Bài thơ Alone (tiếng Thụy Điển: Ensamhet - Cô đơn) nằm trong tập Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở), 1962 và tập Bells and Tracks (Tiếng chuông và Dấu vết), 1966 của Tomas Tranströmer. Đây là bài thơ tự sự mang tính trải nghiệm cá nhân sâu sắc và rõ nét nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Trong buổi lễ trao giải Nobel VH 2011, bài thơ này cùng với nhiều bài thơ khác của Tomas Tranströmer là một trong những tiết mục được trình bày thay cho bài diễn từ. (1)
CÔ ĐỘC
Mộc Nhân dịch
ALONE - by Tomas Tranströmer, from Bells and Tracks
I.
Một buổi tối tháng Hai, tôi suýt nữa đã bỏ
mạng nơi này.
Chiếc xe trượt ngang trên mặt băng, lao
sang
phía bên kia đường. Những chiếc xe đang lao
tới –
ánh đèn của chúng – ập lại gần.
Tên tuổi tôi, các con gái tôi, công việc của
tôi
đều tuột khỏi tầm tay và lặng lẽ lùi lại
phía sau
xa dần, xa dần. Tôi trở nên vô danh
như một cậu bé giữa sân chơi bị kẻ thù vây
hãm.
Dòng xe cộ đang tới có những luồng sáng khổng
lồ.
Chúng chiếu thẳng vào tôi trong khi tôi cố
ghì chặt vô lăng
với nỗi kinh hoàng trong suốt, lờ lững như
lòng trắng trứng.
Những giây phút như dài ra – có cả khoảng
không gian trong đó –
chúng phình to tựa như những tòa nhà bệnh
viện.
Ta gần như có thể dừng lại
và thở hắt ra một chút
trước khi bị nghiền nát.
Rồi một điều gì đó đã níu lại: một hạt cát
cứu rỗi
hay một cơn gió kỳ diệu. Chiếc xe thoát khỏi
thế kẹt
và lao nhanh, lướt gọn qua mặt đường.
Một cột mốc dựng lên rồi gãy vụn – một tiếng
va chạm chát chúa – nó
văng biến vào màn đêm.
Rồi – sự tĩnh lặng. Tôi ngả người lại vào
dây đai an toàn
và nhìn thấy ai đó đang bước qua màn tuyết
cuộn xoáy
để xem chuyện gì đã xảy ra với tôi.
II.
Tôi đã đi bộ một quãng đường dài
trên những cánh đồng băng giá vùng
Östergötland
chẳng gặp lấy một bóng người.
Ở những nơi khác trên thế giới
có những người sinh ra, sống và chết đi
giữa đám đông vây kín không dứt.
Để luôn hiện diện trong tầm mắt – để sống
giữa muôn vàn ánh nhìn –
người ta buộc phải hình thành một vẻ mặt đặc
biệt.
Gương mặt phủ một lớp đất sét. Tiếng rì rầm
lúc lên lúc xuống
trong khi họ chia chác cho nhau
bầu trời, những bóng râm, và những hạt cát.
Tôi cần được ở một mình
mười phút vào buổi sáng
và mười phút vào buổi tối.
– Không theo một lịch trình nào cả.
Mọi người đang xếp hàng trước cửa nhà nhau.
Nhiều người.
Một người.
------------
Chú thích:
(1). Lễ trao giải Nobel VH 2011 -
(2). Text available here
(3). Bài thơ Alone (tiếng Thụy Điển: Ensamhet - Cô đơn) nằm trong tập Half-Finished Heaven (Thiên đường dang dở), 1962 và đưa vô tập Bells and Tracks (Tiếng chuông và Dấu vết), 1966 của Tomas Tranströmer. Đây là bài thơ tự sự mang tính trải nghiệm cá nhân sâu sắc và rõ nét nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông. Trải nghiệm cận kề cái chết từ một tai nạn giao thông vào mùa đông, khi đang lái xe trên con đường băng giá, chiếc xe của ông bị mất lái, trượt sang làn đường đối diện và lao trực diện về phía một chiếc xe tải đang đi tới. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, chiếc xe của ông đã dừng lại chỉ trong gang tấc. Mặc dù thoát chết an toàn về mặt thể xác, chấn động tâm lý từ trải nghiệm đó đã sinh ra bài thơ Alone. Qua bài thơ này, Tranströmer lột tả sự mỏng manh rợn ngợp khi đứng ở ranh giới giữa sự sống và cái chết. Tựa đề bài thơ là Cô đơn/Đơn độc, nhưng Tranströmer không nhìn sự đơn độc như một trạng thái đáng thương hay đáng sợ. Sự cô đơn là một thực tại căn bản của định mệnh, không ai có thể trải nghiệm thay ta khoảnh khắc đó. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành một trạng thái tỉnh thức nguyên sơ, đối diện trực tiếp với bản thể và vũ trụ cùng lời nhắc nhở về sự bất định của số phận. Đôi khi nó là quãng nghỉ cần thiết để con người nhận diện giá trị thực sự của sự sống và sự tồn tại của con người sau khi đã bước qua bóng tối của cái chết.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét