Adagio là tên của một chương trong tác phẩm Ngũ tấu đàn dây cung Đô trưởng của Franz Schubert. Đây là tác phẩm khí nhạc thính phòng cuối cùng, được coi là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của thể loại nhạc thính phòng do Schubert sáng tác. Tác phẩm từ lâu đã được xem là hiện thân của sự chấp nhận và thanh thản khi đối diện với thời khắc cuối đời.
Trong chương
trình diễn từ Nobel Văn học năm 2011 dành cho Tomas Tranströmer, bản nhạc giao
hưởng thính phòng này được nhóm nhạc Uppsala Chamber Soloists trình diễn như một
món quà đặc biệt tặng ông.
Adagio
trong âm nhạc là nhịp điệu của sự tĩnh lặng và tình yêu, là sức mạnh cứu rỗi và
sự chữa lành.
Tiểu thuyết
gia nổi tiếng Thomas Mann từng mong muốn tác phẩm này được vang lên bên giường
bệnh lúc ông lâm chung, nghệ sĩ piano Arthur Rubinstein cũng có nguyện vọng tương
tự. Benjamin Britten từng nhận định rằng “năm cuối đời của Schubert là năm kỳ
diệu nhất trong lịch sử âm nhạc”. Bản nhạc được hoàn thành chỉ
hai tháng trước khi nhà soạn nhạc qua đời vào năm 1828, tác phẩm này thường được
mô tả là mang "phong cách hậu kỳ" (late style). Nhưng thực chất điều
đó có nghĩa là gì? Schubert khi ấy mới chỉ ở độ tuổi cuối đôi mươi, dù ông chắc
chắn là một nhà soạn nhạc dày dạn kinh nghiệm, điềm tĩnh và đầy tự tin. Liệu
Schubert có linh cảm về cái chết, và phải chăng nhận thức đó đã khơi nguồn cho
sự thăng hoa của một phong cách sáng tác mang dấu ấn giai đoạn cuối đời? Như một
học giả từng viết: "Liệu có thỏa đáng không khi nói về 'phong cách hậu kỳ'
ở một nhà soạn nhạc qua đời khi còn quá trẻ... Phải chăng hậu kỳ luôn là dấu hiệu của một cuộc đời dài lâu, hay nó có thể nảy
sinh từ nhận thức rằng hồi kết đang đến gần?"
Schubert
mắc bệnh giang mai vào năm 1822, và tuyệt vọng tột cùng khi bệnh tình ngày càng
tồi tệ hơn, những hy vọng rực rỡ nhất đã tan thành mây khói, người mà hạnh phúc
của tình yêu và tình bạn chẳng mang lại điều gì ngoài nỗi đau đớn.
Có
nhiều tranh luận về việc liệu phong cách sáng tác của Schubert phát triển sau
năm 1822 là do sự đối diện với cái chết hay chỉ là một phần trong quá trình tiến
hóa phong cách tự nhiên. Mặc dù hai luồng quan điểm trái ngược này khó có thể
dung hòa, người ta cũng cho rằng Schubert đã tiếp cận việc sáng tác với "một
sự nghiêm túc, tính chủ quan và sự tự vấn khắt khe mới mẻ, vượt xa nguyên tắc
tìm kiếm niềm vui trong những buổi tụ họp thân mật (Schubertiades). Sự toàn vẹn
mà ông đạt được cho thấy ông không còn viết nhạc chỉ để làm vui lòng bạn bè, kiếm
lợi nhuận cho nhà xuất bản hay giải trí cho công chúng. Giờ đây, về cơ bản, ông
sáng tác cho chính mình và cho tương lai."
Tác
phẩm Ngũ tấu giọng Đô trưởng chứa đựng những khía cạnh của vẻ đẹp thuần khiết lẫn
nỗi kinh hoàng tột độ. Về bản chất, tác phẩm mang tính chất giao hưởng, đồng thời
khơi nguồn từ những giông bão cảm xúc của chính Schubert lẫn những khát vọng
mang tính phổ quát của con người. Đối với Krzysztof Chorzelski, nghệ sĩ viola của
nhóm tứ tấu Belcea, bản Ngũ tấu cung Đô trưởng – hơn bất kỳ tác phẩm nào khác –
"chứa đựng mọi khía cạnh của Schubert: chất trữ tình tuyệt mỹ, bầu không
khí ấm áp, thân tình kiểu Vienna.
Chương
"Adagio" là một trong những tiếng lòng thổn thức đầy dằn vặt nhất của
âm nhạc nhân loại. Đó tựa như một bài thánh ca thoát tục, bao hàm niềm đam mê
và cường độ cảm xúc mãnh liệt, đối lập với nỗi lo âu và sự tuyệt vọng trong kiếp
nhân sinh. Tác phẩm vẫn có sức hút mãnh liệt bởi "tầm nhìn âm nhạc của
Schubert được khơi nguồn từ nỗi lo âu, sự khốn khổ và niềm hy vọng mong
manh."
* Mộc Nhân dịch - Tham khảo nguồn: Interlude.hk


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét