Hôm nay ngày 18 tháng 8 âm lịch, trong Cao Đài Đại Đạo, là ngày vía Đức Lý Thái Bạch (thi hào Lý Bạch đời Đường) còn gọ là Lý Giáo Tông, Lý Đại Tiên, Lý Trích Tiên… Ngài là một vị Đại Tiên tối cao, giữ ngôi vị Nhất Trấn Oai Nghiêm và kiêm nhiệm chức Giáo Tông Vô Vi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
I. ĐỜI:
Ở trần thế, ngài là Lý Bạch
(701–762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên Cư sĩ – nhà thơ lãng mạn vĩ đại đời
nhà Đường (Trung Quốc), được mệnh danh là "Thi tiên". Theo thánh giáo
Cao Đài, chơn linh của Ngài vốn là tinh hoa từ ngôi sao Thái Bạch (Kim Tinh),
gánh vác trọng trách lớn lao ở cõi thiêng liêng từ thời Phong Thần cho đến đời
Đường thì lâm phàm giáng thế.
Trong cuốn “Thi Tiên Lý
Bạch” (Nxbả Văn Hóa - Hà Nội năm 1995) nơi đầu trang có ghi: “Một mảnh sao băng
vụt xuống cõi trần” ý nói Ngài là một vị tiên vừa giáng xuống trần nên người đời
thường gọi Ngài là Lý Trích Tiên.
Ngài sinh năm 701 (vào
tháng 8), theo truyền thuyết, vào một đêm giông bão, bỗng có một tia chớp sáng
rực một góc trời rồi làm mây tan dần và xuất hiện một ngôi sao ở góc trời Tây Bắc,
ngôi sao bỗng sáng hẳn lên giống như mặt trăng vào đêm rằm tháng 8. Đó là Ngôi
Sao Thái Bạch. Từ ngôi sao ấy, một vệt sáng xuất hiện, sa xuống và cũng đêm ấy
có một người mẹ sanh một bé trai khôi ngô lạ thường. Người cha tên là Lý Khách
ra giữa sân cầm cung tên bắn đi bốn phương Đông - Tây - Nam - Bắc. Theo tục lệ
ngày xưa ở xã hội Trung Quốc, khi cha mẹ sanh con trai thường lấy thân cây dâu
làm cung (tang) và lấy cỏ bồng (bồng) làm tên bắn đi bốn phương trời để nói lên
chí khí của kẻ làm trai sau này tung hoành vùng vẫy, gọi là “chí tang bồng”.
Ngài ra đời trong sự
mong ước và nâng niu của cha mẹ. Lai lịch tổ tiên Ngài chưa ai tường.
- Từ 1 đến 5 tuổi: Gia đình Ngài sống những nơi nào cũng khó định được, có lẽ
gia đình Ngài sống ở miền Trung Á, vùng đất có tên là Toái Diệp. Thuở ấy, Toái
Diệp là miền Trung Du có đồi núi, rừng rậm, dân cư sống bằng nghề săn bắn, về
sau buôn bán tơ lụa. Cuộc đời của thi sĩ Lý Bạch gắn liền với cảnh thiên nhiên
hùng vĩ, với ánh trăng, với rượu, với thi thơ.
Thời gian này, triều nhà
Đường qua mấy chục năm Võ Tắc Thiên cầm quyền đã làm xôn xao dư luận không ít,
bà đã thẳng tay giết hại những người không phục tòng bà, rồi Võ Hậu cũng qua đời
lúc 82 tuổi. Giữa lúc triều Đường có sự thay đổi thì cha Ngài bị nghi oan nên bị
đánh đập và bị buộc phải rời khỏi Toái Diệp (lệnh phóng trục). Gia đình dời
sang Tứ Xuyên trong sự đau buồn của nhiều người trong làng nhất là các bạn nhỏ
của Ngài. Buổi chia tay đầy xúc cảm, các bạn tặng Ngài một thanh gươm gỗ, còn
người cậu ruột tặng một cây đàn.
Từ Toái Diệp đến Tứ
Xuyên phải trải qua nhiều đoạn đường quanh co khúc khuỷu; trên đường đi thì mẹ
Ngài mất. Tứ Xuyên là một tỉnh ở miền núi trùng điệp, mây trắng phủ ngàn, đượm
đầy vẻ thanh tú. Về Tứ Xuyên, gia đình Ngài định cư ở huyện Chương Minh, nơi có
nhiều hồ, phong cảnh thật ngoạn mục. Tài năng giờ đây đang phát triển ở một con
người tí hon mà ai ai cũng phải kinh ngạc, bởi một cậu bé mới lên năm đã học
thuộc làu lục giáp.
Ngài thông minh, lại rất
ham học: 6 tuổi đã say mê đọc Tứ thư; 10 tuổi thông thạo Kinh - Thư - Lễ - Nhạc;
15 tuổi đã viết bài: “Minh Đường Phú”… Thời gian này, Ngài đã dành hết thời giờ
vào việc học ngày học đêm, học nát kinh thư, học làu sử sách. Có hôm cha Ngài
tìm không thấy, đêm đã khuya, rồi tìm mãi đến gốc cây thấy Ngài đang mải mê đọc
đến nổi quên rằng đã sang canh ba; đặc biệt là Ngài học để hiểu biết chớ không
chịu ra thi cử.
Ngài cũng là một tay kiếm
cao cường võ nghệ. Lúc còn nhỏ thường hay đánh kiếm gỗ với các bạn nhỏ trong
làng. Đến Tứ Xuyên thì Ngài chỉ cho các bạn múa kiếm. Tuy còn nhỏ, nhưng đường
kiếm của Ngài rất rõ nét, linh hoạt, chắc chắn, thành thạo. Khi còn sống, mẹ
Ngài không muốn con mình chơi kiếm, còn cha thì muốn thanh kiếm gỗ sau này
thành bảo kiếm.
Lên 15 tuổi, khi triều đại
nhà Đường với niên hiệu Khai Nguyên đã bước vào năm thứ ba thì Ngài đã là tay
kiếm thành thạo và đó chính là niềm mơ ước của cha từ lâu rằng: “Lớn lên con của
ta sẽ vung kiếm tung hoành bốn bể.” Có thể nói kiếm thuật của Ngài đã nổi tiếng
khắp vùng, và hầu hết những cảnh núi rừng, hang động đều in dấu chân của tay kiếm
lừng danh này. Tương truyền rằng: Một hôm, Ngài được một con voi dâng lên Ngài
một thanh kiếm vạn năng có khắc dòng chữ: “Độc phá vạn quyển thư/ Hành quá vạn
lý lộ.” (Đọc nát muôn quyển sách/ đi qua muôn dặm đường), và lúc ấy bên tai
Ngài nghe lời dạy rằng: “Cầm lấy thanh gươm này, con hãy xứng đáng với đời, hãy
làm một con đại bàng bay khắp thế gian, tung kiếm cứu vớt muôn người để giải
thoát và giành tự do cho thiên hạ.” Sau đó không lâu, chính thanh gươm này đã hạ
một con hổ dữ ăn thịt người để cứu biết bao sinh mạng khác.
Năm 35 tuổi, Ngài cùng vợ
con đến Nhiệm Thành (Đông Lỗ). Một hôm, trên thảm cỏ xanh, Ngài được Bùi Cửu là
một tay kiếm thuật chuyên nghiệp chỉ cho Ngài những đường kiếm đặc biệt, nhờ đó
mà sau này Ngài đã trở thành kiếm thủ nổi tiếng.
Ngài cũng là một tay đàn
nghệ thuật. Vào những đêm trăng sáng, Ngài thường gảy đàn dạo lên những tiếng
nhạc trầm bổng du dương hoặc đầy khí thế, thố lộ một tấm lòng khẳng khái. Tiếng
đàn và thanh kiếm của Ngài đã làm quen với bọn trẻ khi vừa đến dựng nhà ở Tứ
Xuyên.
Từ lâu Ngài đã là bạn của
núi rừng, gió trăng, mây nước, rượu thơ. 18 tuổi, Ngài đến Đái Thiên Sơn và Đại
Khuông Sơn, núi không cao lắm, mùa xuân hoa đào nở rộ thật đẹp, từ đỉnh núi
Ngài thu vào tầm mắt tất cả cảnh vật của non sông tổ quốc. Bao suy nghĩ hiện về:
trên dải đất mênh mông, biết bao máu xương cha ông đã đổ xuống để gầy dựng đến
ngày nay; trời đất biết bao là huyền bí làm sao khám phá để hiểu biết đến tận
cùng; thiên nhiên hùng vĩ quá, thân phận con người thật mong manh trước vũ trụ
bao la, trước những hiểm nguy chực chờ… Ngài đã viết hàng ngàn bài thơ về những
điều mình cảm thấu.
Ham học hỏi, đi khắp
nơi, biết suy nghĩ, yêu thiên nhiên, yêu con người… là cơ sở nguồn cảm hứng cho
những vần thơ tuyệt tác của một thiên tài: “Xuất khẩu thành thơ/ Vung bút tan
mây”. Tô Dĩnh, vị quan vừa nhậm chức ở Tứ Xuyên đã mến tài làm thơ của Ngài (dù
Tô Dĩnh bản thân là một nhà thơ nổi tiếng), mới gặp và trao đổi mấy vần với
Ngài là đã cảm phục và nói với bạn bè rằng: “Chàng trai ấy quả là một thiên tài
anh lệ, đặt bút xuống là thơ lên vần. Tuy chưa đến độ sung mãn nhưng đã có cốt
cách riêng. Nếu chàng học thêm nữa có thể sánh với Tương Như.” Hứa Vũ Sư, cựu
tướng quốc ở Yên Lục đã cảm thơ Ngài và nói: Quả là những vần thơ tiên “Thơ
kinh phong vũ” - (gió mưa kinh ngạc). Những vần thơ mang sức sống của thời đại
đã vang lên giữa nhân gian. Thơ đã có sức mạnh đập núi ngăn sông, lay chuyển cả
núi rừng. Nguyên Tham Quân (nhỏ hơn Ngài 10 tuổi ) là con của vị quan biên
phòng đã khâm phục rằng: “Trong thơ ấy nghe có tiếng suối chảy róc rách, có tiếng
gió thì thầm, có cơn gió nhẹ, có màu xanh của trời, màu trắng của nước. Trong
thơ ấy có cả bầu không gian vô tận, có nắng chiều nhạt dần, có cò trắng bay
bay. Trong thơ ấy có tiếng đá lở, đất nhào, có phong ba bão táp, có dáng núi đứng
vươn mình chọc thủng cả trời xanh. Có bước chân người khám phá những bí mật của
đất trời. Có tiếng chim, tiếng cá, tiếng hổ rống, tiếng voi gầm, có ánh hồng
tia nắng ban mai, có trăng sáng đồi thông.”
Biết bao là cuộc đời, là
con người, là cảnh vật, cầm thú, chim muông đã đi vào thơ của Ngài làm thành một
bản hòa tấu tuyệt vời giữa con người và vũ trụ. Ngô Quân: “Chưa thấy một ai có
thể so sánh với Lý Bạch được. Mỗi lần họ Lý hạ bút quả là gió mưa sấm chớp giựt
mình, cả trời đất chuyển động. Những vần thơ có sức sống làm thức dậy cả muôn
loài, dù có vật muốn ngủ giấc ngàn thu.” Ngô Quân thảo tờ tấu nghị lên vua Đường
tiến cử nhà thơ Lý Bạch: “Đây là con người lừng danh vũ trụ, thông đạt cổ kim,
văn võ toàn tài, lý tình đầy đủ. Nhà vua được người này khác gì nhà Hán xưa được
Trương Tử Phòng.”
***
Ngài đã từng thuộc làu
kinh sử, thấm nhuần tư tưởng nhập thế giúp đời của Nho giáo. Trong cuộc sống
nhân loại đang đòi hỏi con người phải xứng đáng với đời, góp sức mình vào xã hội.
25 tuổi cường tráng, tràn đầy hy vọng, tâm hồn rộng mở, Ngài thu hút tất cả những
tinh hoa của mạch sống thời đại, bước giữa con đường thênh thang, tự do, không
vướng bận công danh và thí trường. Ngài gởi gắm chí hướng mình vào bài “Đại
Bàng Phú”, hoài bão là “vào đời, cứu vớt thiên hạ bằng tài sức của mình.” Ngài
đã can đảm đối diện với tử thần để cứu người ngay gặp nạn được truyền tụng qua
câu chuyện người lính tên Quách Tử Nghi gác đêm ngủ quên trong đêm mưa tầm tã để
cho trộm vào kho khuân mất hơn chục thanh kiếm đồng và 2 chuông lớn.
Nghiêm Quân đòi Quách Tử Nghi ra hỏi tội sau đó lập tờ tấu lên triều đình và
nhà Vua phê bản án xử trảm. Thế rồi chính Ngài Lý Bạch đưa thân mạng mình ra cứu
Quách Tử Nghi ngay trước pháp đình. Người lính được thoát chết, sung sướng đến
chảy dầm dề nước mắt, cảm ơn người cứu mạng. Khi từ giã về quê, Quách Tử Nghi
còn được Ngài Lý Bạch cho vàng, bạc, lụa để sinh sống.
***
Bên cạnh tài năng xuất
chúng, đức độ hơn người, lại can đảm cứu người (một hành động đầy đủ nhân, trí,
dũng), nhưng người đời có biết đâu trên đường Thiên Đạo Ngài còn là bậc chân tu
đắc Đạo. Điều này chính Ngài đã xác nhận vào đêm 4.11.1931 tại Chiếu Minh Đàn
(Cần Thơ) để khuyến tu như sau: “Ta lúc ở thế nước nhà trọng dụng, nhưng ta xét
lại, chốn phù hoa ít ai hưởng đặng trăm năm cho nên ta tầm sư học đạo, đặng
thành chánh quả. Từ nhà Đường, đời Ngũ Quí nhà Tống, nhà Nguơn, nhà Minh, trào
Thanh đến nay có 1300 năm dư mà ta tiêu diêu tự tại chốn Tiên cung. Còn cuộc thế
dầu cho làm đến bực Vương Hầu, Tể Tướng, ít ai hưởng lộc đến 80, chớ tuổi Tiên
muôn kiếp chẳng già. Nay ta mừng cho kẻ thế gặp cuộc Long Hoa Tam nguơn đại hội,
khai xuất Nhơn Hoàng, Trời mở Đạo mầu độ tận chúng sanh.”
II. ĐẠO:
Ngài là Nhất Trấn Oai
Nghiêm, đứng đầu trong Tam Trấn Oai Nghiêm (gồm Lý Thái Bạch, Quan Thánh Đế
Quân và Quan Âm Như Ý), có nhiệm vụ gìn giữ kỷ luật, bảo vệ và chấn chỉnh nền đạo.
Theo tổ chức ban đầu,
ngôi Giáo Tông hữu hình (lãnh đạo toàn thể tín đồ) chưa có người đảm nhận trọn
vẹn tại thế. Do đó, Đức Chí Tôn (Đức Thượng Đế) đã giao phó cho chơn linh Đức
Lý Thái Bạch kiêm nhiệm chức Giáo Tông Vô Vi, trực tiếp điều hành mối đạo qua
hình thức cơ bút.
Vì Ngài ở cõi vô vi
(thiêng liêng), vào năm 1930, Đức Lý Giáo Tông đã ban ơn và trao quyền cho Ngài
Đầu sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung) giữ chức Quyền Giáo Tông để lãnh đạo phần
hành hữu hình điều khiển nhân sanh và xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh.
Sự hiện diện của Đức Lý
Thái Bạch cho thấy sự giao hòa giữa thiên giới và trần thế. Ngài vừa dìu dắt
chư linh tinh quân, vừa là vị thầy thiêng liêng trực huấn, ban hành nhiều thánh
ngôn, thánh giáo cốt yếu cho tôn chỉ Cao Đài.
Qua các đàn cơ, lời văn
của Ngài thường mang khí phách hào hùng, sáng suốt, minh triết nhưng cũng đầy phóng
khoáng, phản ánh tinh thần đạo pháp dung hợp Nho - Lão - Phật.
***
Trong đàn cơ đêm 4/ 11/ 1931,
Ngài đã xưng danh bằng bài thơ chữ Hán: “Thập bát niên dư tử kế truyền/ Thiên
khai nhứt mạch điểm huờn nguyên/ Qui y Phật giáo phản hồi bổn/ Đại chí diệt trần
thị vị tiên.” (Chiết tự: Chữ thập (十) hiệp với chữ bát (八) là
chữ mộc (木),
thêm chữ tử (子)
vào thành chữ LÝ (李). Chữ thiên (天) mà bớt đi một ngang đầu, còn lại chữ
đại (大)
thêm một chấm thành chữ THÁI (太). Chữ qui (皈) mà bớt chữ phản (反) còn
lại chữ BẠCH (白).
Tức là: LÝ THÁI BẠCH ĐẠI TIÊN.)
Đức Lý Giáo Tông đã lý
giải sâu xa bài thơ này về việc luyện đơn như sau: “Thiên khai ư Tý, địa tịch ư
Sửu, chữ Tý hiệp với chữ Mộc là Kim, Kim Mộc hiệp ấy là thủy hỏa tương phối. Thiên
khai nhứt mạch là qui nhứt nghĩa là chữ Thiên bớt một nét còn chữ đại, chữ đại
có 3 nét là Tinh, Khí, Thần gọi là Tam huê và điểm một chấm là Tam huê tụ đảnh.
Chữ qui bằng chữ bạch và chữ phản, nghĩa là người sanh tại trần cấu thì bị khí
trược ràng buộc, cho nên chữ tâm đã nhuộm bầm đen và đỏ, nay học Đạo phải luyện
cho đỏ trở lại. Trắng là bỏ chữ phản còn lại chữ bạch nghĩa là phản hồng vi bạch,
cho nên phép luyện đạo từ nhất chuyển đến cửu chuyển thì cái lòng đã sạch, tâm
trắng lại như hồi mới sanh. Còn câu chót: hễ người tu mà có đại chí phủi hết cuộc
trần mới gọi là Tiên.”
Đức Giáo Tông Vô Vi Đại
Đạo từ thuở mới khai Đạo cho đến nay đã dạy cho nhơn sanh không thiếu một điều
gì từ việc tổ chức nền Đạo, đến nghi lễ, hành chánh, giáo lý tu tập, pháp môn
tam công. Ngài đã dạy cho người tín đồ Cao Đài: “Người đạo Cao Đài là gương mẫu,
là chiếc đò, là nhịp cầu đưa khách từ bến mê sang bến giác, là điện đài thu
phát động năng thúc đẩy sự thống hiệp giáo lý, là tinh chất của Tạo Hóa kết hợp
sự thương yêu cho toàn diện thế giới nhân loài.”
Tấm gương sáng từ cuộc sống
đời đến đạo, đó là sống Đạo, tức là tự độ; học - tu - hành để trau dồi Tâm - Hạnh
- Đức - Tài theo phương pháp Tam công. Ngài dạy: “Là môn đệ Cao Đài Thượng Đế/ Phải
dặn lòng phước huệ song tu/Ấy là công quả công phu/ Thương người mến vật vận
trù nội tâm.”
Và: “Tài với đức đổi
trao phụng sự/ Tâm với tài bực thứ không hai/ Có tâm mà lại có tài/ Đức Tâm Tài
đủ Đạo Thầy hoằng dương.”
Tinh thần độ tha: “Chèo
thuyền Bát Nhã độ quần sanh/ Lướt dặm trùng dương vượt thác ghềnh./ Thuyền Đạo
buồm trương lướt biển trần/ Vớt người chìm đắm thoát mê tân/ Phục hồi nguyên bổn
nơi thanh tịnh/ Khỏi chốn luân hồi của thế nhân.”
Thúc đẩy sự thống hiệp
giáo lý: “Kỳ ân xá Cao Đài cứu thế/ Buổi hạ nguơn bốn bể chung nhà/ Thống truyền
giáo lý tam gia/ Đạo qui chánh đạo, nhơn hòa đức nhơn.”
***
Vì ý nghĩa cao siêu mầu
nhiệm của cơ tận độ kỳ ba, của sự xuất hiện Đấng Giáo Chủ Cao Đài chính là Đức
Thượng Đế, đã nói lên tất cả nhơn loại đều là con một Cha để cùng nhìn nhau là
anh em. Do đó, người tín đồ Cao Đài muốn trở thành một điện đài thâu phát động
năng thúc đẩy sự thống hiệp giáo lý theo lời dạy của Đức Lý Giáo Tông, cần nuôi
dưỡng tinh thần phá chấp như lời dạy của Đức Ngô Đại Tiên sau đây: “Người tín đồ
Cao Đài luôn luôn tôn trọng các xu hướng tín ngưỡng, đem tình thương hòa đồng
khắp cả mọi giới, đem thiện cảm gieo rắc mọi nơi, để người người đều nhìn nhận
cái lý duy nhứt là cứu thế qua khỏi cơ tận diệt hầu xây dựng hòa bình hạnh phúc
nhân loại dưới ngưỡng cửa Đài Cao.”
Ngoài ra, trong tôn giáo
Cao Đài, mỗi mỗi đều mang dấu ấn của Đại Đạo, từ biểu tượng Thiên Nhãn, Đấng
Giáo Chủ, ý nghĩa hai chữ Cao Đài, thờ Tam Giáo - Tam Trấn đến mục đích, tôn chỉ,
lập trường của nền Đạo: “Người vẫn tưởng Cao Đài tôn giáo/ Nào hay đâu Đại Đạo
hoằng dương/ Gồm thâu trăm nẻo ngàn đường/ Tam nguơn chuyển thế định phương phục
hoàn.”
Và con người là cơ thể của
sự thương yêu, cho nên có tình thương, mới có bảo tồn, mất tình thương sẽ đưa đến
cơ tận diệt. Đức Lý Giáo Tông đã nói về đời mạt kiếp: “Thế sự điêu linh, lòng
người ly tán, đời đạo tranh phân, tình thương đồng loại dường như không còn nữa.
Đức tin đối với Thiêng Liêng tợ như mơ hồ, người đời hết hy vọng tạo một sự
nghiệp gì vĩnh cửu ở ngày mai, đang vui vội sống cuồng với những gì hiện tại, đạo
đức lần hồi dường như bị khinh rẻ. Đó là báo hiệu cơ tận diệt sắp đến.”
Thực hiện rốt ráo lời dạy
trên của Đức Giáo Tông, người tín đồ Cao Đài sẽ đạt thành trên đường tu tập, góp
tay xây dựng xã hội Thánh Đức và cũng là một tín đồ Cao Đài làm sáng danh Thầy
danh Đạo.
Mộc Nhân, kết tập từ nhiều
nguồn
(18/ 8/ Bính Ngọ - 28/
9/ 2026)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét