green Plums (Vùng đất của những quả mận xanh), The Appointment (Cuộc hẹn), Nadirs (Những điểm thấp nhất),  The Passport (Tấm hộ chiếu)… của Herta Müller – Nobel Văn học 2009. 

1. Những gì không thể nói ra thì có thể viết ra. Bởi vì viết là một hành động thầm lặng, một công việc từ trí óc đến bàn tay. (What can't be said can be written. Because writing is a silent act, a labor from the head to the hand.)

 

2. Đau khổ không làm cho con người tốt hơn, phải không? (Suffering doesn't improve human beings, does it?)

 

3. Phụ nữ luôn cần những người phụ nữ khác để dựa dẫm. Họ trở thành bạn bè để càng ghét nhau hơn. Càng ghét nhau, họ càng trở nên không thể tách rời. (Women always need other women to lean on. They become friends in order to hate each other better. The more they hate each other, the more inseparable they become.)

 

4. Để chống lại cái chết, bạn không cần một cuộc sống trọn vẹn, chỉ cần một cuộc sống chưa kết thúc. (To combat death you don't need much of a life, just one that isn't yet finished.)

 

5. Bản thân chuyện viết lách không biết nó trông như thế nào khi người ta đang thực hiện nó, chỉ biết khi nó kết thúc mà thôi. (Writing itself does not know what it looks like while one is doing it, only when it's finished.)

 

6. Một số người nói, hát, đi lại, ngồi, ngủ và kìm nén nỗi nhớ nhà của họ, trong một thời gian dài, mà vô ích. Có người nói rằng theo thời gian, nỗi nhớ nhà mất đi nội dung cụ thể của nó, rằng nó bắt đầu âm ỉ và chỉ khi đó mới trở nên mãnh liệt, bởi vì nó không còn tập trung vào một ngôi nhà cụ thể nữa. Tôi là một trong những người nói như vậy. (Some people speak and sing and walk and sit and sleep and silence their homesickness, for a long time, and to no avail. Some say that over time homesickness loses its specific content, that it starts to smolder and only then becomes all-consuming, because it’s no longer focused on a concrete home. I am one of the people who say that.)

 

7. Mọi thứ trong văn học, kể cả ký ức, đều là chuyện kể lại. (Anything in literature, including memory, is second-hand.)

 

8. Ngôn ngữ khác xa với cuộc sống. Làm sao tôi có thể dung hòa chúng? Làm sao tôi có thể kết nối chúng lại với nhau? (Language is so different from life. How am I supposed to fit the one into the other? How can I bring them together?)

 

9. Mỗi ngày trôi qua lại đưa tôi xa rời mọi người hơn, tôi bị đặt ra khỏi tầm mắt của thế giới, như thể bị nhốt trong một cái tủ, và tôi hy vọng mọi chuyện sẽ mãi như vậy. Tôi nảy sinh khao khát được ở một mình, sống buông thả, không được chăm sóc. (Everyday brought me further away from other people, I had been placed out of the world's sight, as if in a cupboard, and I hoped it would stay that way. I developed a yearning for being alone, unkempt, untended.)

 

10. Việc viết lách tự nó không biết mình trông như thế nào khi đang viết, chỉ biết khi nó hoàn thành mà thôi. (Writing itself does not know what it looks like while one is doing it, only when it's finished.)

 

11. Mọi thứ chẳng liên quan gì đến tôi cả. Tôi bị nhốt trong chính mình và bị tách rời khỏi bản thân. Tôi không thuộc về họ và tôi nhớ chính mình.   (Nothing had anything to do with me. I was locked up inside myself and evicted from myself. I didn’t belong to them and I was missing me.)

 

12. Tôi luôn có đủ khôn ngoan để tha thứ cho người khác, nhưng không bao giờ đủ khôn ngoan để cứu chính mình khỏi bất hạnh. (I’ve always had just enough sense to spare others, but never enough to save myself from misfortune.)

 

13. Đôi khi, vạn vật mang một vẻ dịu dàng—một vẻ dịu dàng quái đản mà ta chẳng hề ngờ tới. (Sometimes things acquire a tenderness, a monstrous tenderness we don’t expect from them.)

 

14. Thần Đói tìm đến mọi người, chẳng chút ngần ngại. Hắn hiểu rằng nơi nào có thứ gì đó được trút bỏ, thì nơi ấy cũng có thể chất chứa những thứ khác. Xét về mặt toán học, kết quả có thể thật kinh hoàng: nếu mỗi người đều có một thiên thần Cơn đói của riêng mình, thì cứ mỗi khi có ai đó qua đời, một thiên thần Cơn đói lại được giải phóng. (The hunger angel approached everyone, without restraint. He knew that where things can be unloaded, other things can be loaded. In terms of mathematics, the results could be horrifying: if each person has his own hunger angel, then every time someone dies, a hunger angel is released.)

 

15. Mọi sự diễn ra đều luôn giản đơn. Và vạn vật vận hành theo một nguyên tắc nhất định—với điều kiện là chúng còn tồn tại. (Everything that happens is always simple. And there’s a principle to how things proceed, assuming that they last.)

 

16. Sự chán chường chính là lòng kiên nhẫn của nỗi sợ. Nỗi sợ không muốn làm quá mọi chuyện. Chỉ đôi khi—và nỗi sợ coi điều này là vô cùng quan trọng—nó mới muốn biết tình trạng hiện tại của tôi ra sao. (Boredom is fear's patience. Fear doesn't want to exaggerate. Only on occasion--and fear considers this very important--does it want to know how things stand with me.)

 

17. Mỗi ngày trôi qua lại đưa tôi xa rời mọi người hơn, tôi bị đặt khuất khỏi tầm mắt của thế giới, như thể bị nhốt trong một cái tủ, và tôi hy vọng mọi chuyện sẽ mãi như vậy. Tôi nảy sinh khao khát được ở một mình, luộm thuộm, không được chăm sóc. (Everyday brought me further away from other people, I had been placed out of the world's sight, as if in a cupboard, and I hoped it would stay that way. I developed a yearning for being alone, unkempt, untended.)

 

18. Bên trong nhà hàng này, bạn đang giao tiếp với Thiên thần Đói khát, còn bên ngoài, bạn thấy mọi thứ hỗn loạn. (Inside this restaurant you're communing with The Hunger Angel and outside you find that all hell's broken loose.)

 

19. Tôi luôn đủ khôn ngoan để tha thứ cho người khác, nhưng không bao giờ đủ để cứu chính mình khỏi bất hạnh. (I’ve always had just enough sense to spare others, but never enough to save myself from misfortune.”


20. Vào giờ đó, mặt trăng gần như bị nuốt chửng hoàn toàn; nó không biết phải đi đâu sau khi đến thành phố. Bầu trời phải nới lỏng vòng kìm kẹp của nó đối với trái đất khi ngày bắt đầu ló dạng. Các con phố dốc lên xuống, và xe điện chạy qua chạy lại như những căn phòng rực sáng. (At that hour the moon is almost entirely eaten away; it doesn’t know where to go after reaching the city. The sky has to loosen its grip on the earth as day begins to break. The streets run steeply up and down, and the streetcars travel back and forth like rooms ablaze with light.)

 

21. Tôi đếm rất nhiều. Tàn thuốc lá, cây cối, thanh rào, mây, hay số lượng đá lát giữa hai cột điện thoại, số cửa sổ dọc đường đến trạm xe buýt vào buổi sáng, số người đi bộ tôi nhìn thấy từ xe buýt giữa hai trạm dừng, những chiếc cà vạt đỏ vào một buổi chiều ở thành phố. Bao nhiêu bước từ văn phòng đến cổng nhà máy. Tôi đếm để giữ cho thế giới có trật tự. (I do a lot of counting. Cigarette butts, trees, fence slats, clouds, or the number of paving stones between one phone pole and the next, the windows along the way to the bus stop in the morning, the pedestrians I see from the bus between one stop and the next, red ties on an afternoon in the city. How many steps from the office to the factory gate. I count to keep the world in order).

 

22. Im lặng cũng là một hình thức lên tiếng. (Silence is also a form of speaking.)

 

23. Tôi đã luôn viết chỉ cho bản thân mình - để làm rõ với mình, để hiểu bên trong nội tâm chuyện gì đang thực sự xảy ra. (I have always written only for myself - to clarify things, to clarify things with myself, to understand in an inner way what is actually happening.)

 

24. Nên nói thế nào về cơn đói kinh niên. Có lẽ có cơn đói có thể khiến bạn đổ bệnh vì đói. Nó đến thêm vào cơn đói mà bạn đã cảm thấy sẵn. Có cơn đói luôn luôn mới, bành trướng không thể thỏa mãn, vồ lấy cơn đói cũ chẳng bao giờ kết thúc mà bạn đã phải quằn quại để chế ngự. Làm sao bạn có thể đối mặt với thế giới nếu tất cả những gì bạn có thể nói về bản thân là bạn đang đói. (What can be said about chronic hunger. Perhaps that there's a hunger that can make you sick with hunger. That it comes in addition to the hunger you already feel. That there is a hunger which is always new, which grows insatiably, which pounces on the never-ending old hunger that already took such effort to tame. How can you face the world if all you can say about yourself is that you're hungry.)

 

 25. Một số người đem nỗi nhớ nhà ra để nói lên, để ca hát, để tản bộ, để ngồi nghỉ, để đi vào giấc ngủ, để bắt nó phải im lặng, thật lâu, và vô vọng. Có người nói theo thời gian, nỗi nhớ nhà mất đi những đặc điểm cụ thể, và bắt đầu âm ỉ, và chỉ đến lúc đó nó mới hoàn toàn nghiến ngấu ta, vì nó không còn tập trung vào một ngôi nhà vật chất. (Some people speak and sing and walk and sit and sleep and silence their homesickness, for a long time, and to no avail. Some say that over time homesickness loses its specific content, that it starts to smolder and only then becomes all-consuming, because it’s no longer focused on a concrete home.)

 

26. Chúng ta càng được dùng nhiều từ ngữ, chúng ta càng tự do. Nếu chúng ta bị chặn miệng, ta sẽ cố thể hiện bản thân qua cử chỉ, thậm chí qua đồ vật. Chúng khó hiểu hơn, và không gây nghi ngờ ngay lập tức. (The more words we are allowed to take, the freer we become. If our mouth is banned, then we attempt to assert ourselves through gestures, even objects. They are more difficult to interpret, and take time before they arouse suspicion.)

 * References:

- Goodread.com

- Wikipedia.org

Không có nhận xét nào: