30/9/26

4.012. HAI CÂU CHUYỆN CỦA MẠC NGÔN

 


Hai câu chuyện dưới đây là hai ngụ ngôn hiện sinh và đạo đức sâu sắc được trích từ diễn văn nhận giải Nobel Văn học của nhà văn Mạc Ngôn (Mo Yan). Khi đặt hai câu chuyện cạnh nhau dưới tư cách của một "người kể chuyện", ông đã gửi gắm những thông điệp triết học đa tầng về bản chất con người, nghệ thuật và thi ca.

28/9/26

4.011. KÝ ỨC VỀ MẸ - Trần Đình Việt

 

Khi đọc file mềm bản sách Ai đã giữ tôi ở lại giữa trần đời? của Trần Đình Việt, tôi liên tưởng đến câu thơ của Louise Glück – nhà thơ Mỹ, Nobel Văn học 2020, trong bài A Slip of Paper: “To get born, your body makes a pact with death…” (Để được sinh ra, hình hài của bạn đã lập một thỏa ước với cái chết…). 

4.010. LÝ THÁI BẠCH - ĐỜI VÀ ĐẠO

 

  Hôm nay ngày 18 tháng 8 âm lịch, trong Cao Đài Đại Đạo, là ngày vía Đức Lý Thái Bạch (thi hào Lý Bạch đời Đường) còn gọ là Lý Giáo Tông, Lý Đại Tiên, Lý Trích Tiên… Ngài là một vị Đại Tiên tối cao, giữ ngôi vị Nhất Trấn Oai Nghiêm và kiêm nhiệm chức Giáo Tông Vô Vi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

27/9/26

4.009. NHỮNG CÂU TRÍCH VỀ TUỔI GIÀ

 

Câu trích là các mảnh ghép nhỏ của những ý tưởng lớn lao, giúp thúc đẩy chúng ta vận động nhiều hơn, truyền cảm hứng để ta cống hiến cho cộng đồng, và thậm chí còn khiến ta bật cười sảng khoái. Trong một thế giới mà từ "lão hóa" (ageing) thường đi kèm với tiền tố "chống" (anti), thì những câu trích dẫn mang lại góc nhìn tích cực về quá trình già đi - một điều hoàn toàn tự nhiên - lại trở nên vô cùng quý giá.

4.008. KÝ ỨC LỊCH

        Mộc Nhân



1.

Mưa rơi làm ướt ánh chiều. Bên chiếc bếp than, bà tôi đọc những dòng chữ trên tờ lịch, giấu đi nỗi nhớ nào đó trong tiếng mưa đang gõ nhịp trên mái lá.

Tôi nghĩ bà tin vào những dự báo hay lời khuyên trên tờ lịch ấy: Giờ hoàng đạo: Tý – Sửu – Thìn – Tỵ… Thu phân lúc 07g06 phút. Hôm nay kiêng đi xa, khai trương. Nên làm: sửa mộ, thăm viếng…

24/9/26

4.007. QUOTES - by Tomas Tranströmer

 


Một số câu thơ của Tomas Tranströmer có thể đứng độc lập thành một diễn ngôn triết lý, tâm lý, cảm xúc với nội hàm sâu sắc. Tôi tuyển chọn/ dịch những câu như thế, trong các tác phẩm của ông, lấy từ nhiều nguồn để bạn đọc có thể cảm thấu bề sâu trong thơ Tomas Tranströmer…


1. “Mỗi con người là một cánh cửa hé mở/ dẫn vào căn phòng dành cho tất cả mọi người.” (Every person is a half-opened door/ leading to a room for everyone.)

4.006. THƠ HAIKU - Tomas Tranströmer

 


Thơ Haiku, với đặc trưng là sự súc tích ấn tượng, thể hiện tinh thần thẩm mỹ tối giản được nhiều nhà thơ hiện đại ưa chuộng. Mỗi bài thơ Haiku của Tomas Tranströmer được xếp thành bốn đoạn/ bài, mỗi đoạn đều nắm bắt trọn vẹn tinh thần cô đọng của thể loại này và có thể xem như một bài thơ độc lập.

23/9/26

4.005. KHOẢNH KHẮC TÂY GIANG

        Mộc Nhân



1.

Khi nhịp điệu đô thị đã bào mòn những ký ức xứ núi, tôi lại tìm về với đại ngàn, nơi mỗi vách đá, dốc đèo, thảm rừng đều thì thầm những lời xa xưa mà không bao giờ cũ. Nó không đơn thuần là một chuyến đi mà là cuộc hành trình với cội nguồn cảm xúc.

22/9/26

4.004. NHÀ VĂN TRẺ - Những câu trích

 Mộc Nhân tuyển dịch từ nhiều nguồn (*)



1. “Tương lai của chúng ta phụ thuộc vào những câu chuyện. Khi thế giới không ngừng tiến bước, văn học mang lại cho chúng ta điểm tựa vững chắc - gắn kết ta với bản chất con người, trí tưởng tượng và sự khai sáng.” (Our future depends on stories. As the world advances, literature has the ability to ground us—in our humanness, our imaginations, and our enlightenment.)

21/9/26

4.003. KHI NHÀ THƠ QUA ĐỜI

Mộc Nhân    



Cho những người anh, người bạn thơ của tôi...
khi cái chết kết thúc một cuộc sống,
chứ không kết thúc một danh tính hay mối quan hệ...

4.002. ĐÔI KHI LÀ VẬY - Mai Hữu Phước

 


Đôi khi là vậy/ 때로는 그런 것 – tập thơ song ngữ Việt – Hàn, của Mai Hữu Phước là một tác phẩm có duyên trong xuất bản và phát hành bởi nó ra đơi đúng “điểm rơi” trong tuần lễ giao lưu văn hoá Việt – Hàn tổ chức tại Đà Nẵng. Bạn đọc ghi nhận đây là tuyển thơ song ngữ có giá trị về nội dung tư tưởng, nghệ thuật biểu đạt và ý nghĩa giao lưu văn hóa. 

4.001. HIMALAYA TĨNH LẶNG

 

  Bài thơ dưới đây có tựa Himalaya Silence (Himalaya Tĩnh lặng) của tác giả Barbara Gramza người Ba Lan, như một lời tưởng niệm gửi tới tất cả những sinh linh đã thiệt mạng, cũng như các gia đình và cộng đồng đang gánh chịu nỗi đau mất mát trong thảm họa lũ băng tại Nepal, cuối tháng 8/2026 - nơi bi kịch để lại vết sẹo mà thời gian chẳng thể xóa nhòa.

17/9/26

4.000. BUỔI SÁNG ĐÔ TRƯỞNG

 Mộc Nhân - Cho bài viết số 4.000


1.

Buổi sáng, thị trấn thu mình bên góc phố, đêm qua cơn mưa rải hơi ẩm xuống mặt đường. Mùa chuyển từ mây sang phía núi - nhẹ như giai điệu không lời trong bản hoà âm giản dị - với cung đô trưởng.

16/9/26

3.999. VỀ DỊCH THƠ VÀ THƠ TOMAS TRANSTRÖMER

 Mộc Nhân biên dịch từ nhiều nguồn 


Cũng như bao nhà thơ vĩ đại đi trước, Tranströmer luôn nhắc nhở chúng ta rằng thế giới không phải lúc nào cũng như vẻ bề ngoài của nó; rằng nếu biết sống tỉnh thức và quan sát thật kỹ, ta có thể thoáng thấy một điều gì đó thật bao la và kỳ lạ. (Like so many great poets before him, Tranströmer is forever reminding us that the world is not what it appears to be; that with mindfulness and close attention, you might get a glimpse of something vast and strange.) - John Freeman.

3.998. ADAGIO - Franz Schubert

   


    Adagio là tên của một chương trong tác phẩm Ngũ tấu đàn dây cung Đô trưởng của Franz Schubert. Đây là tác phẩm khí nhạc thính phòng cuối cùng, được coi là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của thể loại nhạc thính phòng do Schubert sáng tác. Tác phẩm từ lâu đã được xem là hiện thân của sự chấp nhận và thanh thản khi đối diện với thời khắc cuối đời.

14/9/26

3.997. SCHUBERTIANA - Tomas Tranströmer

 


Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert

  Schubertiana nằm trong tập thơ Những rào cản sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, là một trong những đỉnh cao xuất sắc nhất của thơ ông, khám phá vai trò của âm nhạc như một liều thuốc giải cho sự chia cắt, manh mún vốn là đặc trưng của đời sống đương đại. Năm phần của bài thơ đề cập đến nhiều hình ảnh khác biệt nhưng vẫn gắn kết với nhau nhờ cùng hướng về một chủ đề trung tâm: tinh thần âm nhạc của Schubert. 

3.996. NOVEMBER IN THE FORMER DDR - Tomas Tranströmer

 


Bài thơ "November in the Former DDR" (Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ) của Tomas Tranströmer được viết sau khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1990 và Nước Đức thống nhất. Đây là một chiêm nghiệm hiện sinh lẫn lịch sử vô cùng đặc sắc về sự sụp đổ của một chế độ toàn trị tồn tại từ 1949 - 1990 và vết thương tâm lý còn sót lại. Tháng Mười Một ở Đông Đức cũ đánh dấu thời khắc giao thời khi cái bóng bóng ma của chế độ độc tài tan biến. (1)

3.995. THE BLUE WIND-FLOWERS - Tomas Tranströmer

 


Thơ của Tranströmer, kế thừa các trào lưu Hiện đại, Biểu hiện và Siêu thực (Modernism, Expressionism, and Surrealism), chứa đựng những hình ảnh đầy sức gợi, xoay quanh các vấn đề về sự phân mảnh và nỗi cô độc. "Ông đã hoàn thiện một thể loại thơ trữ tình mang tính khai sáng (epiphanic lyric) đặc trưng, trong đó thiên nhiên đóng vai trò chủ thể năng động, tràn đầy sinh lực, còn cái tôi (nếu có) lại đóng vai trò là đối tượng," - Katie Peterson: "Thơ của Tranströmer hình dung về những không gian mà chiều sâu tâm thức sẽ ngự trị, tựa như dòng nước ngầm phun trào vào một cái giếng mới đào."

11/9/26

3.994. SLOW MUSIC - Tomas Tranströmer

      

    Slow Music nằm trong tập thơ Bells and Tracks (1966) của Tomas Tranströmer. Đây là một trong những bài thơ tinh tế và thanh khiết, nơi thiên nhiên, âm nhạc và tâm thức con người hòa làm một. (1)

10/9/26

3.993. GONDOLA BUỒN - Tomas Tranströmer, 1996.


Những chiếc thuyền Gondola truyền thống của Venice

    The Sad Gondola (tiếng Thụy Điển: Den sorgsna gondolen – Gondola Buồn) nằm trong tập thơ cùng tên của Tomas Tranströmer, xuất bản năm 1996. Tác phẩm lấy cảm hứng từ chuyến viếng thăm của nhà soạn nhạc người Đức vĩ đại Richard Wagner và con rể của ông là Franz Liszt tại Venice vào cuối năm 1882, ngay trước khi Wagner qua đời vào đầu năm 1883. Tiêu đề bài thơ cũng được đặt theo hai tác phẩm piano cuối đời của Liszt mang tên La lugubre gondola.

9/9/26

3992. ALONE - Tomas Tranströmer

 

   Bài thơ Alone (tiếng Thụy Điển: Ensamhet - Cô đơn) nằm trong tập Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở), 1962 và tập Bells and Tracks (Tiếng chuông và Dấu vết), 1966 của Tomas Tranströmer. Đây là bài thơ tự sự mang tính trải nghiệm cá nhân sâu sắc và rõ nét nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này cùng với nhiều bài thơ khác của Tomas Tranströmer là một trong những tiết mục được trình bày thay cho bài diễn từ. (1)

8/9/26

3.991. C MAJOR - Tomas Tranströmer

 


Bài thơ C Major (tiếng Thuỵ Điển: C Dur - Đô Trưởng) trích trong tập Thiên đường dang dở (The Half-Finished Heaven) của Tomas Tranströmer, xuất bản 1962. Đây là một trong những kiệt tác ngắn gọn nhưng hoàn hảo nhất của ông, nơi âm nhạc, tình yêu và cảm thức tâm linh hòa quyện để tạo nên một khoảnh khắc bừng sáng của sự hiện sinh. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này được trình bày trong một tiết mục diễn đọc. (1)

7/9/26

3.990. THE JOURNEY - Tomas Tranströmer

 


Bài thơ The Journey (Resan) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ đầu tay: 17 Poems (17 Dikter - 17 bài thơ), xuất bản năm 1954. Tập thơ này đưa Tranströmer (khi đó mới 23 tuổi) trở thành một trong những giọng thơ đột phá nhất của thi văn Thụy Điển hiện đại. Về sau bài thơ này cũng có mặt trong tập The Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở), năm 1962.

6/9/26

3.989. VERMEER by Tomas Tranströmer

 


Vermeer -
danh họa Hà Lan (1632–1675)

"Vermeer" là bài thơ trong tập For Living and Dead (Cho người sống và người chết) của Tomas Tranströmer, năm 1989. Vermeer là danh họa người Hà Lan, Tranh của Vermeer nổi tiếng với việc ngưng đọng thời gian, ông là hiện thân của người nghệ sĩ biết lắng nghe nhịp đập sâu thẫm bên dưới bề mặt ồn ào của đời sống, biến cái hữu hạn thành cái vô hạn. Tranströmer nhìn thấy ở Vermeer khả năng "hóa thạch" khoảnh khắc đời thường thành cái vĩnh cửu trong cảm hứng thi ca.

5/9/26

3.988. THE LIGHT STREAMS IN - by Tomas Tranströmer

 


Bài thơ “The Light Streams In” (tiếng Thụy Điển: Ljuset strömmar in - Ánh sáng tràn ngập) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ The Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở) xuất bản lần đầu năm 1962. Đây là tập thơ thứ ba của Tomas Tranströmer, đánh dấu bước ngoặt quan trọng định hình thi phong "siêu hình" đặc trưng của ông, với những khoảnh khắc thức tỉnh, ranh giới giữa giấc mơ và thực tại, cũng như sự hiện diện của cái vĩnh cửu ngay trong đời sống thường nhật. (1)

4/9/26

3.987. FUNCHAL - by Tomas Tranströmer

 


Funchal là thủ phủ và thành phố lớn nhất của Bồ Đào Nha thuộc khu tự trị của quần đảo Madeira, có dân số 100.526 người và là thủ phủ của Madeira trong hơn năm thế kỷ. Bài thơ lấy cảm hứng từ chuyến đi của Tranströmer đến Funchal, được in trong tập Rào cản Sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, 1978 - những cuộc tiếp xúc của tác giả với các nền văn hóa khác. 

3.986. MỘT NGHỆ SĨ PHƯƠNG BẮC - Tomas Tranströmer

 


“An Artist in the North” (Một nghệ sĩ phương Bắc - nguyên bản tiếng Thụy Điển: En konstnär i norr) của Tomas Tranströmer nằm trong tập thơ "Night Vision", xuất bản lần đầu năm 1970. Tập thơ này ghi dấu giai đoạn sáng tác đầy chiều sâu của Tranströmer với những nét phác thảo tinh tế, cô đọng về thiên nhiên Bắc Âu, sự tĩnh lặng và không gian tâm lý ẩn sâu bên trong con người.

2/9/26

3.985. KÝ ỨC NGẮM NHÌN TÔI - Tomas Tranströmer

 

“Cũng như bao nhà thơ vĩ đại đi trước, Tranströmer luôn nhắc nhở chúng ta rằng thế giới không chỉ là những gì ta thấy; rằng nếu biết sống tỉnh thức và quan sát thật kỹ, ta có thể thoáng thấy một điều gì đó thật bao la và kỳ lạ.” (Like so many great poets before him, Tranströmer is forever reminding us that the world is not what it appears to be; that with mindfulness and close attention, you might get a glimpse of something vast and strange.) - John Freeman, nhà phê bình tại National Public Radio (Đài Phát thanh Công cộng Quốc gia Mỹ) – NPR.

1/9/26

3.984. TOMAS TRANSTRÖMER - Nobel VH 2011

 


Tại buổi Lễ trao giải Nobel Văn học cho Tomas Tranströmer ngày 7 tháng 12 năm 2011, Peter Englund, Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển đã có bài phát biểu về Tomas Tranströmer trước khi trình bày chương trình giới thiệu các tác phẩm của ông. (1)

3.983. TOMAS TRANSTRÖMER - diễn từ Nobel Văn học 2011

   


   Năm 2011, Tomas Tranströmer (1931 - 2015) - Nhà thơ, nhà văn, dịch giả Thụy Điển, được trao giải Nobel Văn học “vì thông qua những hình ảnh cô đọng, trong suốt của mình, ông đã cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ về thực tại” (because, through his condensed, translucent images, he gives us fresh access to reality).