Năm 2012, Mo Yan - Mạc Ngôn (1956) - Tiểu thuyết gia Trung Quốc, được trao giải Nobel Văn học “người đã kết hợp truyện dân gian, lịch sử và hiện thực đương đại bằng chủ nghĩa hiện thực ảo giác” (who with hallucinatory realism merges folk tales, history and the contemporary). Mạc Ngôn đã trình bày bài diễn từ nhận giải Nobel VH của mình vào ngày 7 tháng 12 năm 2012 tại Viện Hàn lâm Thụy Điển, Stockholm. Bài diễn từ này Những người kể chuyện (Storytellers).
***
NHỮNG NGƯỜI KỂ CHUYỆN
Mộc Nhân dịch (*)
STORYTELLERS – by Mo Yan
Kính thưa các thành viên
đáng kính của Viện Hàn lâm Thụy Điển, thưa quý vị và các bạn.
Thông qua truyền hình và
Internet, tôi tin rằng mọi người ở đây ít nhiều đều đã biết đến vùng đất Cao Mật
Đông Bắc xa xôi. Quý vị có thể đã thấy người cha chín mươi tuổi của tôi, cũng
như các anh em trai, chị em gái, vợ, con gái và cả cô cháu gái mới một tuổi bốn
tháng của tôi. Nhưng người mà tôi nghĩ đến nhiều nhất vào lúc này – mẹ tôi – lại
là người mà quý vị sẽ không bao giờ được nhìn thấy. Nhiều người đã cùng chia sẻ
vinh dự khi nhận giải thưởng này, nhưng bà thì không.
Mẹ tôi sinh năm 1922 và
qua đời năm 1994. Chúng tôi đã an táng bà tại một vườn đào ở phía đông ngôi làng.
Năm ngoái, chúng tôi buộc phải di dời mộ phần của bà ra xa làng hơn để nhường
chỗ cho một dự án đường sắt. Khi đào mộ lên, chúng tôi thấy quan tài đã mục nát
và thi hài bà đã hòa vào lớp đất ẩm ướt xung quanh. Vì vậy, chúng tôi đã lấy một
ít đất đó – một hành động mang tính biểu tượng – và mang đến nơi an táng mới.
Chính lúc đó, tôi thấu hiểu rằng mẹ tôi đã trở thành một phần của đất đai, và
khi tôi trò chuyện với Đất Mẹ, thực chất là tôi đang trò chuyện với chính mẹ
mình.
Tôi là đứa con út của mẹ.
Ký ức sớm nhất của tôi là lần mang chiếc bình giữ nhiệt duy nhất của nhà ra
căng-tin công cộng để lấy nước uống. Vì đói lả người, tôi đã làm rơi vỡ bình. Sợ
hãi tột độ, tôi trốn biệt trong đống rơm suốt cả ngày hôm đó. Đến chiều tối,
nghe tiếng mẹ gọi tên cúng cơm của mình, tôi mới bò ra khỏi chỗ trốn, lòng chuẩn
bị tinh thần sẽ bị đánh đòn hoặc mắng nhiếc. Thế nhưng mẹ không đánh, cũng chẳng
hề mắng mỏ tôi. Bà chỉ xoa đầu tôi rồi thở dài.
Ký ức đau lòng nhất của
tôi gắn liền với lần cùng mẹ ra cánh đồng của hợp tác xã để mót lúa mì. Những
người đi mót lúa tản ra chạy trốn ngay khi thấy người canh gác. Nhưng mẹ tôi, với
đôi bàn chân bó, không thể chạy thoát; bà bị gã canh gác – một gã đàn ông to
xác – bắt lại và tát mạnh đến mức ngã nhào xuống đất. Hắn tịch thu số lúa mì
chúng tôi đã mót được rồi thản nhiên bỏ đi, miệng huýt sáo. Khi ngồi bệt dưới đất
với đôi môi rướm máu, mẹ lộ vẻ tuyệt vọng mà tôi không bao giờ quên được. Nhiều
năm sau, khi tình cờ gặp lại gã canh gác năm nào – lúc này đã là một ông lão
tóc bạc phơ – ở chợ, mẹ đã phải ngăn tôi lại khi tôi định xông đến trả thù cho
bà: "Con à," bà điềm tĩnh nói, "người đàn ông đánh mẹ ngày xưa
và ông lão này không phải là cùng một người đâu."
Ký ức rõ nét nhất của
tôi là vào một buổi trưa ngày Tết Trung thu – một trong những dịp hiếm hoi cả
nhà được ăn sủi cảo, mỗi người một bát. Một ông lão ăn mày ghé qua nhà đúng lúc
chúng tôi đang ngồi ăn; khi tôi định đuổi ông đi với nửa bát khoai lang khô,
ông tỏ vẻ giận dữ: "Tôi là người già," ông nói. "Các người đang
ăn sủi cảo ngon lành mà lại định cho tôi ăn khoai lang ư? Sao mà nhẫn tâm thế?"
Tôi cũng giận dữ đáp lại: "Cả năm chúng tôi may lắm mới được ăn sủi cảo
vài lần, mỗi người chỉ một bát nhỏ, nếm chút hương vị là hết! Ông phải biết ơn
vì chúng tôi cho khoai lang chứ; còn nếu không muốn nhận thì biến ngay khỏi
đây!" Sau khi quở trách tôi, mẹ trút nửa bát sủi cảo của mình vào bát của
ông lão. Ký ức khiến tôi hối hận nhất là lần giúp mẹ bán bắp cải ở chợ; trước
khi đến trường, tôi đã tính thừa của một cụ già trong làng một hào – dù là cố ý
hay vô tình thì giờ tôi cũng chẳng nhớ rõ nữa. Chiều hôm đó về nhà, tôi thấy mẹ
đang khóc – điều hiếm khi xảy ra. Thay vì mắng mỏ, bà chỉ nhẹ nhàng bảo:
"Con trai, hôm nay con đã làm mẹ phải xấu hổ."
Mẹ tôi mắc bệnh phổi nặng
khi tôi còn ở tuổi thiếu niên. Cái đói, bệnh tật và gánh nặng công việc khiến
gia đình tôi lâm vào cảnh vô cùng khốn khó. Tương lai phía trước mịt mù tăm tối,
và tôi luôn mang nỗi bất an, lo sợ rằng mẹ có thể sẽ tìm đến cái chết để giải
thoát. Mỗi ngày, việc đầu tiên tôi làm khi bước qua cửa nhà sau một ngày lao động
vất vả là gọi tìm mẹ. Được nghe tiếng bà như tiếp thêm sức sống cho trái tim
tôi, nhưng nếu không nghe thấy tiếng bà, tôi lại hoảng loạn tột độ. Tôi thường
chạy đi tìm bà ở gian nhà phụ hay ngoài cối xay. Có lần, sau khi tìm khắp nơi
mà không thấy, tôi ngồi bệt xuống sân và khóc nức nở như một đứa trẻ. Mẹ bắt gặp
tôi trong bộ dạng ấy khi bà vừa bước vào sân với bó củi trên lưng. Bà rất không
hài lòng về tôi, nhưng tôi chẳng thể nói ra nỗi sợ hãi trong lòng mình. Dù vậy,
bà vẫn hiểu thấu. Bà bảo: "Con trai, đừng lo lắng. Đời mẹ có thể chẳng còn
niềm vui, nhưng mẹ sẽ không bỏ con mà đi cho đến khi Diêm Vương gọi tên mẹ."
Tôi sinh ra với ngoại
hình xấu xí. Dân làng thường cười chê ngay trước mặt, còn đám bạn xấu ở trường
đôi khi cũng đánh đập tôi vì lý do đó. Tôi thường chạy về nhà trong nước mắt,
và mẹ lại an ủi: "Con không xấu đâu. Con có mũi, có hai mắt, tay chân cũng
lành lặn, sao lại gọi là xấu được? Nếu con có một tấm lòng lương thiện và luôn
làm điều đúng đắn, thì những gì bị coi là xấu xí cũng sẽ trở nên đẹp đẽ."
Sau này, khi chuyển lên thành phố, tôi gặp những người có học thức cười nhạo
sau lưng, thậm chí ngay trước mặt mình; nhưng mỗi khi nhớ lại lời mẹ dặn, tôi
chỉ bình tĩnh đáp lại bằng lời xin lỗi.
Dù không biết chữ, mẹ
tôi vẫn luôn dành sự kính trọng đặc biệt cho những người biết đọc biết viết.
Gia đình tôi nghèo đến mức nhiều khi chẳng biết lấy gì cho bữa ăn kế tiếp, vậy
mà bà chưa bao giờ từ chối khi tôi xin mua sách hay dụng cụ viết lách. Vốn là
người chăm chỉ và không ưa gì thói lười biếng, bà lại sẵn sàng châm chước cho
tôi bỏ bê việc nhà miễn là tôi đang mải mê đọc sách.
Có lần, một người kể
chuyện ghé qua chợ và tôi đã lén trốn đi nghe ông ấy kể. Bà không hài lòng khi
thấy tôi bỏ bê công việc. Thế nhưng, ngay tối hôm đó, trong lúc bà đang cặm cụi
khâu áo bông cho cả nhà dưới ánh đèn dầu leo lét, tôi không kìm được mà kể lại
những câu chuyện mình đã nghe ban chiều. Ban đầu, bà nghe với vẻ thiếu kiên nhẫn,
bởi trong mắt bà, những người kể chuyện dạo chỉ là đám đàn ông dẻo miệng làm
cái nghề chẳng mấy đàng hoàng; chẳng bao giờ có lời hay ý đẹp nào thốt ra từ miệng
họ cả. Dần dần, bà bị cuốn vào những câu chuyện tôi kể lại; và kể từ ngày ấy,
bà không bao giờ bắt tôi làm việc nhà vào ngày họp chợ nữa - một sự cho phép ngầm
để tôi được đến chợ và lắng nghe những câu chuyện mới. Để đền đáp tấm lòng của
mẹ cũng như để chứng tỏ trí nhớ của mình, tôi thường kể lại những câu chuyện đó
cho bà nghe một cách thật sống động và chi tiết.
Chẳng bao lâu sau, tôi
thấy việc kể lại chuyện của người khác thật chẳng thỏa mãn chút nào, thế là tôi
bắt đầu thêm thắt, tô vẽ cho câu chuyện của mình. Tôi thường nói những điều mà
tôi biết sẽ làm Mẹ hài lòng, thậm chí đôi khi còn tự ý thay đổi cả cái kết. Và
Mẹ không phải là người duy nhất lắng nghe tôi; về sau, khán giả của tôi còn có
thêm các chị gái, các dì, và cả bà ngoại nữa. Đôi khi, sau khi nghe tôi kể xong
một câu chuyện, Mẹ lại hỏi bằng giọng đầy âu lo, như thể đang tự hỏi chính
mình: "Lớn lên con sẽ thành người thế nào đây, con trai? Liệu có khi nào
con lại kiếm sống bằng cái nghề ba hoa chích chòe không nhỉ?"
Tôi hiểu tại sao bà lại
lo lắng. Ở làng tôi, những đứa trẻ hay nói thường không được đánh giá cao, bởi
thói hay nói có thể mang lại rắc rối cho chính chúng và cả gia đình. Hình ảnh cậu
bé hay nói trong truyện ngắn "Những con bò mộng" của tôi – kẻ rước họa
vào thân vì thói hay nói – có phảng phất chút hình bóng của tôi ngày nhỏ. Mẹ
thường xuyên dặn dò tôi đừng nói nhiều, bà muốn tôi trở thành một đứa trẻ trầm
tính, điềm đạm và chín chắn. Trái lại, tôi lại mang trong mình một sự kết hợp đầy
nguy hiểm: tài ăn nói xuất sắc đi kèm với khao khát mãnh liệt được thể hiện khả
năng ấy. Tài kể chuyện của tôi mang lại niềm vui cho bà, nhưng đồng thời cũng đặt
bà vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan.
Người ta vẫn thường nói:
"Thay đổi dòng chảy của con sông còn dễ hơn thay đổi bản tính con người."
Dù cha mẹ đã không ngừng khuyên bảo, bản tính thích nói của tôi vẫn chẳng hề mất
đi; và chính điều đó đã biến cái tên của tôi – Mạc Ngôn (nghĩa là "đừng
nói") – thành một sự tự trào đầy mỉa mai.
Sau khi nghỉ học tiểu học,
vì còn quá nhỏ để làm những công việc nặng nhọc, tôi được giao nhiệm vụ chăn dắt
đàn gia súc trên bãi cỏ ven sông gần nhà. Mỗi khi lùa đàn vật đi ngang qua cổng
trường và bắt gặp cảnh bạn bè cũ đang vui đùa trong sân, lòng tôi lại trĩu nặng
nỗi buồn; tôi thấm thía nỗi gian nan khi phải tách mình khỏi tập thể – dù chỉ
là một đứa trẻ.
Tôi thả đàn gia súc gặm
cỏ trên bãi sông, dưới bầu trời xanh thẳm tựa đại dương và thảm cỏ trải dài tít
tắp – chẳng một bóng người, không một tiếng động của con người, chỉ còn lại tiếng
chim hót vang vọng trên cao. Tôi hoàn toàn đơn độc và cảm thấy vô cùng cô quạnh;
lòng tôi trống rỗng. Có những lúc tôi nằm trên bãi cỏ, ngắm nhìn những đám mây
lững lờ trôi và thả hồn theo muôn vàn hình ảnh đầy mộng tưởng. Vùng quê ấy vốn
nổi tiếng với những giai thoại về loài cáo hóa thân thành các thiếu nữ xinh đẹp;
tôi từng mơ màng tưởng tượng cảnh một nàng cáo hóa người tìm đến cùng tôi chăn
thả gia súc. Nhưng nàng chẳng bao giờ xuất hiện. Tuy nhiên, có lần, một con cáo
đỏ rực bất ngờ lao ra từ bụi rậm ngay trước mặt khiến tôi hoảng sợ đến mức rụng
rời chân tay. Mãi lâu sau khi con cáo đã biến mất, tôi vẫn ngồi đó, toàn thân
run rẩy.
Đôi khi, tôi ngồi xổm
bên cạnh đàn bò, đắm mình trong đôi mắt xanh thẳm của chúng, nơi in bóng hình
tôi. Có lúc tôi trò chuyện cùng lũ chim trên trời, bắt chước tiếng hót của
chúng, lại có lúc tôi tâm sự những ước vọng và khao khát thầm kín với một cái
cây. Thế nhưng, cả loài chim lẫn cây cối đều chẳng mảy may đoái hoài đến tôi.
Nhiều năm sau, khi đã trở thành tiểu thuyết gia, tôi đưa những mộng tưởng thuở ấy
vào các tác phẩm của mình. Người đời thường hết lời khen ngợi trí tưởng tượng
phong phú của tôi, và những người yêu văn chương hay hỏi xin bí quyết để có được
khả năng tưởng tượng tuyệt vời như vậy. Câu trả lời duy nhất của tôi chỉ là một
nụ cười thoáng chút ưu tư.
Bậc thầy Đạo gia Lão Tử
đã đúc kết thật chí lý: “Trong họa có phúc, trong phúc có họa.” Tôi phải nghỉ học
từ khi còn nhỏ, thường xuyên chịu cảnh đói khát, triền miên cô độc và chẳng có
lấy một cuốn sách để đọc. Thế nhưng, chính vì những lý do ấy - giống như nhà
văn thế hệ trước là Thẩm Tòng Văn - tôi đã sớm bắt đầu đọc cuốn đại thư mang
tên “cuộc đời”. Trải nghiệm ra chợ nghe người ta kể chuyện chỉ là một trang
trong cuốn sách ấy mà thôi.
***
Sau khi rời ghế nhà trường,
tôi bị đẩy một cách đầy bỡ ngỡ vào thế giới người lớn, nơi tôi bắt đầu hành
trình dài học hỏi thông qua việc lắng nghe. Hai trăm năm trước, một trong những
bậc thầy kể chuyện vĩ đại nhất mọi thời đại - Bồ Tùng Linh - từng sống gần nơi
tôi lớn lên; đó cũng là nơi nhiều người, trong đó có tôi, tiếp nối truyền thống
mà ông đã nâng tầm thành nghệ thuật đỉnh cao. Dù ở bất cứ đâu – khi đang làm việc
trên cánh đồng cùng tập thể, trong chuồng bò hay chuồng ngựa của đội sản xuất,
trên chiếc giường sưởi ấm áp nhà ông bà, hay thậm chí trên những chiếc xe bò
xóc nảy, lắc lư dọc đường – tai tôi luôn tràn ngập những câu chuyện về thế giới
siêu nhiên, những chuyện tình sử thi, cùng vô số giai thoại kỳ lạ đầy mê hoặc;
tất cả đều gắn liền với thiên nhiên và lịch sử dòng họ, tạo nên một thế giới hiện
thực sống động và mạnh mẽ trong tâm trí tôi.
Ngay cả trong những giấc
mơ táo bạo nhất, tôi cũng chưa từng hình dung ra ngày mà tất cả những điều này
sẽ trở thành chất liệu cho các tác phẩm hư cấu của chính mình, bởi khi ấy tôi
chỉ là một cậu bé say mê chuyện kể, đắm chìm trong những câu chuyện mà người
xung quanh thường hay kể lại. Thời đó, tôi hoàn toàn tin vào thế giới tâm linh,
tin rằng vạn vật hữu linh, mọi sinh vật sống đều có linh hồn. Tôi thường dừng lại
để tỏ lòng thành kính trước những gốc cây cổ thụ sừng sững; khi thấy một chú
chim, tôi tin chắc rằng nó có thể hóa thành người bất cứ lúc nào nó muốn; và
tôi luôn nghi ngờ bất kỳ người lạ nào mình gặp đều là loài vật biến hình. Đêm về,
nỗi sợ hãi kinh hoàng luôn bủa vây trên đường tôi về nhà sau khi đã tính xong
công điểm; thế là tôi vừa chạy vừa hát thật to để lấy chút can đảm. Giọng tôi
lúc ấy đang trong giai đoạn vỡ tiếng, tạo ra những âm thanh khàn đục, chói tai
khiến bất cứ dân làng nào nghe thấy cũng phải khó chịu.
Tôi đã dành hai mươi mốt
năm đầu đời tại ngôi làng ấy, chưa từng đi đâu xa hơn Thanh Đảo – nơi tôi đến bằng
tàu hỏa và suýt nữa thì bị lạc giữa những đống gỗ khổng lồ tại một xưởng cưa.
Khi mẹ hỏi tôi đã thấy gì ở Thanh Đảo, tôi buồn bã trả lời rằng mình chẳng thấy
gì ngoài những chồng gỗ. Tuy nhiên, chuyến đi Thanh Đảo ấy đã gieo vào lòng tôi
một khát khao mãnh liệt: rời khỏi ngôi làng để bước ra thế giới bên ngoài.
Tháng 2 năm 1976, tôi nhập ngũ và rời khỏi vùng Đông Bắc Cao Mật – nơi vừa là
chốn tôi yêu thương lại vừa là nơi tôi căm ghét – để bước vào một giai đoạn bước
ngoặt của cuộc đời. Hành trang mang theo trong ba lô là bộ sách bốn tập Lược sử Trung Quốc mà mẹ tôi đã mua bằng
cách bán đi số trang sức cưới của bà. Đó là khởi đầu cho quãng thời gian quan
trọng nhất trong đời tôi. Phải thừa nhận rằng, nếu không nhờ sự phát triển và
tiến bộ vượt bậc của xã hội Trung Quốc trong hơn ba thập kỷ, cùng với công cuộc
cải cách và mở cửa đất nước sau đó, thì ngày nay tôi đã không thể trở thành một
nhà văn.
Giữa cuộc sống quân ngũ
tẻ nhạt và gò bó, tôi đã đón nhận luồng gió mới của sự cởi trói tư tưởng và niềm
say mê văn chương những năm 1980; từ một chàng trai chỉ biết nghe và kể lại
chuyện theo lối truyền miệng, tôi bắt đầu thử sức mình với việc viết lách. Khởi
đầu ấy đầy gian nan, bởi khi đó tôi chưa nhận ra rằng hai mươi năm sống ở làng
quê chính là nguồn chất liệu văn học vô cùng phong phú. Tôi từng lầm tưởng văn
học chỉ xoay quanh những người tốt làm việc thiện, những câu chuyện về hành động
anh hùng hay những tấm gương công dân mẫu mực; chính vì thế, vài tác phẩm hiếm
hoi được đăng tải của tôi thời kỳ đầu hầu như chẳng có mấy giá trị văn học.
Mùa thu năm 1984, tôi
trúng tuyển vào Khoa Văn học thuộc Học viện Nghệ thuật Quân Giải phóng. Tại
đây, dưới sự dìu dắt của người thầy đáng kính – nhà văn nổi tiếng Từ Hoài Trung
– tôi đã sáng tác một loạt truyện ngắn và truyện vừa, tiêu biểu như: Lũ mùa thu, Dòng sông cạn, Củ cà rốt trong
suốt và Cao lương đỏ. Vùng đất Đông Bắc Cao Mật lần đầu tiên xuất hiện
trong tác phẩm Lũ mùa thu; và kể từ
khoảnh khắc ấy, tựa như gã nông dân phiêu bạt tìm thấy mảnh đất của riêng mình,
kẻ lãng du văn chương này đã tìm được một chốn thuộc về chính mình.
Phải nói rằng, trong quá
trình kiến tạo nên thế giới văn chương Đông Bắc Cao Mật, tôi đã chịu ảnh hưởng
sâu sắc từ tiểu thuyết gia người Mỹ William Faulkner và nhà văn người Colombia
Gabriel García Márquez. Dù chưa đọc kỹ tác phẩm của họ, nhưng tôi vô cùng ngưỡng
mộ phong cách sáng tạo táo bạo, phóng khoáng của họ trong việc khai phá những
vùng đất mới của văn chương, và học được rằng một nhà
văn cần phải có một nơi chốn thuộc về riêng mình. Sự khiêm nhường và
tinh thần thỏa hiệp là những đức tính tốt trong cuộc sống thường nhật, nhưng
trong sáng tạo văn học, sự tự tin tuyệt đối và việc tuân theo bản năng của
chính mình lại là những yếu tố cốt yếu. Tôi đã noi gương hai bậc thầy này suốt
hai năm trước khi nhận ra mình cần phải thoát khỏi tầm ảnh hưởng của họ; trong
một bài tiểu luận, tôi đã mô tả quyết định đó như sau: Họ tựa như hai lò lửa hừng
hực, còn tôi là một tảng băng. Nếu đến quá gần, tôi sẽ tan chảy thành hơi nước.
Theo tôi, một nhà văn chỉ thực sự ảnh hưởng đến người khác khi giữa họ tồn tại
một sự đồng điệu sâu sắc về tâm hồn - điều thường được ví như sự "hòa nhịp
của những trái tim". Điều đó lý giải tại sao, dù chỉ mới đọc một phần nhỏ
các tác phẩm của họ, tôi đã có thể nắm bắt được họ đang làm gì và thực hiện điều
đó ra sao; chính nhờ vậy, tôi cũng hiểu rõ mình cần phải làm gì và nên thực hiện
công việc ấy như thế nào.
Điều tôi cần làm đơn giản
vô cùng: tự viết những câu chuyện của riêng mình theo cách của riêng mình. Cách
của tôi là lối kể chuyện của những người kể chuyện nơi chợ búa mà tôi vốn rất
quen thuộc - cách mà ông bà tôi và những bậc cao niên trong làng thường dùng để
kể chuyện. Thú thật, khi kể chuyện, tôi chưa bao giờ bận tâm đến độc giả; có lẽ
độc giả của tôi là những người như mẹ tôi, hoặc có khi chỉ là chính bản thân
tôi. Những câu chuyện thuở đầu là sự thuật lại trải nghiệm cá nhân: chẳng hạn
như cậu bé bị đòn roi trong truyện “Dòng sông cạn”, hay cậu bé chẳng bao giờ cất
lời trong truyện “Củ cà rốt trong suốt”. Tôi thực sự đã làm điều gì đó tệ đến mức
bị cha đánh đòn, và tôi cũng thực sự từng làm công việc kéo bễ cho thợ rèn tại
một công trường xây cầu. Tất nhiên, trải nghiệm cá nhân không thể được chuyển
hóa thành hư cấu y hệt như những gì đã xảy ra, dù trải nghiệm đó có độc đáo đến
đâu đi nữa. Văn học hư cấu thì phải mang tính hư cấu, phải giàu trí tưởng tượng.
Với nhiều bạn bè của tôi, “Củ cà rốt trong suốt” là tác phẩm xuất sắc nhất; bản
thân tôi thì không có ý kiến nghiêng về phía nào. Điều tôi có thể khẳng định
là “Củ cà rốt trong suốt” mang tính biểu tượng và chiều sâu ý nghĩa hơn bất kỳ
câu chuyện nào khác mà tôi từng viết. Cậu bé có nước da ngăm đen, mang trong
mình khả năng chịu đựng phi thường cùng sự nhạy cảm vượt bậc ấy, chính là hiện
thân cho linh hồn trong toàn bộ các tác phẩm hư cấu của tôi. Không một nhân vật
nào tôi tạo ra sau này lại gần gũi với tâm hồn tôi như cậu bé ấy. Hay nói cách
khác, trong số tất cả các nhân vật mà một nhà văn tạo ra, luôn có một nhân vật
nổi bật hơn hẳn những người còn lại. Với tôi, cậu bé kiệm lời ấy chính là nhân
vật đó. Dù chẳng nói lời nào, cậu vẫn dẫn lối cho tất cả những nhân vật khác—với
muôn hình vạn trạng—tự do phô diễn trên sân khấu của vùng đất Cao Mật Đông Bắc.
Vốn sống của một con người
có hạn; khi đã kể hết những câu chuyện của chính mình, ta buộc phải kể chuyện của
người khác. Và thế là, từ sâu thẳm ký ức, tựa như những người lính được triệu tập,
những câu chuyện về người thân, dân làng và cả tổ tiên đã khuất—những người mà
tôi biết đến qua lời kể của các bậc cao niên—lần lượt hiện về. Họ chờ đợi tôi kể
lại cuộc đời họ. Ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô dì chú bác, vợ và con gái
tôi... tất cả đều đã xuất hiện trong những trang văn của tôi. Ngay cả những cư
dân không có quan hệ huyết thống ở vùng Đông Bắc Cao Mật cũng xuất hiện thoáng
qua trong các tác phẩm của tôi. Tất nhiên, họ đã trải qua quá trình hư cấu văn
học để trở thành những nhân vật sống động, mang tầm vóc lớn lao hơn đời thực.
Một người dì của tôi là
nhân vật trung tâm trong cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi, Ếch. Khi giải Nobel được công bố, các
nhà báo đã đổ xô đến nhà bà để xin phỏng vấn. Ban đầu, bà kiên nhẫn tiếp đón họ,
nhưng chẳng bao lâu sau, bà buộc phải lánh đi nơi khác để tránh sự chú ý, tìm đến
nhà con trai mình ở thủ phủ tỉnh. Tôi không phủ nhận rằng bà chính là nguyên mẫu
để tôi viết Ếch, nhưng giữa bà và người
dì trong tiểu thuyết có những khác biệt rất lớn. Người dì trong truyện kiêu ngạo
và độc đoán, thậm chí có lúc hành xử như kẻ côn đồ, trong khi người dì thực sự
của tôi lại hiền từ, nhân hậu, đúng mẫu người vợ đảm đang và người mẹ giàu tình
thương. Những năm tháng xế chiều của người dì thực sự rất hạnh phúc và viên
mãn; trái lại, nhân vật dì trong truyện lại bị chứng mất ngủ hành hạ do dằn vặt
tâm linh, đêm đêm lang thang như một bóng ma trong chiếc áo choàng sẫm màu. Tôi
vô cùng biết ơn người dì ngoài đời thực vì đã không giận tôi về cách tôi khắc họa
bà trong tiểu thuyết. Tôi cũng rất trân trọng sự sáng suốt của bà khi thấu hiểu
mối quan hệ phức tạp giữa nhân vật hư cấu và con người thực.
Sau khi mẹ qua đời, giữa
nỗi đau buồn tưởng chừng như gục ngã, tôi quyết định viết một cuốn tiểu thuyết
dành tặng bà. Báu vật của đời chính
là cuốn tiểu thuyết đó. Một khi kế hoạch đã thành hình, tôi bị thôi thúc mạnh mẽ
bởi những cảm xúc dâng trào, đến mức hoàn thành bản thảo dài nửa triệu chữ chỉ
trong vòng tám mươi ba ngày.
Trong Báu vật của đời, tôi đã không ngần ngại
sử dụng những chất liệu từ chính cuộc đời mẹ tôi, nhưng trạng thái cảm xúc của
người mẹ trong truyện lại hoàn toàn là sản phẩm hư cấu hoặc là sự tổng hòa hình
ảnh của nhiều người mẹ khác ở vùng Đông Bắc Cao Mật. Dù tôi viết dòng chữ
"Dành tặng linh hồn mẹ" ở trang đề từ, nhưng thực chất cuốn tiểu thuyết
này dành cho tất cả những người mẹ trên thế gian; có lẽ đó là minh chứng cho
tham vọng lớn lao của tôi, cũng giống như cách tôi hy vọng biến vùng Đông Bắc
Cao Mật nhỏ bé thành một hình ảnh thu nhỏ của Trung Quốc, hay thậm chí là của cả
thế giới.
Quá trình sáng tạo là điều
độc đáo đối với mỗi nhà văn. Mỗi cuốn tiểu thuyết của tôi đều khác biệt về cốt
truyện và nguồn cảm hứng chủ đạo. Một số tác phẩm, chẳng hạn như Củ cà rốt trong suốt, được khơi nguồn từ
những giấc mơ, trong khi những tác phẩm khác như *Bản tình ca tỏi* lại bắt nguồn
từ các sự kiện có thật. Dù nguồn cảm hứng cho tác phẩm bắt nguồn từ giấc mơ hay
đời thực, thì chỉ khi được kết hợp với trải nghiệm cá nhân, tác phẩm mới có thể
mang đậm dấu ấn riêng, xây dựng được những nhân vật điển hình sống động nhờ các
chi tiết chân thực, sử dụng ngôn từ giàu sức gợi và sở hữu một cấu trúc chặt chẽ,
công phu. Ở đây, tôi cần lưu ý rằng trong tác phẩm Những bản tình ca tỏi (The Garlic Ballads), tôi đã đưa một người kể
chuyện kiêm ca sĩ có thật ngoài đời vào đảm nhận một trong những vai trò quan
trọng nhất của tiểu thuyết.
Tôi ước gì mình đã không
dùng tên thật của người đó, mặc dù lời nói và hành động của nhân vật hoàn toàn
là hư cấu. Đây là chuyện thường gặp ở tôi. Tôi thường bắt đầu bằng cách sử dụng
tên thật của các nhân vật để tạo cảm giác gần gũi, và khi tác phẩm hoàn thành
thì đã quá muộn để thay đổi những cái tên ấy. Điều này dẫn đến việc những người
thấy tên mình xuất hiện trong tiểu thuyết đã tìm đến cha tôi để bày tỏ sự không
hài lòng. Ông luôn thay mặt tôi xin lỗi, nhưng cũng khuyên họ đừng quá coi trọng
chuyện đó. Ông thường nói: "Câu đầu tiên trong cuốn Cao lương đỏ – 'Cha tôi, đứa con của một tên thổ phỉ' – chẳng làm
tôi phiền lòng, vậy tại sao các bạn lại phải bực bội?"
Những thách thức lớn nhất
đối với tôi nảy sinh khi viết các tiểu thuyết phản ánh thực trạng xã hội, chẳng
hạn như Báu vật của đời; không phải
vì tôi sợ công khai chỉ trích những mặt tối của xã hội, mà bởi vì những cảm xúc
gay gắt và sự phẫn nộ có thể khiến chính trị lấn át văn chương, biến tiểu thuyết
thành bản tường thuật về một sự kiện xã hội. Là một
thành viên của xã hội, nhà văn có quyền giữ lập trường và quan điểm riêng;
nhưng khi cầm bút, họ phải đứng trên lập trường nhân văn và viết sao cho phù hợp
với tinh thần đó. Chỉ khi ấy, văn học mới không chỉ bắt nguồn từ các sự kiện mà
còn vượt lên trên chúng, không chỉ quan tâm đến chính trị mà còn mang tầm vóc lớn
lao hơn cả chính trị.
Có lẽ vì đã trải qua phần
lớn cuộc đời trong những hoàn cảnh gian nan, tôi nghĩ mình có sự thấu hiểu sâu
sắc hơn về cuộc sống. Tôi biết thế nào là lòng dũng cảm
thực sự và hiểu được lòng trắc ẩn đích thực. Tôi biết rằng trong tâm trí và
trái tim mỗi người đều tồn tại những vùng đất mơ hồ, những miền đất không thể định
nghĩa thỏa đáng chỉ bằng các khái niệm đơn giản như đúng - sai hay tốt - xấu;
và chính vùng đất bao la ấy là nơi nhà văn có thể thỏa sức phô diễn tài năng của
mình. Chỉ cần tác phẩm miêu tả đúng đắn và sống động vùng đất mơ hồ đầy mâu thuẫn
này, nó chắc chắn sẽ vượt lên trên chính trị và đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật
văn chương.
Việc cứ mãi huyên thuyên
về các tác phẩm của mình hẳn là điều gây phiền toái, nhưng cuộc đời và sự nghiệp
của tôi gắn bó mật thiết với nhau; nếu không nói về tác phẩm, tôi chẳng biết phải
nói gì khác. Tôi hy vọng quý vị sẽ rộng lòng bỏ qua.
Tôi từng là một người kể
chuyện thời hiện đại ẩn mình phía sau các tác phẩm đầu tay; nhưng với tiểu thuyết
Đàn hương hình, tôi đã bước ra khỏi
bóng tối ấy. Các tác phẩm thời kỳ đầu của tôi có thể được xem như những chuỗi độc
thoại nội tâm, không hướng đến bất kỳ độc giả cụ thể nào; tuy nhiên, bắt đầu từ
cuốn tiểu thuyết này, tôi hình dung mình đang đứng giữa quảng trường, say sưa kể
lại câu chuyện cho đám đông thính giả nghe. Truyền thống này là một hiện tượng
phổ biến trong văn học hư cấu toàn cầu, nhưng lại đặc biệt đậm nét tại Trung Quốc.
Đã có lúc tôi miệt mài
nghiên cứu văn học hư cấu hiện đại phương Tây và thử nghiệm đủ mọi phong cách tự
sự. Song, rốt cuộc tôi vẫn quay về với truyền thống của chính mình. Tất nhiên,
sự trở về này không phải là sự lặp lại nguyên bản mà có những biến đổi nhất định.
Những gì được gọi là văn học hư cấu cách tân, phần lớn, chính là kết quả của sự
pha trộn này; sự pha trộn đó không chỉ giới hạn ở việc kết hợp truyền thống bản
địa với kỹ thuật nước ngoài, mà còn bao hàm cả việc kết hợp văn học hư cấu với
các loại hình nghệ thuật thuộc những lĩnh vực khác. Chẳng hạn, Đàn hương hình có sự kết hợp giữa tiểu
thuyết và nghệ thuật kinh kịch địa phương, trong khi một số tác phẩm thời kỳ đầu
của tôi lại chịu ảnh hưởng từ hội họa, âm nhạc và thậm chí cả nghệ thuật nhào lộn.
Cuối cùng, xin quý vị
cho phép tôi được nói đôi lời về cuốn tiểu thuyết Sinh tử mệt mỏi (Life and Death Are Wearing Me Out) của mình. Tựa đề
tiếng Trung của tác phẩm bắt nguồn từ kinh Phật, và tôi được biết rằng các dịch
giả đã vô cùng vất vả khi cố gắng chuyển ngữ nó sang ngôn ngữ của họ. Bản thân
tôi không am hiểu sâu sắc về kinh Phật và chỉ có sự hiểu biết hời hợt về tôn
giáo này. Tôi chọn tựa đề đó vì tin rằng những giáo lý
cơ bản của Phật giáo đại diện cho tri thức phổ quát, và rằng vô số tranh chấp của
nhân loại hoàn toàn vô nghĩa trong thế giới quan Phật giáo. Với cái nhìn
bao quát và cao cả ấy về vũ trụ, thế giới loài người thật đáng thương. Tiểu
thuyết của tôi không phải là một văn bản truyền giáo; trong đó, tôi viết về số
phận và cảm xúc con người, về những giới hạn cũng như lòng bao dung của họ, về
hành trình tìm kiếm hạnh phúc cũng như những nỗ lực tột cùng và sự hy sinh mà họ
sẵn sàng bỏ ra để bảo vệ niềm tin của mình. Lan Liên – một nhân vật dám đi ngược
lại các trào lưu đương thời – theo tôi, chính là một người hùng đích thực.
Nguyên mẫu của nhân vật này là một người nông dân ở ngôi làng bên cạnh. Khi còn
nhỏ, tôi thường thấy ông đẩy chiếc xe gỗ kêu cọt kẹt ngang qua cửa nhà mình;
phía trước là con lừa què do người vợ có đôi chân bó nhỏ dẫn dắt. Trong bối cảnh
xã hội tập thể hóa thời bấy giờ, nhóm lao động kỳ lạ này tạo nên một hình ảnh
khác biệt, khiến họ trở nên lạc lõng với thời cuộc. Trong mắt lũ trẻ chúng tôi,
họ giống như những gã hề đi ngược dòng lịch sử; sự hiện diện của họ khơi dậy
trong chúng tôi nỗi bất bình đến mức chúng tôi thường ném đá vào họ mỗi khi họ
đi ngang qua phố. Nhiều năm sau, khi đã bắt đầu nghiệp viết, hình ảnh người
nông dân ấy cùng cảnh tượng năm nào chợt ùa về trong tâm trí tôi. Tôi biết rằng
một ngày nào đó mình sẽ viết một cuốn tiểu thuyết về ông, rằng sớm muộn gì tôi
cũng sẽ kể câu chuyện của ông cho cả thế giới nghe. Tuy nhiên, phải đến năm
2005, khi chiêm ngưỡng bức tranh tường Phật giáo vẽ cảnh "Lục đạo luân hồi"
(Sáu cõi luân hồi) tại một ngôi chùa, tôi mới thực sự biết cách kể câu chuyện về
ông như thế nào.
Việc tôi được trao giải
Nobel đã dấy lên nhiều tranh cãi. Ban đầu, tôi tưởng mình là tâm điểm của những
tranh luận đó, nhưng dần dần tôi nhận ra rằng mục tiêu thực sự lại là một người
chẳng hề liên quan gì đến tôi cả. Giống như một khán giả
đang ngồi xem kịch trong nhà hát, tôi lặng lẽ quan sát những màn diễn đang diễn
ra xung quanh mình. Tôi đã chứng kiến người đoạt giải vừa được khoác lên mình
vòng hoa vinh danh, vừa bị vây hãm bởi những kẻ ném đá và bùn đất. Tôi lo sợ
anh sẽ gục ngã trước sự tấn công ấy, nhưng anh đã bước ra khỏi những vòng hoa
và làn mưa đá, bùn đất với nụ cười trên môi; anh lau sạch vết bùn bẩn, bình
tĩnh đứng sang một bên và nói với đám đông: Đối với một nhà văn, cách tốt
nhất để lên tiếng là thông qua ngòi bút. Quý vị sẽ tìm thấy mọi điều tôi muốn
nói trong các tác phẩm của mình. Lời nói rồi sẽ bị gió cuốn đi, còn con chữ thì
chẳng bao giờ có thể bị xóa nhòa. Tôi mong quý vị hãy kiên nhẫn đọc những cuốn
sách của tôi. Tôi không thể ép buộc quý vị làm điều đó, và ngay cả khi quý vị
có đọc, tôi cũng không kỳ vọng rằng quan điểm của quý vị về tôi sẽ thay đổi.
Chưa từng có nhà văn nào trên thế giới này được tất cả độc giả yêu mến; điều đó
càng đúng hơn trong những thời khắc như thế này.
Dù tôi muốn giữ im lặng
hơn, nhưng vì đây là việc bắt buộc phải làm vào dịp này, xin cho phép tôi nói
đôi lời: Tôi là một người kể chuyện, vì vậy tôi sẽ kể cho quý vị nghe vài câu
chuyện: Khi còn là học sinh lớp ba vào những năm 1960, trường tôi tổ chức một
chuyến tham quan đến triển lãm về những nỗi đau thương; tại đó, dưới sự dẫn dắt
của giáo viên, chúng tôi đã rơi những giọt nước mắt đắng cay. Tôi để mặc nước mắt
lăn dài trên má để làm hài lòng thầy cô, và quan sát thấy vài bạn cùng lớp nhổ
nước bọt vào lòng bàn tay rồi xoa lên mặt để giả làm nước mắt. Giữa đám đông trẻ
thơ đang gào khóc - kẻ khóc thật, người khóc giả - tôi nhìn thấy một cậu học
trò có gương mặt khô ráo, lặng im không hề lấy tay che mặt. Cậu chỉ nhìn chúng
tôi, đôi mắt mở to lộ vẻ ngạc nhiên hoặc bối rối. Sau chuyến đi, tôi đã báo cáo
cậu ấy với giáo viên, và cậu ấy đã phải nhận một lời cảnh cáo kỷ luật. Nhiều
năm sau, khi tôi bày tỏ sự hối hận vì đã tố cáo cậu bạn năm xưa, giáo viên cho
biết đã có ít nhất mười học sinh làm điều tương tự như tôi. Bản thân cậu bé ấy
đã qua đời hơn một thập kỷ trước, và lương tâm tôi luôn day dứt khôn nguôi mỗi
khi nghĩ về cậu. Tuy nhiên, tôi đã học được một điều quan trọng từ sự việc này:
Khi tất cả mọi người xung quanh đều khóc, bạn xứng đáng
được phép không khóc; và khi những giọt nước mắt ấy chỉ là màn kịch, thì quyền
không khóc của bạn lại càng trở nên chính đáng hơn bao giờ hết.
Xin hãy nghe tôi kể thêm
một câu chuyện nữa: Hơn ba mươi năm trước, khi còn trong quân ngũ, có một buổi
tối nọ, tôi đang ngồi đọc sách trong văn phòng thì một sĩ quan lớn tuổi bước
vào. Ông nhìn lướt qua những chiếc ghế trống trước mặt tôi rồi lẩm bẩm: "Hừm,
mọi người đâu cả rồi?" Tôi đứng dậy và dõng dạc hỏi: "Ý ông là tôi
không phải là người sao?" Vị sĩ quan già đỏ bừng mặt vì xấu hổ rồi lẳng lặng
bước ra ngoài. Suốt một thời gian dài sau đó, tôi từng rất tự hào về hành động
mà mình cho là đầy bản lĩnh ấy. Nhưng nhiều năm trôi qua, niềm tự hào đó dần
chuyển thành nỗi dằn vặt lương tâm sâu sắc.
Xin hãy kiên nhẫn nghe
tôi kể nốt câu chuyện cuối cùng này, một câu chuyện mà ông tôi đã kể cho tôi
nghe từ rất lâu rồi: Có một nhóm tám người thợ nề từ nơi khác đến, họ trú ẩn
trong một ngôi đền tồi tàn để tránh bão. Bên ngoài, tiếng sấm rền vang và những
quả cầu lửa liên tục lao về phía họ. Họ thậm chí còn nghe thấy cả những tiếng
rít gào tựa như tiếng rồng kêu. Những người thợ vô cùng hoảng sợ, mặt cắt không
còn giọt máu. Một người trong nhóm lên tiếng: "Trong số tám người chúng
ta, hẳn có kẻ đã phạm phải một tội ác tày trời khiến trời đất nổi giận. Kẻ có tội
nên tự nguyện bước ra ngoài chịu phạt để những người vô tội không phải gánh chịu
tai ương." Tất nhiên, chẳng ai chịu tự nguyện cả. Thế là một người khác
đưa ra đề xuất: "Vì không ai chịu ra ngoài, chi bằng tất cả chúng ta cùng
ném chiếc mũ rơm của mình về phía cửa. Mũ của ai bay ra khỏi cửa đền thì người
đó chính là kẻ có tội, và chúng ta sẽ bắt hắn phải ra ngoài chịu phạt." Vậy
là họ cùng ném mũ về phía cửa. Bảy chiếc mũ bị gió thổi ngược vào trong, chỉ
duy nhất một chiếc bay ra ngoài cửa. Họ ép người thợ thứ tám phải ra ngoài chịu
phạt; khi anh ta chần chừ không chịu đi, họ liền xúm lại khiêng anh ta và ném
thẳng ra ngoài cửa. Tôi tin chắc rằng quý vị đều đã đoán được kết cục của câu
chuyện: Ngay khi họ vừa ném anh ta ra ngoài cửa thì ngôi đền cũng đổ sụp xuống
ngay tại chỗ họ đang đứng.
Tôi là một người kể chuyện.
Chính việc kể chuyện đã
mang lại cho tôi giải Nobel Văn học.
Nhiều điều thú vị đã đến với tôi sau khi nhận giải, và chúng đã thuyết phục tôi tin rằng sự thật và công lý vẫn luôn hiện hữu mạnh mẽ. Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục kể những câu chuyện của mình trong những ngày tháng sắp tới.
Xin cảm ơn tất cả quý vị.
-------------
(*). Mộc Nhân dịch từ nguồn: Nobelprize.org

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét