14/9/26

3.997. SCHUBERTIANA - Tomas Tranströmer

 


Nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert

  Schubertiana nằm trong tập thơ Những rào cản sự thật (The Truth-Barrier) của Tomas Tranströmer, là một trong những đỉnh cao xuất sắc nhất của thơ ông, khám phá vai trò của âm nhạc như một liều thuốc giải cho sự chia cắt, manh mún vốn là đặc trưng của đời sống đương đại. Năm phần của bài thơ đề cập đến nhiều hình ảnh khác biệt nhưng vẫn gắn kết với nhau nhờ cùng hướng về một chủ đề trung tâm: tinh thần âm nhạc của Schubert. 

  Tác phẩm không chỉ là sự tri ân dành cho nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Franz Schubert, mà còn là nói lên sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật đối với con người.

 ***

SCHUBERTIANA (1)

Mộc Nhân dịch (2)

SCHUBERTIANA - TomasTranströmer, from The Truth Barrier - 1978 (3)

 

I.

Màn đêm buông xuống ngoại ô New York,

tại một điểm quan sát, bao quát được nơi ở

của tám triệu con người.

Thành phố lớn tựa như một dải sáng lung linh trải dài,

một thiên hà xoắn ốc nhìn từ góc nghiêng.

Trong thiên hà ấy, tách cà phê được đẩy trên quầy,

những ô kính cửa hiệu như đang nài nỉ người qua đường,

và những bước chân vội vã chẳng để lại dấu vết nào.

Những chiếc thang thoát hiểm bám vào vách tường,

cửa thang máy trượt khép lại,

và sau những cánh cửa bị cảnh sát khóa chặt

tiếng người xôn xao không dứt.

Những thân hình rũ rượi đang thiu ngủ

trên các toa tàu điện ngầm –

những đường hầm lao vun vút trong lòng đất.

 

Tôi biết rằng - ngay lúc này đây, âm nhạc Schubert đang vang lên

trong một căn phòng nào đó, với ai đó,

những nốt nhạc ấy còn chân thực hơn bất cứ điều gì khác.

 

II.

Những khoảng không gian vô tận của bộ não

bị thu nhỏ lại, nhăn nheo chỉ bằng nắm tay.

Tháng Tư về, chim én lại quay lại chiếc tổ cũ

dưới máng xối của chính

ngay cái kho thóc này, tại chính giáo xứ này.

Nó bay từ Transvaal, vượt qua đường xích đạo,

bay suốt sáu tuần qua hai lục địa,

để tìm về đúng cái chấm nhỏ bé

đang dần khuất tầm mắt giữa mênh mông đất đai.

Và người đàn ông thu trọn tín hiệu của cả một cuộc đời vào vài hợp âm

giản dị cho năm dây đàn,

người khiến dòng sông chảy qua lỗ kim,

lại là một chàng trai trẻ vạm vỡ đến từ Vienna,

được bạn bè gọi là "Nấm",

người vẫn đeo kính khi ngủ

và luôn đứng làm việc tại bàn viết đúng giờ mỗi sáng.

Và rồi, những nét chữ chân rết tuyệt diệu trong bản thảo của ông bắt đầu chuyển động

 

III.

Nhóm ngũ tấu đàn dây đang chơi nhạc.

Tôi đi bộ về nhà qua những cánh rừng ấm áp,

dưới chân là mặt đất đàn hồi êm ái,

cuộn mình lại như một bào thai, chìm vào giấc ngủ,

lăn nhẹ bẫng về phía tương lai,

rồi chợt cảm thấy cây cỏ cũng biết suy tư.

 

IV.

Biết bao điều ta phải tin tưởng, chỉ để sống trọn một ngày thường nhật mà không

bị sụt lún xuống lòng đất!

Tin vào lớp tuyết dày bám trên sườn núi phía trên ngôi làng.

Tin vào lời hứa của sự tĩnh lặng và nụ cười thấu hiểu, tin rằng

bức điện báo tin tai nạn không dành cho mình và nhát rìu bất ngờ

từ bên trong sẽ chẳng bao giờ giáng xuống.

Tin vào những trục xe đưa ta đi trên đường cao tốc, giữa bầy ong bằng thép

khổng lồ to gấp ba trăm lần kích thước thật.

Nhưng chẳng điều nào trong số đó thực sự xứng đáng với niềm tin của ta.

Năm dây đàn nói rằng ta có thể tin vào một điều khác.

Và chúng đồng hành cùng ta trên một chặng đường.

Như khi công tắc hẹn giờ tắt phụt nơi cầu thang và những ngón tay –

đầy tin cậy – lần theo tay vịn vô hình đang dò dẫm lối đi

trong bóng tối.

 

V.

Chúng tôi ngồi sát bên cây đàn piano và chơi bản nhạc giọng Fa thứ bằng bốn tay,

như hai người đánh xe cùng điều khiển một cỗ xe ngựa; trông thật buồn cười.

Đôi tay như đang di chuyển những khối nặng đầy âm vang qua lại, tựa hồ như

chúng tôi đang can thiệp vào các quả đối trọng

trong nỗ lực phá vỡ sự cân bằng khủng khiếp của cán cân vĩ đại: nơi niềm vui và

nỗi đau có trọng lượng ngang bằng nhau.

Annie nói: "Âm nhạc thật hào hùng," và cô ấy nói đúng.

Nhưng những kẻ luôn dõi theo đầy ghen tị 

những con người hành động, những kẻ thầm

khinh rẻ bản thân vì đã không trở thành kẻ sát nhân,

lại chẳng thấy hình bóng mình ở đây,

và biết bao kẻ mua bán con người, tin rằng ai cũng có thể bị

mua chuộc, cũng chẳng thấy hình bóng mình ở đây.

Không phải âm nhạc của họ.

Giai điệu vĩnh cửu vẫn vẹn nguyên qua mọi biến hóa -

lúc thì lấp lánh, uyển chuyển, lúc lại gồ ghề, mạnh mẽ,

tựa vệt ốc sên và cũng tựa dây thép.

Tiếng ngân nga bất tận dõi theo ta -

ngay lúc này

vươn lên

từ vực sâu. (4)

------------

Chú thích:

(1). Về tựa đề Schubertiana bao gồm tên nhạc sĩ nổi tiếng người Áo Schubert + iana. Hậu tố -ana/ -iana trong tiếng Latinh khi gắn vào tên một nhân vật A sẽ mang nghĩa: "Tất cả những gì thuộc về, liên quan đến, hoặc mang tinh thần của A". Ví dụ: Schubertiana, Shakespeareana,  Mozartiana… có thể dịch là phong cách/ tinh thần/ sinh quyển của Schubertiana, Shakespeareana, Mozartiana… Schubertiana không chỉ đơn thuần là một bài thơ viết về Schubert mà còn bao hàm cả không gian sinh quyển, giá trị xuyên suốt của Schubert nhìn qua lăng kính âm nhạc của thiên tài người Áo này. Tranströmer tìm thấy ở Schubert một người đồng điệu về thẩm mỹ, và nhịp điệu nội tâm trong ngôn ngữ chung duy nhất kết nối hai tâm hồn vĩ đại.

(2). Text available here

(3). Giải mã một số tín hiệu trong bài thơ:

  - Khổ I: Tác giả nhắc đến cảnh tượng đô thị, dòng người hối hả, những cấu trúc quy chuẩn bị kiểm soát bởi lịch sử và xã hội, giam cầm con người hiện đại trong một thế giới đông đúc, duy lợi và ngột ngạt. Tuy nhiên nơi đó có âm nhạc Schubertiana mở ra một "căn phòng bí mật" bên trong mỗi con người; chân thực hơn bất cứ điều gì khác.

  - Khổ II. a/ Hình tượng chú chim én bay suốt sáu tuần qua hai lục địa, tìm về chiếc tổ cũ dưới máng xối giữa mênh mông đất đai: thể hiện âm nhạc của Schubert cất cánh như một chú chim én, tự do bay lượn vang xa, lách qua những mắt lưới của thực tại. Đó là tâm hồn/ thần trí mà âm nhạc của Schubert cho con người đôi cánh để vượt lên. b/ Những nét chữ chân rết tuyệt diệu trong bản thảo (the wonderful centipedes of his manuscript) là những nét chữ/ nốt nhạc ngoằn ngoèo trên bản thảo của Schubert trông như những con rết nằm yên trên trang giấy nhưng khi nhạc công bắt đầu chơi bản nhạc, những nốt nhạc im lìm ấy cựa quậy và chuyển động, thành một sinh thể sống động. Đây là tín hiệu về sự phục sinh của cái đẹp - nghệ thuật đích thực có khả năng đánh thức sự sống từ những dấu vết khô khốc.

  - Khổ V: Hình ảnh chơi nhạc bằng bốn bàn tay (Piano Four Hands): miêu tả hai người cùng ngồi chơi chung trên cây đàn piano thể hiện sự giao thoa, đồng điệu tuyệt đối giữa hai cá thể, nó đòi hỏi hai người phải lắng nghe từng nhịp thở, từng chuyển động ngón tay của nhau. Đây là tín hiệu của sự kết nối chân thật. Trong một thế giới đầy hoài nghi và cô độc, âm nhạc là chiếc cầu nối xóa bỏ khoảng cách giữa người với người mà không cần đến lời nói; nơi họ đạt đến trạng thái mà ở đó "hạnh phúc và khổ đau có sức nặng ngang bằng nhau."

***

  Trong thế giới hiện đại nơi con người sống cô lập giữa sự bành trướng của đô thị cùng với những mối đe dọa thể chất và tinh thần, Tranströmer gợi mở rằng, âm nhạc nói chung và với ông thì âm nhạc của Schubert mang lại một phương thức gần như mang tính trực giác để con người định hướng bản thân giữa một môi trường đầy tính chia rẽ. Những trải nghiệm thẩm mỹ ấy là một sức mạnh giải phóng, bước vào một không gian tinh thần nơi họ có thể kết nối và hòa mình vào một điều gì đó vượt ra ngoài bản thân.

(4). References:

  - Nobelprize.org

  - Blog Mộc Nhân

  - Poetryfoundation.org 

  - Literariness.org

 * Mộc Nhân dịch và chú thích



 

 

 

 

Không có nhận xét nào: