Mộc Nhân dịch
Cuộc phỏng vấn này do
YuSie Rundkvist Chou thực hiện bằng tiếng Trung vào ngày 6/ 12/ 2012 và được
công ty Svensk Medietext AB chuyển thành văn bản tiếng Anh. (*)
***
1.
PV: Thưa ông Mạc Ngôn, tôi xin chúc mừng ông đã đoạt giải Nobel Văn
học năm 2012. Trước hết, tôi muốn hỏi ông... Ông sinh ra tại một ngôi làng ở
Sơn Đông, trong một gia đình có cha mẹ không biết chữ; vậy cơ duyên nào đã đưa
ông đến với con đường viết lách?
Mạc Ngôn: Vâng, tôi sinh ra ở một ngôi làng tại Sơn Đông, nhưng cha
tôi là người biết chữ. Ông từng theo học tại một trường tư thục trong làng và
là một trí thức có học thức ở nông thôn. Ông luôn khuyến khích chúng tôi học tập.
Anh cả của tôi đã theo học tại Đại học Sư phạm Hoa Đông ở Thượng Hải vào những
năm 1960. Chuyện này không mấy phổ biến ở làng tôi thời đó. Anh ấy để lại nhiều
sách ở nhà, và tôi đã đọc những cuốn sách giáo khoa về ngôn ngữ và lịch sử đó
khi còn nhỏ. Dần dần, thông qua việc đọc tiểu thuyết, tôi bắt đầu nảy sinh niềm
đam mê văn học.
2.
PV: Vậy ông đã bắt đầu viết như thế nào? Có phải ông tự mình quyết
định làm điều đó không?
Mạc Ngôn: Tôi nghĩ tất cả các nhà văn đều khởi đầu là những độc giả
say mê. Chúng tôi nảy sinh khao khát viết lách trong quá trình đọc sách. Chúng
tôi muốn học cách viết. Ngoài ra, đối với những thanh thiếu niên nông thôn như
tôi thời bấy giờ, các nhà văn được coi như những ngôi sao. Bất cứ ai viết được
tiểu thuyết đều là người thực sự xuất chúng. Thời đó trong làng tôi cũng có một
số trí thức. Họ là những người tốt nghiệp đại học từ Tế Nam – thủ phủ tỉnh Sơn
Đông. Họ đã dạy tôi về văn học và các nhà văn. Vì vậy, niềm đam mê viết lách đã
nhen nhóm trong tôi từ khi còn rất trẻ. Khi học tiểu học, tôi viết văn khá tốt
và thường được thầy cô khen ngợi. Đó là những lý do khiến tôi dần dần bước vào
con đường viết lách.
3.
PV: Ông có thể chia sẻ thêm về tuổi thơ của mình không? Cuộc sống
khi ấy như thế nào?
Mạc Ngôn: Mọi nhà văn đều bắt đầu bằng việc viết về tuổi thơ, đặc
biệt là những ký ức thời thơ ấu. Tôi sinh năm 1955. Khi tôi bắt đầu có những ký
ức đầu đời, đó cũng là giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Hầu hết
mọi người đều bị đói. Cuộc sống vô cùng gian nan. Người ta chết đói, tôi nghĩ rằng
những ký ức của trẻ thơ về quãng thời gian như vậy có thể để lại những ấn tượng
ám ảnh. Tôi nhớ là trong làng có rất nhiều trẻ con. Mỗi khi trời hửng nắng vào
mùa đông, chúng tôi lại ngồi tựa vào bức tường để sưởi nắng. Quần áo đứa nào
cũng rách rưới tả tơi, chẳng còn che nổi thân mình. Bụng đứa nào cũng trương
phình vì thiếu chất, còn tay chân thì khẳng khiu, gầy guộc đúng kiểu những đứa
trẻ bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Hồi học tiểu học, tôi khá nghịch ngợm và đã bị
đuổi học vào năm lớp năm. Tuy nhiên, sau khi bị đuổi, tôi không thể gia nhập lực
lượng lao động của người lớn vì chưa đủ khả năng làm việc. Thế là tôi đi chăn
gia súc một mình. Trong môi trường cô độc như vậy, người ta chỉ có thể trò chuyện
với cây cỏ và vật nuôi. Tôi nghĩ tuổi thơ của mình khá đặc biệt. Sau này khi bắt
đầu viết lách, mọi ký ức tuổi thơ ùa về, nên tôi đã sử dụng những kỷ niệm đó, kết
hợp với các ý tưởng và sự kiện từ đời thực, để sáng tác những cuốn tiểu thuyết
đầu tay.
4.
PV: Tại sao ông lại bị đuổi học vào năm lớp năm?
Mạc Ngôn: Đó là thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Khi ấy diễn ra các hoạt
động chính trị và đấu tranh giai cấp, lòng người đầy bất an. Gia đình tôi từng
sở hữu đất đai trước ngày giải phóng nên lý lịch của tôi không được tốt. Trên
lý thuyết thì những đứa trẻ như chúng tôi được phép đến trường, nhưng nếu đi học
mà không "thể hiện tốt" thì sẽ gặp rắc rối. "Thể hiện tốt" ở
đây nghĩa là được thầy cô yêu mến. Nếu không được lòng họ, bạn sẽ bị tước bỏ
quyền tiếp tục đi học. Một lý do khác là thời đó trường lớp chẳng dạy dỗ được
bao nhiêu. Trong giờ Ngữ văn, chúng tôi chỉ đọc "Tuyển tập trích dẫn của
Chủ tịch Mao", còn trong giờ Toán hay các môn khác thì học sinh thường
xuyên nổi loạn. Ngày nào học sinh cũng đánh nhau và cãi vã. Cha mẹ tôi cảm thấy
tôi chẳng học được gì ở đó cả. Vì vậy, khi tôi bị đuổi học, họ cũng chẳng đấu
tranh gì cho tôi, và bản thân tôi cũng chẳng mặn mà gì với kiểu trường lớp như
thế. Thế là tôi nghỉ học lúc mới 11 tuổi.
5.
PV: Khi ấy ông cảm thấy thế nào?
Mạc Ngôn: Tôi cảm thấy khá cô đơn. Khi đi chăn gia súc, tôi thường
đi ngang qua cổng trường và nhìn thấy đám trẻ cùng tuổi đang vui đùa trong sân
trường. Tôi là kẻ duy nhất đứng ngoài cuộc. Vì thế, tôi cảm thấy rất cô đơn vào
thời điểm đó. Ngoài ra, tôi cũng chẳng biết tương lai mình sẽ ra sao. Tôi còn
quá nhỏ mà đã phải đi chăn gia súc. Liệu sau này tôi có thể làm được việc gì
khác không? Tương lai thế nào đây?... Tôi từng cảm thấy tuyệt vọng.
Những trải nghiệm thời
thơ ấu đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp viết lách của tôi. Tôi
đã viết về đủ loại cây cỏ, muông thú trong các tiểu thuyết của mình. Tôi viết về
mối liên kết vừa gần gũi vừa đầy bí ẩn giữa trẻ thơ và thiên nhiên. Tất cả những
điều đó đều gắn liền mật thiết với trải nghiệm cá nhân của tôi. Nhìn lại quá khứ...
Trước hết, việc không được đến trường khi còn nhỏ là điều khiến tôi tiếc nuối.
Nhưng đồng thời, tôi cũng cảm thấy phần nào biết ơn vì điều đó. Nếu không trải
qua quãng thời gian đau buồn ấy khi còn bé, có lẽ tôi đã chẳng trở thành nhà
văn. Hoặc nếu có, chắc chắn tôi đã trở thành một kiểu nhà văn khác, viết những
cuốn sách hoàn toàn khác biệt. Chính vì vậy, theo một cách nào đó, việc phải
nghỉ học sớm để trở về trang trại, được thiên nhiên và văn hóa thôn quê bao bọc,
đã giúp ích rất nhiều cho con đường trở thành nhà văn của tôi. Tất nhiên, tôi sẽ
không bao giờ cho con mình nghỉ học để đưa chúng về trang trại với hy vọng biến
chúng thành nhà văn. Mọi chuyện không diễn ra theo cách đó. Như đã nói, những
trải nghiệm đau buồn thời thơ ấu đã giúp ích cho việc viết lách của tôi; nhưng
nếu được chọn lại cách sống cho tuổi thơ mình, chắc chắn tôi sẽ chọn một tuổi
thơ hạnh phúc thay vì một tuổi thơ cô độc và đói nghèo.
6.
PV: Điều đó đã giúp ích cho việc viết lách của ông như thế nào?
Mạc Ngôn: Trước hết, tôi đã có thể thiết lập một mối quan hệ gắn bó
với thiên nhiên. Một đứa trẻ lớn lên ở trường học và một đứa trẻ lớn lên giữa đồng
ruộng sẽ có mối quan hệ khác biệt với thiên nhiên, cũng như những cảm nhận khác
nhau về cỏ cây, muông thú. Những đứa trẻ khác ngày ngày vây quanh là bạn bè và
thầy cô, còn tôi thì ngày ngày sống giữa đàn cừu, gia súc, cây cỏ và rừng cây.
Những cảm xúc của tôi dành cho thiên nhiên vô cùng tinh tế và giàu tình cảm. Suốt
một thời gian dài, tôi đã tin rằng cỏ cây, muông thú có thể giao tiếp với con
người và tôi cảm thấy chúng hiểu được những gì mình nói. Đó là một trải nghiệm
độc đáo và quý giá. Ngoài ra, tôi không tụ tập chơi đùa cùng đám trẻ con mà thường
ở bên những người lớn. Tôi không có quyền lên tiếng; họ là những người chú, người
bác và là người lớn, nên họ sẽ tỏ thái độ coi thường nếu tôi ngắt lời cuộc trò
chuyện của họ. Tuy nhiên, tôi có thể lắng nghe. Tôi bắt đầu quan sát thế giới
người lớn sớm hơn hầu hết những đứa trẻ khác, và cũng bắt đầu lắng nghe người lớn
sớm hơn mọi người.
Từ ông bà, tôi đã học hỏi
được nhiều điều về văn hóa nông thôn. Văn hóa nông thôn bao hàm các nhân vật lịch
sử, truyền thuyết, sự kiện lịch sử, và thậm chí cả những chuyện thần thoại hay
chuyện ma quái, chẳng hạn như chuyện sói hay gà trống hóa thành người. Chính vì
vậy, các yếu tố dân gian và truyền thống truyền miệng đóng vai trò quan trọng
trong các tác phẩm của tôi, bởi chúng là một phần trong những trải nghiệm của
tôi thời bấy giờ. Quan sát thế giới qua đôi mắt trẻ thơ là một góc nhìn độc
đáo. Khi người lớn nhìn sự vật, họ thường không còn cảm thấy ngạc nhiên trước
những gì mình thấy nữa. Nhưng khi một đứa trẻ ngước nhìn từ phía dưới lên, nhờ
góc nhìn từ thấp lên cao ấy, nó sẽ thấy được nhiều điều mà người lớn không nhận
ra. Điều này cũng giúp ích rất nhiều cho công việc sáng tác của tôi. Tất nhiên,
còn có những khía cạnh khác nữa mà tôi không thể giải thích hết trong một lần
được.
7.
PV: Thời thơ ấu, ông có mối quan hệ gắn bó với thiên nhiên. Vậy khi
nhìn vào Trung Quốc ngày nay, ông cảm thấy thế nào?
Mạc Ngôn: Tôi là người ủng hộ việc bảo tồn thiên nhiên. Tôi đã thể
hiện rõ quan điểm này trong các tác phẩm của mình. Trong các cuốn sách như Sinh tử mệt mỏi (Life and Death are
Wearing Me Out) và Báu vật của đời
(Big Breasts and Wide Hips), tôi đã bộc lộ nỗi đau đớn và sự phẫn nộ trước tình
trạng khai thác quá mức và sự tàn phá môi trường. Tôi luôn tin rằng chúng ta cần
phải giảm tốc độ phát triển lại. Chúng ta không nên khai thác mọi thứ một cách
vội vã như vậy. Cần phải bảo tồn văn hóa nông thôn và di sản thiên nhiên. Hãy
ngừng biến tất cả các ngôi làng thành thị trấn. Chúng ta nên để cho đất đai được
nghỉ ngơi; đừng bắt đất đai phải làm việc cật lực như thể nó là con người vậy. Tôi
vô cùng đau lòng trước tình trạng ô nhiễm và sự tàn phá môi trường tại Trung Quốc
kể từ thập niên 1980. Tôi thực sự cảm thấy day dứt về điều đó. Khi chứng kiến
các nhà máy mọc lên khắp nơi, ngay cả ở những ngôi làng mà tôi từng gắn bó...
Khi thấy dòng sông nơi tôi từng bơi lội và câu cá thuở nhỏ giờ đây biến thành một
con mương bẩn thỉu, tôi không sao diễn tả nổi nỗi đau đớn trong lòng. Khi nhìn
thấy những cái cây trong làng vương vãi đầy túi ni-lông cũ... Kiểu ô nhiễm rác
thải nhựa này khiến tôi thực sự lo sợ. Đó là lý do tại sao, khi diễn thuyết tại
Nhật Bản và các quốc gia khác, tôi luôn lên tiếng chỉ trích kiểu khai thác quá
mức này – thứ chỉ chú trọng vào lợi ích kinh tế dựa trên sự phát triển thiếu bền
vững.
8.
PV: Hãy trở lại với chủ đề văn học. Ông có nghĩ rằng văn học vẫn
còn mang lại ý nghĩa gì cho công chúng ngày nay không?
Mạc Ngôn: Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, cũng như sự kết nối
về mặt cảm xúc giữa văn học và con người, là chủ đề đã được nhiều người bàn luận
và lý giải. Quan điểm của tôi về văn học là: Trước hết, đừng đề cao nó quá mức.
Đừng kỳ vọng rằng một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ hay một vở kịch có thể thay
đổi thực trạng xã hội. Đó là một kỳ vọng quá lớn. Tất nhiên, cũng từng có trường
hợp một tác phẩm văn học châm ngòi cho chiến tranh, nhưng những sự kiện như vậy
rất hiếm gặp. Thông thường, tác động của văn học diễn ra một cách rất tinh tế
và nhẹ nhàng.
Bởi văn chương là một loại
hình nghệ thuật. Thông qua việc đánh giá cao tính thẩm mỹ, tác động sẽ diễn ra
từ từ và nhẹ nhàng, giống như những cơn mưa rào mùa xuân làm ẩm đất. Vì vậy,
tôi nghĩ, đặt văn học lên bệ cao như vậy, mong đợi nó thay đổi hiện thực để làm
điều đó với văn học, là đặt cho nó quá nhiều trọng lượng hoặc trách nhiệm. Tuy
nhiên, người ta cũng không nên coi thường nó. Văn học không chỉ để cho vui; mục
đích của nó không chỉ đơn giản là gây ra một vài tiếng cười. Tôi nghĩ phẩm chất
dối trá quý giá nhất của văn học là việc nghiên cứu tâm hồn con người. Văn học
ca ngợi những gì chân thật và tử tế. Văn học vạch trần và phê phán những gì đen
tối, xấu xí. Mục tiêu cuối cùng của nó là làm cho tâm trí của chúng ta trở nên
phong phú hơn, rộng mở hơn và khiến chúng ta trở nên tử tế và duyên dáng hơn.
Thông qua sự biến đổi của nó về con người, văn học ảnh hưởng đến sự phát triển
và cải thiện xã hội của chúng ta. Nhưng tôi nghĩ đó là một quá trình diễn ra từ
từ.
Tôi
có một sự tương đồng với mối quan hệ giữa văn học và xã hội, đó là mối quan hệ
giữa con người với mái tóc của mình: Tất nhiên, có một mái tóc đầy đủ là điều tốt.
Nó trông đẹp và giúp bảo vệ đầu của một người. Nhưng nếu ai không có nhiều tóc như
tôi thì cũng không sao, vì tôi vẫn khỏe mạnh. Với văn học cũng vậy. Một xã hội
có thể có nhiều tiểu thuyết, thơ, nhà thơ và nhà văn rất hay. Nhưng nếu có ít
chúng hơn thì cuộc sống vẫn…có thể sống sót được. Vì thế tôi nghĩ, dù là văn học
hay nghệ thuật thì nó cũng giống như sợi tóc của con người. Cuối cùng, khi một
người chết đi, người đó sẽ bị chôn vùi trong lòng đất. Nếu đào lên sau nhiều
năm, chúng ta thấy da thịt đã trở thành đất nhưng tóc vẫn còn. Ý tôi là, nhiều
thứ trong xã hội thay đổi và biến mất có lẽ chỉ còn lại văn học nghệ thuật.
9.
PV: Đó là một liên tưởng thú vị. Khi bắt đầu viết, lý do của ông là
gì? Ông nghĩ gì vậy?
Mạc Ngôn: Tôi từng nói nửa đùa nửa thật rằng lý do ban đầu tôi viết
là vì tôi muốn sống một cuộc sống hạnh phúc khi ăn bánh bao ba lần một ngày.
Tôi đã nói điều đó thường xuyên đến nỗi tôi cảm thấy mệt mỏi với nó. Nhưng thực
ra câu trả lời của tôi vẫn như vậy. Lý do viết lách ban đầu của tôi không cao
quý như một số nhà văn nói: “Tôi muốn bài viết của mình thay đổi xã hội”. “Tôi
muốn hình thành những tâm hồn đẹp đẽ thông qua văn học.” Họ đưa ra cho văn học
tất cả những định nghĩa này. Có rất nhiều nhà văn như thế. Tôi nghĩ rằng đối với
những nhà văn Trung Quốc như tôi, những người sinh ra ở các làng quê và sống một
cuộc sống thuộc tầng lớp thấp hơn trong nghèo khó, lý do ban đầu để viết văn của
chúng tôi có lẽ rất đơn giản - thậm chí thấp hèn. Đó là đặt thức ăn lên bàn,
thay đổi hoàn cảnh và cải thiện vị trí của chúng tôi. Việc cầm bút thực ra có rất
nhiều lợi ích vật chất. Tất nhiên, thông qua quá trình viết, khi cuộc sống của
bạn thay đổi, nhiều ý tưởng khác về văn học sẽ tự nhiên nảy sinh. Vì vậy, lý do
ban đầu thực sự không cao quý chút nào - thậm chí còn thô tục. Nhưng đó thực sự
là ý tưởng đầu tiên tôi có.
10.
PV: Lý do ông viết hôm nay là gì?
Mạc Ngôn: Ngày nay, tôi hoàn toàn có thể ăn sủi cảo ba bữa một
ngày. Ngay cả lúc nửa đêm, tôi chỉ cần lấy sủi cảo từ tủ lạnh ra và nấu là được.
Vậy nên, những mục tiêu đặt ra từ thuở ban đầu ấy, tôi đã đạt được từ lâu rồi.
Thế điều gì thôi thúc tôi? Động lực nào khiến tôi tiếp tục viết? Tôi không thể
giải thích điều đó chỉ trong vài câu ngắn ngủi.
Trước hết, tôi cảm thấy
mình có điều muốn nói. Tôi muốn ghi lại những suy nghĩ của mình và chia sẻ
chúng với độc giả thông qua một tác phẩm được trau chuốt kỹ lưỡng. Thứ hai, có
nhiều vấn đề trong xã hội mà tôi cảm thấy mình có trách nhiệm phải viết về
chúng. Một lý do khác là nỗ lực đổi mới văn học như một bộ môn nghệ thuật; điều
này cũng thôi thúc tôi cầm bút. Kể từ khi thể loại hư cấu (tiểu thuyết) ra đời,
đã có ít nhất một nghìn năm trôi qua. Trong nghệ thuật văn chương và tiểu thuyết,
luôn xuất hiện những hình thức mới. Các nhà văn không ngừng thay đổi hình thức
tiểu thuyết, dù là về ngôn ngữ hay cấu trúc. Vậy, liệu còn đất cho sự sáng tạo
của thế hệ nhà văn chúng tôi không? Tôi nghĩ là có. Tôi coi tiểu thuyết là một
bộ môn nghệ thuật và tin rằng sự phát triển của nó là vô tận. Hình thức thể hiện
của nó cũng chứa đựng những khả năng vô hạn. Chính niềm đam mê gần như ám ảnh đối
với tiểu thuyết như một bộ môn nghệ thuật đã thôi thúc tôi tiếp tục viết.
11.
PV: Tại sao ông lại dùng bút danh, và tại sao lại là "Mạc
Ngôn"?
Mạc Ngôn: Tôi đã chia sẻ về điều này trong buổi họp báo chiều nay.
Tên thật của tôi là Quản Mạc Nghiệp (Guan Moye). Nếu tách phần thứ hai của tên
ra, ta sẽ được chữ "Mạc Ngôn" (Mo Yan). Trong cách viết truyền thống,
phần bên trái của chữ Hán là "Ngôn" (Yan) và phần bên phải là "Mạc"
(Mo). Ngoài ra, âm đọc của phần thứ hai, "Moye", cũng khá giống với
"Mo Yan".
Một lý do khác nữa là hồi
nhỏ tôi rất hay nói. Thời đó, nói quá nhiều có thể rước họa vào thân và gây rắc
rối cho cả gia đình. Rắc rối không hẳn lúc nào cũng mang tính chính trị—kiểu
như nói lời phản cách mạng—mà còn liên quan đến các mối quan hệ xã hội. Chẳng hạn,
mình có thể lỡ lời xúc phạm hàng xóm, khiến cha mẹ phiền lòng vì người hàng xóm
đó sẽ nổi giận với họ. Khi còn bé, tính hay nói của tôi đã gây ra nhiều rắc rối
cho cha mẹ. Họ thường xuyên phê bình, dạy bảo, thậm chí là mắng mỏ tôi. Họ mắng
tôi vì cái tật "mồm miệng không giữ ý tứ". Ngoài ra, khi quyết định bắt
đầu viết lách, tôi có một suy nghĩ có phần mê tín, đó là nhiều nhà văn lớn đều
có bút danh. Những người như Lỗ Tấn hay Ba Kim đều dùng bút danh; nhiều nhà văn
nước ngoài cũng vậy. Thế nên, tôi nghĩ rằng muốn viết tiểu thuyết thì trước hết
phải có một bút danh. Và khi suy nghĩ về điều đó, tôi đã chọn cái tên "Mạc
Ngôn".
Đó là cách để tôi thể hiện
sự tôn trọng đối với những lời dạy bảo của cha mẹ. Đồng thời, nó cũng như một lời
nhắc nhở và khích lệ chính bản thân mình. Tôi cho rằng, nếu muốn trở thành nhà
văn thì cần phải nói ít đi và viết nhiều hơn. Việc nói chuyện gây tiêu hao năng
lượng và tốn thời gian; nếu dành thời gian và công sức đó cho việc viết lách,
ta sẽ viết được nhiều hơn. Vì vậy, một phần ý nghĩa của bút danh này là để tự
nhắc nhở bản thân phải nỗ lực làm việc.
12.
PV: Khi nhìn lại các tác phẩm của mình, ông có nhận thấy chủ đề hay
góc nhìn nào thường xuyên xuất hiện không?
Mạc Ngôn: Có hai chủ đề xuyên suốt. Một là sự đói khát, hai là nỗi
cô đơn. Tôi đã nhắc đến điều này nhiều lần rồi. Trong các tiểu thuyết của tôi,
đặc biệt là những tác phẩm thời kỳ đầu, đây là hai chủ đề vô cùng quan trọng bởi
chúng đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc nhất đến tôi. Mỗi khi viết về quá khứ, hai
chủ đề này chắc chắn sẽ xuất hiện. Tôi nghĩ còn một điều nữa, một điều mà tôi vẫn
luôn theo đuổi cho đến tận hôm nay: niềm hứng thú khám phá chiều sâu tâm hồn
con người. Tại sao con người lại như vậy? Tại sao có người tốt, kẻ xấu? Khi đối
mặt với cùng một sự việc, tại sao phản ứng của mỗi người lại khác nhau đến thế?
Tại sao có người bẩm sinh đã lương thiện, trong khi những kẻ khác – dù sinh ra
trong nhung lụa và được giáo dục bài bản – lớn lên lại trở nên tàn ác? Đó là những
điều tôi thấy thật khó lý giải. Tôi muốn tìm kiếm câu trả lời qua ngòi bút của
mình và nghiên cứu vấn đề sâu sắc này – một vấn đề mà chẳng thể có lời giải đáp
đơn giản.
13.
PV: Nghe có vẻ giống tâm lý học vậy. Ông đã tìm ra câu trả lời
chưa?
Mạc Ngôn: Tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời. Đôi khi tôi cũng có chút
mê tín. Đôi khi tôi nghĩ... Chúng ta thường tin rằng giáo dục và sự giáo hóa của
xã hội có thể thay đổi những đặc tính di truyền. Khi nói về việc ai đó tốt hay
xấu, ta thường quy nó cho tác động của xã hội. Nhưng sau thời gian dài quan sát
và trải nghiệm thực tế, tôi nhận thấy không phải lúc nào xã hội cũng quyết định
điều đó. Có những người sinh ra bản chất đã là như vậy. Tư duy của họ khác biệt.
Họ sinh ra với bản tính đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, bất chấp thiệt hại của
người khác. Ngược lại, có những người sinh ra để chịu đựng gian khổ và làm việc
thiện cho người đời.
Tôi nghĩ đó là ý Chúa.
Chúa muốn thế giới loài người trở nên phức tạp hơn nên Ngài đã tạo ra một nhóm
những bậc thánh nhân thực thụ – những người có phẩm hạnh vượt xa mức bình thường,
chẳng hạn như Khổng Tử. Họ là những người vị tha, luôn đặt lợi ích của người
khác lên trên lợi ích của chính mình. Vì lợi ích của người khác, họ sẵn sàng từ
bỏ cả những gì mình trân trọng nhất. Điều đó không phải là kết quả của giáo dục.
Đa số chúng ta – những người bình thường như tôi và anh – đều có sẵn lòng lương
thiện cơ bản. Tuy nhiên, sâu thẳm bên trong vẫn tồn tại một vùng xám, nơi đôi
khi ta đặt lợi ích cá nhân lên hàng đầu. Đôi khi ta cũng nảy sinh những cảm xúc
tầm thường, thấp kém. Hầu hết mọi người đều như vậy. Một nhóm khác lại hoàn
toàn trái ngược với các bậc thánh nhân. Họ sinh ra đã mang bản tính ác độc và
hoàn toàn không có ý niệm về đạo đức. Những người như chúng ta đều có ý niệm cơ
bản về đạo đức; nếu làm điều gì gây tổn thương cho người khác, ta sẽ thấy day dứt,
tự trách mình và thậm chí là hối hận. Ngược lại, những kẻ sinh ra đã mang bản
tính ác độc thì không có ý niệm đạo đức hay lương tri nào cả. Khi thực hiện những
hành vi mà chúng ta coi là cực kỳ tàn ác, họ lại chẳng hề bận tâm; họ không cảm
thấy áy náy và coi đó là chuyện bình thường. Vì vậy, tôi chỉ có thể phó mặc lý
do đằng sau tất cả những điều này cho Thượng đế. Ngài đã tạo ra ba kiểu người để
chúng ta có thể so sánh và đối chiếu lẫn nhau.
14.
PV: Ông có đức tin tôn giáo nào không?
Mạc Ngôn: Tôi là người theo thuyết đa thần. Điều này bắt nguồn từ
tuổi thơ chăn gia súc trên những cánh đồng. Trong môi trường đó, tôi cảm nhận
được rằng vạn vật đều có linh hồn. García Márquez cũng từng nói một ý tương tự:
"Mọi sự vật đều có đời sống riêng. Vấn đề chỉ là làm sao đánh thức được
linh hồn của chúng." Khi chăn thả gia súc, tôi cảm thấy chim chóc, muông
thú và cả cây cỏ đều có linh hồn. Mọi thứ đều có cảm xúc. Thế nên, tôi nghĩ
mình đã mang tư tưởng đa thần từ thuở nhỏ. Ở làng tôi cũng có nét văn hóa dân
gian như vậy. Không xa quê hương tôi là nơi sinh sống của Bồ Tùng Linh – một
nhà văn nổi tiếng thời nhà Thanh. Ông chuyên viết về các vị thần linh cũng như
linh hồn của muông thú, cây cỏ có khả năng biến hóa thành hình người. Những niềm
tin kiểu này rất phổ biến ở vùng nông thôn. Tôi thường được ông bà và hàng xóm
kể cho nghe những câu chuyện như thế. Đó là chuyện thời thơ ấu. Sau này, khi
lên thành phố, tôi được tiếp thu nhiều học thuyết, bao gồm cả chủ nghĩa vô thần
Mác-xít lẫn các lý thuyết về những vị thần khác nhau. Tôi nhận thấy rằng mọi đức
tin tôn giáo đều là tài sản tinh thần của nhân loại và cần được nghiên cứu dưới
góc độ học thuật. Vì vậy, hiện tại tôi cho rằng mình có đức tin tôn giáo. Tôi
tôn trọng tất cả các tôn giáo dạy con người sống lương thiện. Tuy nhiên, tôi
không theo riêng một tôn giáo cụ thể nào cả.
15.
PV: Thời gian của chúng ta sắp hết rồi. Tôi muốn hỏi, khoản tiền
thưởng Nobel có ý nghĩa như thế nào đối với ông?
Mạc Ngôn: Số tiền đó... Khi được các phóng viên Trung Quốc phỏng vấn,
họ hỏi: "Ông đã nhận được một khoản tiền lớn như vậy. Ông định làm gì với
nó?" Tôi nói đùa rằng: "Tôi định mua một ngôi nhà lớn hơn ở Bắc
Kinh", nhưng có người đáp ngay: "Với số tiền đó thì không mua nổi
đâu." Giá bất động sản ở Bắc Kinh quá cao. Có lẽ chỉ mua được một ngôi nhà
rộng 100 mét vuông thôi.
Ngay cả khi không có số tiền này, tôi vẫn có thể sống thoải mái và đáp ứng các nhu cầu cơ bản, nhưng nó sẽ cho phép tôi làm được nhiều việc hơn. Trước hết, tôi sẽ không còn phải viết vội vã hay làm việc không nghỉ ngơi chỉ để kiếm sống nữa. Giờ đây, tôi có thời gian để trau chuốt tác phẩm vì không còn bị áp lực phải cho ra đời số lượng lớn bài viết. Thay vào đó, tôi có thể tập trung vào chất lượng cao hơn. Ngoài ra, tôi có thể dùng số tiền này để giúp đỡ những người cần sự hỗ trợ tại quê nhà – bạn bè, người thân hoặc bà con trong làng.
PV: Cảm ơn ông – và xin chúc mừng ông một lần nữa!
------------
(*). Nguồn: Nobelprize.org

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét