18/10/26

4.028. ESSAY ON WHAT I THINK ABOUT MOST – by Anne Carson

 LUẬN VỀ ĐIỀU TÔI SUY TƯ NHIỀU NHẤT

Mộc Nhân dịch (1)

Nguyên tác: “Essay on What I Think About Most” – by Anne Carson (2)



 

Lỗi sai.

Và những cảm xúc kèm theo.

Ngấp nghé bên mép lỗi sai là nỗi sợ hãi.

Tâm điểm lỗi sai là sự dại dột và thất bại.

Nhận ra mình đã mắc lỗi mang theo hổ thẹn và ân hận.

Hay là không?

 

Hãy cùng xem xét điều này.

Nhiều người, bao gồm cả Aristotle, coi sai lầm

là một sự kiện tinh thần thú vị và giá trị.

Khi bàn về phép ẩn dụ trong tác phẩm Tu từ học,

Aristotle cho rằng có ba loại từ ngữ:

từ lạ, thông thường và ẩn dụ.

 

“Từ lạ chỉ đơn thuần gây bối rối;

từ thông thường truyền tải những gì ta đã biết;

chính nhờ ẩn dụ mà ta nắm bắt được điều gì đó mới la và tươi mới”

(Rhetoric, 1410b10-13).

Sự tươi mới của ẩn dụ nằm ở đâu?

Aristotle nói rằng ẩn dụ khiến tâm trí tự trải nghiệm

trong khoảnh khắc phạm lỗi sai.

Ông hình dung tâm trí đang dịch chuyển trên một bề mặt

của ngôn ngữ thông thường

thì đột nhiên

bề mặt ấy đứt gãy hoặc trở nên rối rắm.

Sự bất ngờ xuất hiện.

 

Ban đầu, nó có vẻ kỳ quặc, mâu thuẫn hoặc sai lệch,

Rồi sau đó, nó trở nên hợp lý.

Và ngay khoảnh khắc ấy, theo Aristotle,

tâm trí quay về với chính mình và tự nhủ:

“Thật đúng làm sao, vậy mà ta đã hiểu sai!”

Từ những sai lầm đích thực của ẩn dụ, ta rút ra một bài học.

 

Chẳng những sự vật vốn khác với vẻ bề ngoài,

khiến ta nhìn nhận sai lệch về chúng,

nhưng cái sai cũng có giá trị nằm ngay trong chúng.

Hãy bám lấy nó, Aristotle nói,

có biết bao điều để ta chiêm nghiệm và cảm nhận tại đây.

Các ẩn dụ dạy tâm trí

biết tận hưởng những sai lầm

và học hỏi

từ sự đối chiếu giữa tồn tại và không tồn tại.

Có một câu tục ngữ Trung Hoa rằng:

Cây bút chẳng thể viết hai chữ bằng một nét,

Dù vậy

một lỗi sai hay ho có thể làm được như vậy.

Dưới đây là một ví dụ.

Đó là một đoạn thơ trữ tình Hy Lạp cổ

chứa đựng một lỗi tính toán.

Nhà thơ dường như không biết

rằng 2 + 2 = 4.

 

Đoạn thơ số 20 của Alkman:

[?] tạo ra ba mùa: mùa hè,

mùa đông, và mùa thu là mùa thứ ba,

còn mùa xuân là mùa thứ tư - khi

hoa trái nở rộ nhưng chẳng có đủ cái ăn.

 

Alkman sống ở Sparta vào thế kỷ thứ 7 TCN.

Sparta vốn là một vùng đất nghèo

và khó để

Alkman đã sống một cuộc đời sung túc hay no đủ ở đó.

Thực tế này tạo nên bối cảnh cho những lời ông viết,

những lời thơ kết thúc bằng cơn đói.

 

Đói luôn mang lại cảm giác

như một lỗi sai.

Alkman khiến chúng ta cùng trải nghiệm sai lầm với ông

thông qua việc sử dụng hiệu quả một lỗi tính toán.

Đối với một nhà thơ nghèo ở Sparta, người chẳng còn gì

trong tủ bếp

khi mùa đông dần qua, mùa xuân chợt đến

như một sự bổ sung muộn màng của tạo hóa,

mùa thứ tư trong chuỗi ba mùa,

làm đảo lộn phép tính của ông

và phá vỡ nhịp điệu câu thơ.

 

Bài thơ của Alkman ngắt quãng ngay giữa một nhịp thơ iambic

mà không hề giải thích

rằng mùa xuân đến từ đâu

hay tại sao những con số chẳng thể giúp ta

kiểm soát thực tại tốt hơn.

 

Có ba điều tôi thích ở bài thơ của Alkman:

Thứ nhất, nó nhỏ nhắn,

nhẹ nhàng

và cô đọng đến mức hoàn hảo.

Thứ hai, nó dường như gợi lên những sắc màu như xanh nhạt

mà chẳng cần phải gọi tên chúng.

 

Thứ ba, nó khéo léo khơi gợi

những câu hỏi lớn mang tính siêu hình

(như: Ai đã tạo ra thế giới?)

mà không cần đến sự phân tích rạch ròi.

Bạn có nhận thấy động từ “made” (tạo ra) ở dòng đầu tiên

không có chủ ngữ: [?]

 

Trong tiếng Hy Lạp, việc một động từ

không có chủ ngữ là điều rất bất thường; thực ra,

đó là một lỗi sai ngữ pháp.

Một số nhà ngữ học sẽ nói với bạn

lỗi này chỉ là một sai sót dịch thuật,

và bài thơ mà chúng ta đang có đây

chắc chắn là một mảnh vỡ tách ra

từ một văn bản dài hơn,

và gần như chắc chắn Alkman đã

nêu tên chủ thể sáng tạo

trong những dòng thơ đi trước đoạn này.

Chà, có thể là như vậy.

 

Nhưng như bạn biết đấy, mục tiêu chính của ngữ học

là quy mọi niềm thích thú khi đọc văn bản

về thành một sự ngẫu nhiên của lịch sử.

Và tôi cảm thấy không thoải mái với bất kỳ khẳng định nào

cho rằng ta biết chính xác

điều nhà thơ muốn truyền tải,

Vì vậy, hãy cứ để lại dấu hỏi đó ở đó.

ngay từ đầu bài thơ

và ngưỡng mộ lòng can đảm của Alkman

khi đối diện với những gì được đặt trong ngoặc ấy.

 

Điều thứ tư tôi thích

ở bài thơ của Alkman

là ấn tượng mà nó mang lại

thốt ra sự thật, bất chấp ý muốn chủ quan.

Biết bao nhà thơ khao khát

đạt được giọng điệu sáng tỏ một cách tình cờ này

nhưng hiếm ai làm được điều đó giản dị như Alkman.

Tất nhiên, sự giản dị ấy chỉ là vẻ bề ngoài.

Alkman hoàn toàn không hề giản đơn,

 

Ông là bậc thầy của sự dàn dựng -

Aristotle gọi là kẻ mô phỏng thực tại.

Sự mô phỏng (tiếng Hy Lạp là mimesis)

là thuật ngữ Aristotle dùng để chỉ

những lỗi sai đích thực của thi ca.

 

Điều tôi thích ở thuật ngữ này

là sự chấp nhận nhẹ nhàng

rằng việc làm thơ thực chất là tạo ra sai lầm,

là cố tình tạo ra lỗi sai,

là chủ động phá vỡ và làm phức tạp hóa các lỗi sai

để từ đó nảy sinh

những điều bất ngờ.

 

Vậy nên, một thi sĩ như Alkman

đã gạt sang bên nỗi sợ, lo âu, xấu hổ, hối hận

và mọi cảm xúc ngớ ngẩn khác gắn liền với lỗi sai

để dấn thân vào

bản chất của sự việc.

Bản chất của con người chính là sự khiếm khuyết.

 

Alkman phá vỡ các quy tắc số học

và thách thức cả ngữ pháp

làm xáo trộn cấu trúc nhịp điệu thơ

chỉ để cuốn chúng ta vào sự thật ấy.

Khi bài thơ kết thúc, sự thật vẫn còn đó

và có lẽ cơn đói của Alkman cũng chẳng hề vơi bớt.

 

Tuy nhiên, sự kỳ vọng của chúng ta đã thay đổi.

Bởi vì khi tạo ra lỗi sai,

Alkman đã hoàn thiện một điều gì đó.

Quả thực, ông đã

làm được nhiều hơn cả sự hoàn thiện.

Chỉ bằng một nét bút duy nhất.


* Anne Carson - Mộc Nhân dịch

------------

Chú thích:
(1). Text available: elarciniegas.blogspot.com

(2). “Essay on What I Think About Most” là một bài thơ – tiểu luận (verse essay) nổi tiếng của nhà văn, nhà thơ và dịch giả người Canada Anne Carson, nằm trong tập sách Men in the Off Hours (2000). Bài thơ/ luận xoay quanh một mảnh thơ nhỏ (Fragment 20) của nhà thơ Hy Lạp cổ đại thế kỷ 7 TCN – Alkman người Sparta. Trong đoạn thơ của Alkman, ông đã phạm phải những "lỗi" tính toán và ngữ pháp (liệt kê 4 mùa trong khi chỉ có 3, hoặc bỏ quên chủ ngữ của động từ). Carson dùng những lỗi này để chiêm nghiệm về cách con người nhận thức thế giới. Carson đan cài lý thuyết của Aristotle trong cuốn Rhetoric (Tu từ học), cho rằng ẩn dụ hay một "sai lầm có chủ đích" trong tư duy sẽ tạo ra sự bất ngờ, khiến tâm trí phải vấp ngã và từ đó học được điều gì đó mới. Bài thơ lập luận rằng sự bất toàn và sai sót chính là bản chất con người; khi Alkman phạm lỗi trong thơ, ông không phá hỏng tác phẩm mà vô tình chạm đến một tầng sâu khác của sự thật và nỗi khao khát/ đói khổ trong cuộc sống ở Sparta cổ đại.



Không có nhận xét nào: