Mộc Nhân dịch
Nguyên tác MISSING SHEEP- by Anne Carson (2)
Trời lạnh và tối; chúng tôi nhanh chóng đến nơi. Tôi ghét tiệc tùng. Bà của em đứng trong bếp, trông như một nhân vật bước ra từ thần thoại, hai tay khoanh trước chiếc tạp dề. Em bảo mình cần phải đi giao lưu. Lát sau, em bước lại chỗ tôi đang ngồi trên bậc cầu thang. Trông em thật hạnh phúc. Em kể cho tôi nghe về những dự định mới: tập luyện để biểu diễn trên sân khấu hòa nhạc, những buổi thử giọng cam go, và đi du lịch khắp thế giới.
Tâm hồn em tỏa sáng trên vầng trán. Tôi chẳng biết nói
gì. Tôi thầm cầu nguyện. Mong sao một cơn bão sẽ ngăn em rời đi. Nhưng rốt cuộc,
đêm vẫn quang đãng. Em vẫn tiếp tục trò chuyện. Bình minh dần ló dạng. Tôi từng
có một ước nguyện thầm kín: lặng lẽ ngả người về phía em - như ngả mình xuống mặt
hồ, rồi tan biến vào đó. Nhưng em đã đứng dậy và phủi bụi trên quần áo.
Hôm sau, tôi đeo kính
râm (theo lời khuyên của em), rời nhà và đi xuống bờ biển. "Anh nghĩ một
bài thơ đích thực sẽ cứu rỗi anh sao?" - em đã nói với tôi như vậy trong
buổi dã ngoại hôm ấy. "Đó là một sai lầm!" (Đồ chim én bé nhỏ tội
nghiệp), tôi thầm nghĩ. Tôi bước xuống biển. Nước lạnh buốt tựa như những vì
sao. Một buổi sáng dài dằng dặc. Bài thơ của tôi chẳng đi đến đâu cả. Tôi bắt
xe buýt đến một buổi đấu giá đàn đại dương cầm.
"Chuyện gì đã xảy
ra với con gấu biết hát của Keats nhỉ?" - đó là chủ đề được vài người tôi
gặp tại buổi đấu giá bàn tán; một chủ đề liên quan đến âm nhạc học, khiến tôi
chợt nhớ đến em. Không phải Keats có con gấu biết hát đâu, mà là Byron - tôi muốn
nói thế nhưng lại thôi. Những cây đàn grand cỡ nhỏ (baby grand) được bán với
giá bảy nghìn đô la. Tôi nghĩ về em, nhớ cách em làm tôi sửng sốt, nhớ cả hàm
răng khiến tôi ngỡ ngàng. Buổi đấu giá kéo dài lê thê. Màn đêm buông xuống. Tôi
đã sống sót qua trọn một ngày mà không có bạn. Và để tôi ghi lại một điều hay
ho khi ở một mình - không còn phải chịu đựng Bataille nữa. Em cứ hay trích dẫn
những câu đại loại như “Eros là lời ưng thuận với tình yêu, trọn vẹn cho đến tận
lúc chết.” Nhảm nhí, tôi thầm nghĩ. Chẳng phải em chỉ muốn nắm thế thượng phong
thôi sao?
Em đã đánh mất thế thượng
phong trong chính công việc của mình - công việc nghiên cứu âm nhạc học, theo một
cách kỳ lạ: em phải cạnh tranh với chính bản thân mình. Em kể rằng bà em đã tìm
thấy một cuốn sổ tay nhỏ từ hồi em mới tám hay chín tuổi. Trên một trang giấy
có vài dòng ký âm - hạt mầm cho mọi hiểu biết sâu sắc sau này của em về âm nhạc
và chân lý. Đoạn nhạc ấy rực cháy trong em. Em chẳng bao giờ có thể viết hay
hơn, hay thậm chí là ngang bằng với nó. Em cắn chặt lưỡi vì ghen tị rồi cất cuốn
sổ đi. Tôi nhớ đó là một buổi chiều muộn cuối đông, và chúng tôi đang đi dạo
trong rừng. Những thân cây đứng thẳng tắp giữa các vũng nước tuyết tan, mang sắc
màu tối sẫm và ánh vàng.
Lần đầu tiên chúng tôi gặp
nhau, tại một bữa tiệc sau buổi diễn thuyết - Sartre cũng ở đó, hoặc là một người
nào đó tự nhận mình là Sartre. Ông ta mặc chiếc áo len dày cộm. Người hâm mộ
ông thì khoác áo lông thú hoặc áo da cừu. Đêm hôm đó, em đã dành cả giờ đồng hồ
vùi mặt vào vùng kín của tôi nhưng lại không thể - như người ta vẫn nói - "lâm
trận" được. Tôi đi bộ về nhà vào khoảng 4 giờ sáng. Tuyết lấp lánh phủ lên
thị trấn tựa như một chiếc khăn tay mới tinh vừa được ai đó đánh rơi. Việc đi bộ
về nhà một mình luôn là phần tôi thích nhất sau chuyện ân ái.
Có những ngày tôi cảm thấy
mình hoàn toàn vô định, cứ như thể bản thân chỉ đang chòng chành, níu giữ lấy sự
tồn tại bằng một góc nhỏ mong manh. Tâm trạng có ý nghĩa gì chứ? Có một triết
gia - hình như là Heidegger - từng nói rằng nếu không có những trạng thái cảm
xúc, ta sẽ chẳng nhận ra mình đang sống. Tôi cho rằng ông ấy muốn nói đến những
tâm trạng tồi tệ; chứ khi vui, tôi chẳng bận tâm đến điều gì ngoài vẻ đẹp chiếc
mũ của mình hay tốc độ chiếc xe máy đang chạy. Nhưng ngẫm lại, tôi ngờ rằng ông
ấy đang nói về ranh giới giữa các trạng thái cảm xúc, về sự chuyển biến ấy. Bởi
lẽ, thực sự thì đó chính là điều kỳ diệu. Hãy tưởng tượng bạn đang chìm dưới
đáy giếng sâu, tâm hồn trống rỗng, tuyệt vọng, hư vô và chực chờ buông xuôi—thế
rồi đột nhiên mọi thứ thay đổi. Cánh cửa ranh giới mở ra. Nỗi sợ hãi tan biến.
Thế giới bừng tỉnh trở lại. Chuyện này diễn ra thế nào? Ai là người điều khiển
nó? Tại sao tôi lại chẳng thể tin rằng điều đó sẽ còn lặp lại lần nữa? Bài thơ
tội nghiệp đã chết.
Nhân tiện, bài thơ của
tôi viết về những nhà nghỉ ven đường. Tôi thường cảm thấy rằng những khoảnh khắc
tuyệt vời nhất của chúng tôi đều gắn liền với những nơi này. Và những khoảnh khắc
tuyệt vời nhất tại đó là khi chúng tôi bơi lội trong bóng tối dưới hồ bơi của
nhà nghỉ. Ánh sáng xanh ngọc lam tỏa ra từ dưới làn nước – thứ ánh sáng mà tôi
yêu thích nhất.
Trong những chuyến đi đường
dài, nhiệm vụ của tôi là lên kế hoạch chọn trước các nhà nghỉ. Đôi khi tôi cũng
chọn sai, chẳng hạn như lần chúng tôi lái xe đến một thị trấn giữa sa mạc để
xem người bạn diễn viên của tôi đóng trong một vở kịch mới. Ngay cạnh nhà hát
là một nhà nghỉ địa phương đang sáng đèn; quầy lễ tân do một chàng trai người
Pakistan với ánh mắt hoang dại và một người phụ nữ – hóa ra là dì của cậu – quản
lý; bà cứ tất bật đi lại quanh chiếc xe lăn của cậu. Một nhà nghỉ tệ, căn phòng
đầy ruồi, và vở kịch dở tệ mang tên "Magic Madrigal" (Khúc hát Ma thuật).
Chẳng có chút ma thuật nào đối với tôi cả. Nhà hát bé xíu. Tôi có thể nhìn thấy
hơi thở của các diễn viên, thấy họ chuẩn bị lấy hơi. Tôi thấy họ bắt gặp ánh mắt
của nhau. Điều đó làm tôi thấy ngượng ngùng – liệu dùng từ "ngượng
ngùng" có đúng không nhỉ? "Khán giả luôn là những người lạc
lõng," bạn nói. "Thế này thì sao," tôi đáp. "Thế nếu tất cả
diễn viên trên thế giới chỉ đơn giản bước vào phòng. Rồi bước ra khỏi phòng. Hạ
màn! Hết! Không còn kịch cọt gì nữa." Bạn bật cười. Nhưng tôi lại băn
khoăn về chàng trai ở nhà nghỉ nọ, người đang "trấn giữ" cái sân khấu
nhỏ bé nơi quầy lễ tân với chiếc máy tính đặt ngang tầm xe lăn và máy pha cà
phê cho khách (có kèm bữa sáng kiểu Âu); còn người dì thì cứ đi ra đi vào như một
nhân viên hậu đài, tay cầm những chiếc dĩa nhựa và mấy gói mứt cam nhỏ xíu.
Nhìn nét mặt họ, tôi đoán cả hai đều đã nếm trải nỗi khổ đau. Tôi tự hỏi họ sẽ
nghĩ sao về vở "Magic Lyre" (Cây đàn Lyre Ma thuật) – một vở kịch kể
về giới quý tộc ở Buenos Aires luôn hoài niệm về nước Ý và nước Áo? Tôi ghét sự
hoài niệm. Có lẽ bản chất của diễn xuất chính là sự
hoài niệm – hoài niệm về nỗi đau khổ của con người, thứ từng là điều có thật ở
một nơi nào đó khác. Trên xe, tôi đang đọc cuốn "Mansfield
Park" của Jane Austen; trong đó, một tình huống khó xử nảy sinh xoay quanh
việc diễn kịch: hai nhân vật đáng ngờ nhất của tiểu thuyết đề xuất tổ chức một
buổi "kịch nghệ nghiệp dư" cho đám thanh niên đang tụ họp trong nhà.
Những người khác tỏ ý miễn cưỡng: Fanny (nhân vật nữ chính) nói cô ghét cay
ghét đắng việc diễn xuất. Vở kịch chỉ mới qua được hai buổi tập thì bị Cha dập
tắt khi ông trở về sớm từ nước ngoài: bị bắt gặp ngay giữa lúc đang tập, các diễn
viên cảm thấy xấu hổ tột cùng và không dám nhìn thẳng vào mắt Cha suốt nhiều tuần
sau đó.
Chúng tôi rời nhà nghỉ sớm
một ngày với cảm giác áy náy. Cậu bé và người dì dường như chẳng hề ngạc nhiên.
Họ bảo dù sao chúng tôi cũng phải trả đủ tiền, và chúng tôi đã làm đúng như vậy.
Lúc đó là giữa buổi sáng tại văn phòng lễ tân; đèn bật sáng, rèm cửa khép kín,
tiếng máy tính rì rầm. Không phải mọi hành động diễn xuất đều là hư cấu; nếu bạn
là cô dâu, quản lý nhà hàng hay người khiêng quan tài, bạn cũng đang đóng một
vai diễn. Các hình thái nhân sinh được thể hiện qua đó. Tôi và bạn đã nói với
nhau những điều đại loại như vậy trên đường lái xe về nhà. Nhưng rồi tôi chợt
nhớ đến câu chuyện về Polos, một diễn viên sống vào thế kỷ thứ 4 trước Công
nguyên, người đã tạo dựng tên tuổi qua việc tái diễn vở kịch
"Elektra" của Sophocles (vốn ra đời từ thế kỷ thứ 5). Polos thủ vai
Elektra; ở một thời khắc then chốt của vở kịch, nàng đứng ôm chiếc bình mà nàng
tin rằng chứa tro cốt của người em trai, Orestes. Thực tế, chiếc bình đó là đồ
giả—nó chẳng chứa chút tro cốt nào, và người đàn ông mang chiếc bình cùng những
lời dối trá đó đến lại chính là Orestes bằng xương bằng thịt. Bạn sẽ phải tự
mình đọc vở kịch để hiểu những tình tiết trớ trêu này hợp lý ra sao trong cốt
truyện, nhưng chẳng phải bạn thấy chiếc bình (không) chứa (thứ được cho là)
tro cốt này là một hình ảnh ẩn dụ đầy tinh tế về chính nghệ thuật sân khấu
hay sao? Mọi chiếc bình đều là đồ giả! Mọi nàng Elektra gào khóc thảm thiết kia
đều nực cười đến đau lòng. Và Polos—một diễn viên nổi tiếng với "lối thoại
rõ ràng và cử chỉ thanh thoát" (theo Aulus Gellius)—đã quyết định đẩy nghịch
lý về những giọt nước mắt của người diễn viên ấy lên một nấc thang mới.
Bởi lẽ, bản thân Polos
cũng vừa mới trải qua một nỗi mất mát. Thế là, khi được yêu cầu đóng vai
Elektra, ông khoác lên mình bộ tang phục của nàng và, tay ôm chiếc bình đựng
tro cốt của chính con trai mình, ông đã mang đến cho khán giả không phải là nỗi
đau giả tạo, mà là nỗi đau xót thực sự của một người cha.
Tôi thấy nhức đầu khi
nghĩ đến biết bao lớp lang của sự thật và dối trá đan xen trong tình huống này.
Tro cốt, vừa thực vừa ảo. Diễn viên, vừa đang diễn vừa đang đau thương. Những
người chị em lại là những người cha. Những người phụ nữ lại là đàn ông. Sự giả
tạo vốn là một phần của câu chuyện, và sự giả tạo được bồi đắp thêm bởi đời thực.
Những chiếc bình, đạo cụ, sự mô phỏng nghệ thuật. Khán giả vừa bối rối, thích
thú, vừa bị đánh lừa theo kiểu sân khấu, lại vừa bị đánh lừa theo kiểu đời thực.
Polos, bước đi trên đường về nhà từ nhà hát vào đêm muộn, gương mặt vẫn còn
nguyên lớp hóa trang, chiếc bình các-tông đựng tro cốt nằm trong ba lô.
Sau chuyến đi đó, tôi bắt
đầu bị chứng mất ngủ. Thường thì tôi ngồi trong bếp vào ban đêm, đọc những lá
thư của Keats—người cũng chịu đựng chứng "hội chứng chân không yên"
giống như tôi. Một con bướm đêm đơn độc bay lượn quanh ngọn đèn. Đó là năm
1819, năm của những lá thư đầy mâu thuẫn và nồng cháy mà Keats gửi cho bạn gái
mình, Fanny—người mà lúc thì anh muốn kéo lại gần trái tim, lúc lại muốn đẩy ra
xa. Anh bảo rằng nàng đã "nuốt chửng" lấy anh; anh lại nói với nàng rằng
mình khao khát được "tự do như một chú hươu đực". Anh đặt nàng sánh
đôi cùng Cái Chết như là niềm xa xỉ cuối cùng còn sót lại của mình. Rốt cuộc
anh thực sự cảm thấy thế nào? Chắc chắn là anh muốn yêu. Chắc chắn là anh thích
thú việc trau chuốt những lá thư này—khi ở một mình trong căn phòng thuê, nơi
anh tự ép mình phải viết, và quả thực anh đã viết, với sự tập trung cao độ mỗi
ngày, nhưng rồi vẫn còn đó những đêm dài. Tất cả chúng ta đều chơi một trò chơi
nho nhỏ.
Bởi lẽ, Polos vừa mới trải
qua một nỗi đau mất mát. Thế nên, khi được mời đóng vai Elektra, ông đã khoác
lên mình bộ tang phục của nàng; và khi ôm chiếc bình đựng tro cốt của chính con
trai mình, ông đã mang đến cho khán giả không phải là nỗi sầu muộn giả tạo, mà
là nỗi đau đớn chân thực của một người cha.
Keats khao khát đủ mọi
điều. Ngoài việc bị bác sĩ bắt tuân theo chế độ ăn kiêng khắc nghiệt để giảm lượng
máu trong cơ thể, anh còn khao khát một tình yêu đích thực; Anh ấy muốn nhiều
hơn chỉ vài bài điểm sách khi xuất bản tác phẩm; anh muốn doanh số, thu nhập, sự
ngưỡng mộ; anh muốn có được những gì Byron từng có! Điều đó phủ bóng đen lên
tâm trí anh. Tôi nhớ lại, khi chứng mất ngủ mới bắt đầu đeo bám, tôi đã tìm kiếm
lời khuyên từ người khác. “Cậu có thể đếm cừu,” một người bạn nói, “nhưng đừng
đếm một cách có ý thức, hãy đếm bằng hình ảnh.” (Anh ấy là một Phật tử.) “Và đừng
bận tâm đếm những con cừu bị thiếu,” anh nói thêm. Lúc đó tôi coi đó là một câu
đùa, nhưng thực ra, chẳng phải Keats cũng đang làm đúng việc đếm những con cừu
bị thiếu suốt cả đêm đó sao? Bởi lẽ, có những nỗi đau khiến cả cơ thể phải rơi
lệ. Và cuộc đời thì đầy rẫy những điều ngẫu nhiên, bất định. Và tôi chẳng bao
giờ biết được đâu là những con cừu đã mất. Cứ thế, từng nhịp tích tắc của nỗi sầu
não trôi qua, chúng ta cứ thế bước đi, và chúng ta đã sống như vậy.
------------
(1). Text available Here
(2). Missing Sheep là một tác phẩm hư cấu ngắn (flash fiction) của Anne Carson, được đăng tải trên tạp chí The New Yorker vào tháng 8 năm 2025. Truyện gồm những lát cắt tản mạn, phản ánh góc nhìn ngôi thứ nhất của một người kể chuyện đang chiêm nghiệm về những mảnh vỡ trong quá khứ. Tác phẩm lồng ghép nhiều khung cảnh đời thường lẫn hoài niệm từ một bữa tiệc tối, chuyến đi dạo ven bờ biển, một phiên đấu giá đàn piano, cho đến một chuyến đi đường đầy trắc trở với một quản lý khách sạn khuyết tật và người dì của ông.
Truyện xoay quanh ký ức,
chứng mất ngủ, những lớp lang giữa sự thật và diễn giải, nỗi buồn, cùng sự kết
nối với các điển tích văn học (chẳng hạn hình ảnh diễn viên thời cổ đại Hy Lạp
mang tro cốt con trai trong một vở kịch hay việc đếm cừu khi thao thức, gợi nhắc
đến những lá thư của John Keats).
Trong văn phong của Anne Carson, các chủ đề về sự mất mát, biểu tượng tôn giáo/ngôn ngữ. Hình ảnh "con cừu bị thất lạc" đại diện cho mảnh ghép bị bỏ quên hoặc sự vật/bản thể đã nằm ngoài tầm kiểm soát của các hệ thống phân loại. Khi con người cố gắng đưa mọi thứ vào trật tự hay danh mục (tương tự như cách định danh hay kể chuyện), luôn có những trải nghiệm vượt thoát khỏi bộ lưới ngôn ngữ. Sự "thất lạc" ấy biểu thị cho khoảng trống vô danh mà lý trí không thể lấp đầy. Con cừu lạc đại diện cho sự đứt gãy khỏi tính tất yếu hay logic thông thường. Giống như việc Carson từ chối các cấu trúc tự sự rập khuôn, hình ảnh này gợi mở về những yếu tố ngẫu nhiên, không thể đoán trước trong đời sống.
* Mộc Nhân dịch & chú dẫn


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét