23/8/26

3.973. TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI ĐÀ NẴNG (1)

 Mộc Nhân Lê Đức Thịnh



(Tham luận tại Hội thảo “TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI ĐÀ NẴNG” – Tháng 8/ 2026)

Kính thưa quý vị.

Hội thảo của chúng ta có tên gọi đầy đủ là: “Hội thảo Truyện ngắn Đương đại Đà Nẵng – Tác giả & Tác phẩm”. Tên hội thảo vừa thể hiện tính mở vừa khu biệt trong phạm vi không gian sáng tác của tác giả - tác phẩm, lại phải thể hiện được mối quan hệ - đóng góp và thành tựu của truyện ngắn đương đại Đà Nẵng trong tiến trình văn học cả nước.

Tham vọng của hội thảo là như thế và chúng ta sẽ cố gắng đạt được điều đó ở một mức độ nào là tuỳ cách/ góc nhìn/ sở tri của các nhà chuyên môn, tác giả cũng như bạn đọc.

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HỘI THẢO:

1. Khái niệm đương đại: Truyện ngắn đương đại có nội hàm tương đối về thời gian để chỉ những tác phẩm văn học được sáng tác trong thời gian gần đây. Nó không chỉ đơn thuần để phân chia theo dòng thời gian mà còn phản ánh các xu hướng nghệ thuật, hơi thở và bối cảnh xã hội của thời đại hiện tại. Theo đó, sẽ có nhiều đề xuất khác nhau:

a. Căn cứ vào yếu tố lịch sử: chọn mốc từ năm 1975 làm mốc đánh dấu văn học đương đại giúp ghi nhận bước ngoặt lịch sử khi đất nước thống nhất, chuyển từ văn học thời chiến sang thời bình, mở ra quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật, chuyển dịch từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự và nhân bản.

b. Căn cứ vào bước ngoặt đổi mới: chọn dấu mốc đổi mới từ sau 1986, gắn liền với sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật, xã hội qua các giai đoạn, khai thác góc khuất đời sống và số phận con người cùng với sự vận động trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế với tính hiện đại, đa thanh và nhiều bút pháp mới.

* Tuy nhiên, cũng cần nói rõ, khái niệm Truyện ngắn đương đại gắn với chiều kích thời gian khá dài nên chưa hẳn chúng ta đã nắm bắt hết. Vậy nên trong phạm vi một tiểu luận cho hội thảo cấp Thành phố, chúng ta chỉ gói gọn trong nội hàm “gần đây”, với góc nhìn qua các tác giả tác phẩm từng sống và sáng tác tại Tp Đà Nẵng (bao gồm cả các tác giả ở Quảng Nam cũ). Dưới lăng kính phê bình sòng phẳng, chúng ta có thể nhìn nhận bức tranh truyện ngắn đương đại Đà Nẵng qua cả hai góc nhìn: Thành tựu và những gì cần nhìn lại mình để tác giả trẻ cùng với đội ngũ đi trước tiếp tục dấn thân sáng tác truyện ngắn, tiếp nối dòng chảy của thế hệ trước 1975.

2. Vài đặc điểm và khía cạnh nổi bật của truyện ngắn:

a. Ngắn gọn, mạch lạc, và đọng lại,

b. Đa dạng trong nhiều hình thức và kỹ thuật tường thuật,

c. Khám phá, thể hiện các chủ đề nhân sinh.

3. Bối cảnh truyện ngắn đương đại Đà Nẵng:

Truyện ngắn đương đại nói chung và Đà Nẵng nói riêng gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, và các vấn đề lịch sử, xã hội gần đây. Sự đan xen giữa đời sống số, kinh tế thị trường và các luồng tư tưởng đã đặt truyện ngắn trước những cơ hội và thách thức lớn từ phía người viết và sự thay đổi trong thói quen tiếp nhận của độc giả. Trong thời gian gần đây, nó đang trải qua một số vấn đề cốt lõi sau:

a. Sự lấn át của văn hóa đọc nhanh và truyền thông số:

Trong kỷ nguyên TikTok, Facebook và Reels, độc giả ngày càng ưu ái các nội dung ngắn, trực quan và mang tính giải trí tức thì kể cả kênh hình lẫn kênh chữ. Truyện ngắn dù không chìu theo thị hiếu độc giả vì nó vốn đã ngắn gọn và thuộc lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật nhưng vẫn tiếp cận xu hướng viết ngắn – đọc nhanh. Điều này dẫn đến hệ quả thiếu hụt độ sâu, và tính bền vững của văn bản.

b. Về tác phẩm “hiện tượng”:

Truyện ngắn ĐN hôm nay rất phong phú về chủ đề: từ thân phận con người, đời sống đô thị, đời sống thường nhật và những xung đột, tình yêu… Có rất nhiều tiếng nói cá nhân nhưng phân mảnh và chưa xuất hiện các hiện tượng.

c. Về vấn đề thương mại trong xuất bản:

 Cho đến hôm nay, nỗ lực của chúng ta vẫn là xuất bản bằng nguồn hỗ trợ, một số tác giả ra sách bằng nỗ lực tài chính tư nhân và phát hành thông qua giao lưu phi lợi nhuận. Một số ít tác giả vượt qua điều này.

d. Vấn đề đổi mới: đây là cốt lõi của câu chuyện sáng tác, nhiều nhà văn đã nỗ lực thử nghiệm, bền bỉ sáng tác, các thủ pháp tường thuật hiện đại như phi tuyến tính, đa giọng điệu, lắp ghép... Đã được vận dụng.

e. Về phê bình: đội ngũ phê bình văn học còn mỏng và thiếu những tiếng nói sắc bén, công tâm nên sự phản hồi, đánh giá còn nhiều khoảng trống. Hiện chúng ta chỉ dừng lại ở nhưng bài giới thiệu, lời bạt chứ chưa đi sâu vào học thuật phê bình.

g. Thách thức trước Trí tuệ Nhân tạo (AI):

Sự xuất hiện của AI và sử dụng AI trong sáng tác đang thách thức sự sáng tạo và tự trọng của người viết, điều này đặt ra câu hỏi về giá trị của tác phẩm mà mỗi nhà văn trả lời cho chính mình.

II. TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI ĐÀ NẴNG:

Đà Nẵng có nền móng văn hóa truyền thống xứ Quảng và sự hiện đại của đô thị, hội nhập, vận động năng động nhưng cũng đầy thách thức về mọi mặt, trong đó có VHNT. Ở đây chúng ta đang nói về truyện ngắn Đà Nẵng trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đương đại.

1. Về đội ngũ sáng tác:

Tác giả truyện ngắn của Đà Nẵng trong khoảng vài thập niên gần đây có thể nói là đông đảo. Họ vừa giữ được mạch văn học xứ Quảng, vừa mang nhịp đập năng động của đời sống mới. Đội ngũ sáng tác truyện ngắn nơi đây có thể được nhìn nhận qua những nét đặc trưng nổi bật sau:

a. Sự tiếp nối thế hệ: Tôi muốn nói tiếp sau thế hệ đàn anh thời chiến và hậu chiến, chúng ta có Thái Bá Lợi, Vĩnh Quyền, Lê Trâm, Tiêu Đình, Trần Trung Sáng, Bùi Tự Lực, Nguyễn Tam Mỹ… Họ đóng vai trò trụ cột, mang đến cho truyện ngắn Đà Nẵng độ đằm sâu về trải nghiệm lịch sử, cảm thức chiến tranh, vốn sống phong phú về văn hóa xứ Quảng.

Hiện nay chúng ta có Lệ Hàng, Nguyễn Vĩnh, Trần Thiên Hương, Hồ Loan, Thanh Thảo, Vũ Ngọc Giao, Nguyễn Tấn Ái, Nguyễn Thị Cẩm Giang, Huỳnh Viết Lệnh… họ vừa tiếp nối thế hệ trước vừa mang đến những diện mạo mới của văn học thành phố thời đô thị hoá.

Những gương mặt tác giả truyện ngắn đương đại mang tư duy cởi mở, góc nhìn cá nhân, tiếp cận các xu hướng nghệ thuật hiện đại, ít bị gò bó bởi vấn đề hệ tư tưởng.

2. Về đề tài tác phẩm:

a. Đề tài chiến tranh và hậu chiến: Nhiều tác giả truyện ngắn đương đại Đà Nẵng tiếp tục nối mạch thế hệ trước qua mảng đề tài này, có thể kể đến:

- Trần Thiên Hương – thế mạnh của chị là nhiều tiểu thuyết về đề tài này, bên cạnh đó là một số truyện ngắn cùng đề tài, đã đăng tải trên các báo – tạp chí: Ngậm ngãi tìm trầm, Trái lựu đạn, Phương Nam hành… (chưa xuất bản trong tuyển tập). Nếu đem câu trích “Truyện ngắn là ảnh chụp; tiểu thuyết là phim” thì chị vừa có hình ảnh vừa có phim trong sáng tác của mình.

- Nguyễn Vĩnh với tập truyện ngắn “Cây đa trên sân đình cũ” lưu giữ ký ức và trải nghiệm đời sống người lính ở giai đoạn đất nước còn chiến tranh. Truyện ngắn của anh như một cuốn phim với nhiều phân cảnh, dẫn chúng ta đi đến nhiều không gian, thời gian và con người trên một miền đất đầy lửa đạn, bi thương nhưng cũng thắm tình người, tình quê hương, đất nước.

- Nguyễn Tam Mỹ: nhà văn - nhà báo từng trực tiếp trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt tại chiến trường K. Đề tài chiến tranh chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông được nhìn nhận từ góc độ đời thường, thân phận và sự hy sinh của người chiến sĩ được anh tái hiện trong những tác phẩm giàu tư liệu. Truyện ngắn (cũng như tiểu thuyết) của anh chân thực, nằm ở ranh giới giữa cái chết và sự sống, cho đến tâm lý phức tạp của những người lính cùng người thân của các anh trong chấn thương tâm lý, tình đồng đội, và cả sự hóa giải những xung đột… Truyện ngắn đề tài chiến tranh của Nguyễn Tam Mỹ đã góp phần quan trọng định hình diện mạo văn học chiến tranh vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, giúp thế hệ sau nhìn lại quá khứ không phải bằng sự thù hận, mà bằng sự trân trọng giá trị của hòa bình và tình yêu thương con người.

- Trần Ngọc Đức với tập truyện ngắn Nơi miền biên viễn viết về người lính ở nhiều chiến trận, chiến tuyến khác nhau, khi về với đời thường họ đối mặt với những khó khăn, thách thức, bi kịch nhưng vẫn vươn lên, sống xứng  đáng với phẩm chất cao đẹp. (Xem tiếp p.2)

b. Tình yêu, quê hương, gia đình, thân phận: Đề tài quen thuộc trong hầu hết các sáng tác đương đại. Các tác phẩm thường đi sâu vào bản dạng cá nhân trong các mối quan hệ; thể hiện các giá trị nhân văn:

- Nhà văn Lê Trâm với 10 tập truyện ngắn, trong đó có thể kể ra: Lai lịch một thành hoàng (1992), Tìm lại thời gian (1999), Một giấc hồ điệp (2007), Phía gió biển không còn ai (2016), Đêm nguyệt bạch (2018)... Truyện của anh thể hiện sự năng động và cấp tiến trong cuộc tìm tòi những phương pháp sáng tác mới từ chất liệu hiện thực vốn hỗn độn. Các sự kiện xảy ra không phải lúc nào cũng có quan hệ lẫn nhau và sắp xếp phi tuyến tính, được anh nhặt ra từ dòng ký ức trải dài từ tuổi thơ theo đến tận kiếp người gắn với quê hương xứ Quảng với bao biến cố của tự nhiên và xã hội: lũ lụt - những dòng sông bên lở bên bồi, chiến tranh – trại định cư, con người – số phận… mang đến cho bạn đọc nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau trong các đối thoại nhân sinh… Rất tiếc, điều mà nhà thơ Louise Glück (Nobel Văn học 2020) viết: “Để được sinh ra, hình hài của bạn đã lập một thỏa ước với cái chết” đã ứng nghiệm vào anh khá sớm.

- Nhà văn Tiêu Đình với gần 10 tập truyện, gần đây nhất là Gió chiều nào cũng mát – anh viết văn như dạo chơi, như người lữ hành lặng lẽ đi qua những địa danh để tìm kiếm chất liệu, mọi thứ anh bắt gặp đều làm nên một truyện ngắn với cái duyên riêng của của người chăm viết, biết xử lý tình tiết để tạo nên mạch truyện với câu chữ đẹp.

- Tác giả nữ Hồ Loan với 4 truyện ngắn đã trình làng, được đón nhận: Như giọt chuông ngân, Bay lên cánh diều, Hài mặt quỷ, Sông đỏ mắt phù sa. Hồ Loan đang độ sung, viết bằng niềm đam mê văn chương thực sự, phát tiết chữ nghĩa, như nhu cầu cần chia sẻ, tỏ bày. Cách kể của Hồ Loan đã đem đến cho người đọc những khoảnh khắc thú vị, ưu tư, bất ngờ từ hiện hữu. Đằng sau mỗi câu chuyện là một thân phận cùng những thông điệp về cuộc sống muôn màu, vừa quen vừa lạ mà đôi khi chúng ta bắt gặp trong đó những trạng thái của mình, của người thân, của nhân tình thế thái với những phức cảm và nghịch lý buộc phải lựa chọn… Dẫn theo Hervé Bazin: “Truyện ngắn quan tâm đến một khắc ngừng của thời gian… Tóm lấy con người vào thời điểm đặc biệt ý nghĩa trong cuộc đời họ" – với cách nhìn như thế, tôi cho rằng ở nhiều truyện ngắn của mình, Hồ Loan đã phần nào làm được điều này.

- Truyện ngắn của Lệ Hằng thực sự là những lát cắt từ chất liệu đời sống (kể cả các câu chuyện về đời sống ảo trên mạng xã hội) được tường thuật từ nhịp đập của cuộc sống xung quanh với nhưng bất an, trở trăn thông qua số phận nhân vật để rồi thấy cảm thông, yêu thương và chia sẻ với từng cảnh ngộ. Bạn đọc quen thuộc với phong cách sáng tác của chị qua các tác phẩm: Triệu view giá bao nhiêu, Mùa sám hối, Những vụn vặt nhiệm màu… và nhận ra cách tạo và xử lý tình huống bất ngờ, thông minh, tạo ra dư chấn và xoa dịu nó…

- Truyện ngắn Vũ Ngọc Giao khắc họa tinh tế những âm bản cuộc đời, tình người và nỗi niềm hoài niệm qua các tập: Người  đàn      chiếc  dương  cầm, Vườn Sơn tra dưới trăng, Một vì sao không bao giờ khóc, Ba hạt muồng trong chiếc bị cói và Bản sonata mùa đông của chim gõ kiến… minh chứng cho một ngòi bút đầy nội lực cùng sức hấp dẫn trong sáng tác của Vũ Ngọc Giao. Truyện của chị lấy cảm hứng về thân phận, nhắn nhủ thông điệp về đời sống và gia đình…

c. Truyện ngắn viết cho thiếu nhi:

       Ngoài ra, phải kể đến mảng truyện ngắn cho thiếu nhi cũng được các tác giả đương đại quan tâm, kế thừa các bậc đàn anh đã đạt thành tựu, có thể kể đến: Trần Trung Sáng, Lê Trâm, Tiêu Đình, Lệ Hằng, Lê Thị Điểm…

d. Truyện ngắn dã sử:

Ở mảng này, các tác giả (Trần Thiên Hương – Chuyện kể bên dòng Sông Thu) xây dựng nhân vật và tường thuật những câu chuyện ngắn trên phông nền sự kiện lịch sử chủ yếu tìm cách truyền đạt ấn tượng, kịch tính, thông điệp nhân sinh…

(Tiếp theo P.2)

Không có nhận xét nào: