19/10/26

4.030. CHỦ NGHĨA TỐI GIẢN ĐẦY SỨC HÚT CỦA Anne Carson

   Mộc Nhân dịch (*)

Nguyên tác: Anne Carson’s Ecstatic Minimalism

Bài viết của Merve Emre  - là cây bút cộng tác của The New Yorker, đồng thời là Giáo sư chuyên ngành Viết sáng tạo và Phê bình tại Đại học Wesleyan.


***

Trong vòng năm năm qua, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã hai lần trao Giải Nobel Văn học cho những nữ tác giả coi trọng chủ đề eros (tình yêu và dục vọng): Annie Ernaux vào năm 2022 và nay là Anne Carson. Mỗi người đều mang phong cách tối giản theo cách riêng, và cả hai đều theo đuổi lối viết nhằm chế ngự những luồng cảm xúc mãnh liệt đến choáng ngợp - nhằm định hình và tạo sức nặng cho cơn lốc đam mê cuồng nhiệt.

Các tác phẩm của Carson thể hiện qua nhiều hình thức tinh tế: thơ ca, kịch, tiểu luận, bản dịch các vở bi kịch và thơ trữ tình Hy Lạp cổ đại, một vở opera, một cuốn truyện tranh, và cả một cuốn sách được đóng gói trong hộp. Tôi biết đến bà lần đầu khi còn học đại học, qua cuốn If Not, Winter: Fragments of Sappho (Nếu không phải mùa đông: Những mảnh thơ của Sappho) - tập hợp các bản dịch những vần thơ còn sót lại của nữ sĩ này:

“Eros, kẻ làm rã rời tứ chi, (lại một lần nữa) khuấy động lòng tôi/ sinh vật ngọt-đắng khó chế ngự, kẻ len lỏi bước vào”.

Tôi vẫn nhớ cụm từ "kẻ làm rã rời tứ chi" (melter of limbs). (Hãy so sánh nó với cụm từ "kẻ nới lỏng tứ chi" (loosener of limbs) - một cách dịch vụng về hơn, khiến Eros nghe chẳng khác nào một huấn luyện viên thể hình.

Tôi cũng nhớ cả cảm giác sửng sốt khi bắt gặp từ "ngọt-đắng" (sweetbitter) - một cách diễn đạt nghe có vẻ sai lệch, bởi từ "đắng-ngọt" (bittersweet) đã quá quen thuộc đến mức nó che khuất sự hiện diện đồng thời đầy tàn khốc của khoái lạc và khổ đau. Carson từng dùng chính từ quen thuộc đó làm nhan đề cho cuốn sách phê bình đầu tay của bà, Eros the Bittersweet (1986), viết về sức mạnh khó kiểm soát của dục vọng trong văn học Hy Lạp cổ đại. "Nó xâm nhập từ bên ngoài, áp đặt lên nàng một cách cưỡng chế và bất khả kháng, đi ngược lại ý muốn của nàng. Eros là kẻ thù," bà viết. Kẻ thù ấy có thể bị cầm chân bởi một dòng thơ, nhưng rồi nó sẽ luôn phá vỡ mọi phòng tuyến của ý chí.

***

Dịch thuật là loại hình nghệ thuật chủ đạo của Carson. Có thể mô tả điều này như nghệ thuật của phép ẩn dụ xuyên suốt: một từ trong ngôn ngữ này tương đồng, nhưng không hoàn toàn giống hệt, với một từ trong ngôn ngữ khác. Dịch thuật nghĩa là chấp nhận sự khiếm khuyết, sự khác biệt và thậm chí cả sai lầm ngay từ bước khởi đầu. “Aristotle nói rằng ẩn dụ khiến tâm trí tự trải nghiệm chính nó / trong khoảnh khắc phạm sai lầm,” Carson viết trong tập Men in the Off Hours (2000). “Không chỉ là sự vật khác với vẻ bề ngoài của chúng, / khiến ta nhìn nhận sai lệch, / mà chính sự sai lệch ấy lại mang giá trị.”

Chính trải nghiệm của tâm trí về sai lầm – và qua đó là sự khám phá – đã xuyên suốt các tác phẩm còn lại của bà, cho phép bà di chuyển giữa những sự vật khác biệt, dù là trong một dòng thơ (“Eros lay động / tâm trí ta tựa cơn gió núi ùa qua những hàng sồi,” trích thơ Sappho), hay xuyên suốt cả một cuốn sách như Economy of the Unlost; ở đó, bà xem Simonides xứ Keos như một hình ảnh tương đồng xa xôi với Paul Celan – “một nhà thơ sử dụng ngôn ngữ như thể ông luôn luôn đang dịch thuật.” Trái ngược với sai lầm là một kiểu thờ ơ mang tính thần thánh: không đặt những thứ khác biệt lại gần nhau một cách có chủ đích, mà rải chúng ra một cách ngẫu nhiên và tận hưởng sự hỗn loạn do chính mình tạo ra. Tôi thường nghĩ về những dòng thơ đầy ám ảnh trong tập The Beauty of the Husband: A Fictional Essay in 29 Tangos (2001):

“Điều gì thực sự kết nối ngôn từ và sự vật?/ Chẳng có gì nhiều, chồng tôi kết luận/ và bắt đầu sử dụng ngôn ngữ/ theo cách mà Homer mô tả các vị thần vẫn làm./ Mọi ngôn từ của con người đều được các vị thần thấu hiểu, nhưng với họ, chúng mang những ý nghĩa hoàn toàn khác/ song hành cùng ý nghĩa của chúng ta./ Họ tùy ý chuyển đổi giữa các tầng nghĩa ấy./ Chồng tôi đã nói dối về mọi thứ.”

Ngày nay, hiếm khi ta bắt gặp những người nói về khao khát, giận dữ, đau thương và kiêu hãnh theo cách mà các nhà thơ Hy Lạp từng làm. Chúng ta che giấu những đam mê mãnh liệt của mình dưới lớp vỏ bọc của những lời lẽ văn minh, đầy tính gượng ép. Chúng ta dùng giọng điệu mỉa mai; chúng ta hạ thấp tầm quan trọng của mọi sự. Chúng ta không phải là những người theo chủ nghĩa tối giản; thay vào đó, chúng ta chỉ đang thu nhỏ mọi thứ lại. Trong thơ của Carson, ngôn từ mãnh liệt của một truyền thống cổ xưa được đặt song hành cùng những yếu tố đời thường của cuộc sống hiện đại. Sự kết hợp này có thể mang lại nét hài hước lẫn những khoảnh khắc dịu dàng đầy bất ngờ - chẳng hạn như cảnh Geryon, con quái vật có đôi cánh đỏ, cùng anh trai bước đến lớp mẫu giáo trong tác phẩm Autobiography of Red (Tự truyện của Red), hay những kịch bản truyền hình có sự góp mặt của Sappho, Antigone và cuộc đối thoại giữa Thucydides với Virginia Woolf trong tập Men in the Off Hours.

Trong số các bài viết thuộc tập Short Talks (1992) của bà, tôi thích nhất là bài "Short Talk on the Sensation of Airplane Take-off" (Bài nói ngắn về cảm giác khi máy bay cất cánh) - một bài viết khai thác khía cạnh eros (niềm khao khát mãnh liệt) của những chuyến bay thương mại: "Bạn biết đấy, tôi cứ tự hỏi, liệu đó có phải là tình yêu đang lao về phía cuộc đời tôi, hai tay giơ cao và reo lên: 'Mua ngay thôi, hời quá đi mất!'"

Nhưng eros thường mang bi kịch. Đó chính là sai lầm cốt yếu của nó. Tình yêu chứa đựng mầm mống tự hủy diệt - sự tàn nhẫn và thói vị kỷ khiến những kẻ đang đắm chìm trong nó quay lưng lại với nhau, và với chính bản thân mình. Catullus từng nói về điều này trong bài thơ “Odi et Amo” (Tôi ghét và tôi yêu), nhưng tôi lại thích trí tưởng tượng đầy bản năng hoang dại trong tác phẩm “Plainwater” (1995) của Carson: “Con người khi yêu thật đáng sợ. Bạn thấy họ lao vào nhau đầy khao khát như những con sói thời tiền sử; bạn thấy một thứ gì đó đang vật lộn để sống sót giữa họ - như một chiếc rễ cây hay một linh hồn—nó bùng lên trong khoảnh khắc, rồi họ nghiền nát nó.” Sinh thể vừa ngọt ngào vừa đắng cay, khó lòng chế ngự ấy có thể biến con người thành thú dữ hay quái vật, thành kẻ hủy diệt hay những kẻ “xuất thần” (ecstatics). Thuật ngữ này bắt nguồn từ bài tiểu luận “Decreation: How Women Like Sappho, Marguerite Porete and Simone Weil Tell God” của Carson. Trong đó, bà quay lại với một mảnh thơ còn sót lại của Sappho để chiêm nghiệm cách một người có thể bị eros làm cho tan rã, chạm đến trạng thái cận kề cái chết:

“không: lưỡi đứt rời và ngọn lửa mỏng manh/ đang chạy rần rật dưới lớp da/ và mắt chẳng còn nhìn thấy gì, tiếng trống dồn dập/ lấp đầy đôi tai/ mồ hôi lạnh bao trùm và cơn run rẩy/ siết chặt lấy tôi, xanh xao hơn cả cỏ/ tôi đây - và đã chết - hay gần như thế/ trong cảm nhận của chính tôi.”

Carson ngưỡng mộ sự táo bạo tuyệt đối về mặt tâm linh cần thiết để chấp nhận những khao khát đầy khắc nghiệt của bản thân, và để tìm thấy trong trạng thái ấy một thứ ánh sáng lạnh lẽo, một “niềm hoan lạc ảm đạm”—cụm từ gợi nhắc đến Emily Dickinson, một nhân vật thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm của Carson—thứ có thể trông giống như sự thông tuệ hoặc sự điên rồ. “Điều tôi thích nhất ở ba người phụ nữ mà chúng ta đang nghiên cứu là họ hiểu rõ tình yêu là gì,” bà viết. “Họ biết rằng tình yêu chính là thước đo cho một đời sống tâm linh chân chính hay giả tạo.” Tương truyền, Sappho đã gieo mình xuống vách đá Leucadian vì người đàn ông mà bà yêu đơn phương. Nhà thần bí người Pháp thời trung cổ Marguerite Porete đã bị thiêu sống trên giàn hỏa thiêu. Simone Weil đã tuyệt thực đến chết. Dấn thân vào tình yêu như một hình thức tu tập tâm linh, mà không biết liệu mình đang phụng sự một vị thần chân chính hay giả tạo, chính là dấn thân vào một kiểu hành trình của “kẻ khờ thánh thiện” (holy fool). Trong những nỗ lực sáng tạo này, Carson có nét tương đồng với hai tác giả từng đoạt giải thưởng gần đây là Jon Fosse và László Krasznahorkai – những cây bút hàng đầu chuyên khắc họa hình tượng "những kẻ khờ khạo thánh thiện" (holy fools).

Việc nhận giải Nobel là một sự tôn vinh, dù chưa thể sánh bằng sự hy sinh oanh liệt khi bị thiêu trên giàn hỏa. Tuy nhiên, đó vẫn là một thắng lợi; dẫu vậy, thắng lợi lớn lao hơn có lẽ là việc kiên cường chống lại những đợt tấn công của ái tình (eros) lâu nhất có thể. Khi hay tin sáng nay, tôi đã tìm lại những dòng chữ mình từng đánh dấu trong cuốn Glass, Irony & God – nơi diễn ra cuộc đối thoại giữa một người phụ nữ đang tuyệt vọng và người mẹ đầy hoài nghi của cô:

Bác sĩ Haw bảo đau buồn là một quá trình dài.

Bà cau mày. Việc khơi lại chuyện quá khứ

thì mang lại kết quả gì chứ?

Ồ - tôi xòe tay ra -

Tôi chiến thắng! Tôi nhìn thẳng vào mắt bà.

Bà mỉm cười. Đúng vậy, con đã thắng.

------------

(*). Nguồn: Newyorkr.com

 

 

Không có nhận xét nào: