9/10/26

4.022. SHORT TALKS - Anne Carson

 


Ra mắt lần đầu vào năm 1992, SHORT TALKS là tập thơ đầu tiên và duy nhất của Anne Carson được xuất bản tại Canada. Tác phẩm đã đánh dấu sự xuất hiện của một giọng văn mới đầy sâu sắc, mang âm hưởng bi ai nhưng cũng đầy sắc sảo, châm biếm. SHORT TALKS hoàn toàn xứng đáng đứng ngang hàng với những tác phẩm bán chạy và từng đoạt giải thưởng khác của Carson.

SHORT TALKS của Anne Carson, gồm 45 bài viết ngắn được coi là một tác phẩm mang tính cột mốc trong việc xóa bỏ ranh giới thể loại của văn học hậu hiện đại. Trong giới phê bình và nghiên cứu văn học, Short Talks được hiểu và định vị qua ba tầng thể loại chính:

1/ Thơ văn xuôi (Prose Poetry) và Tản văn cực ngắn (Micro-essays): được trình bày dưới dạng các đoạn văn xuôi chứa đựng nhịp điệu, hình ảnh cô đọng và sức nén cảm xúc đậm chất thi ca. Đồng thời mỗi đoạn văn đóng vai trò như một bài luận thu nhỏ, đặt ra các câu hỏi triết học, lịch sử, văn hóa hoặc trải nghiệm cá nhân.

2/ Thể loại Lai (Hybrid / Cross-genre / Genre-bending): Short Talks không hoàn toàn là thơ, không thuần túy là văn xuôi, cũng không hẳn là triết luận. Nó là sự pha trộn giữa triết học, phê bình văn học, ký ức cá nhân và hư cấu, tạo nên thể loại mà người ta gọi là "Hybrid Form" (thể loại lai).

3/ "Diễn ngôn thu nhỏ" hay Sự giễu nhại cấu trúc hàn lâm (Pastiche / Mini-lectures): Bản thân nhan đề "Short Talks" (Những bài nói ngắn/ Đối thoại ngắn/ Đoản văn) gợi liên tưởng đến các bài diễn văn, bài giảng hàn lâm hoặc các buổi thuyết trình khoa học. Tuy nhiên, Carson đã "giải phóng" hình thức bài giảng khỏi sự cứng nhắc bằng lối tư duy phi tuyến tính, đầy tính giễu nhại (irony) và giàu sức gợi thẩm mỹ.

Tóm lại: Short Talks của Anne Carson được hiểu như một cuộc thử nghiệm thể loại lai (Hybrid Poetry/Micro-essay). Tác phẩm đã chứng minh rằng một đoạn văn xuôi ngắn vừa có thể mang sức nặng triết học của một bài khảo luận, vừa giữ nguyên độ bay bổng và sự tinh tế của một bài thơ tối giản.

Cuốn sách này khi thì hài hước, lúc lại đầy ám ảnh, với những chủ đề đa dạng, đầy lôi cuốn…  Chưa từng có ai không mua cuốn sách này sau khi đã mở nó ra xem. Tập thơ thật độc đáo, một món quà ngọt ngào chỉ tốn chừng 47 phút để đọc và đọc lại. Thơ văn xuôi – với mỗi bài thơ mang tính chơi chữ, trí tưởng tượng cùng những yếu tố thi ca ẩn mình giữa thảm thực vật của văn xuôi.

Dưới đây là một số “Short Talks” trích trong tập sách trên.

***

1. ĐI GIẬT LÙI

(SHORT TALK ON WALKING BACKWARDS)

Mẹ cấm chúng tôi đi giật lùi. Bà bảo rằng đó là cách người chết đi lại. Bà lấy ý tưởng này từ đâu? Có lẽ là từ một bản dịch dở. Suy cho cùng, người chết không đi giật lùi, nhưng họ lại bước đi ngay sau lưng ta. Họ không có phổi và chẳng thể cất tiếng gọi, nhưng lại rất mong ta quay đầu nhìn lại.

Nhiều người trong số họ là những nạn nhân của tình yêu.

 

2. NIỀM HẠNH PHÚC

(SHORT TALK ON LE BONHEUR D’ÊTRE BIEN AIMÉE)

Ngày qua ngày, tôi nghĩ về em ngay khi vừa thức giấc. Ai đó đã rải tiếng chim hót vào không trung tựa như những viên ngọc quý.

 

3. VỀ BRIGITTE BARDOT

(SHORT TALK ON BRIGITTE BARDOT)

Brigitte Bardot đang rình rập. Cô ấy muốn gì đây, một nô lệ chăng? Để thỏa mãn những cơn thèm khát và tạo ra những bức ảnh tuyệt đẹp. Nô lệ của ai? Cô ấy chẳng bận tâm, cũng chẳng bao giờ tự trách mình. Cô sẽ dùng dầu để làm cho người nô lệ ấy sáng bóng lên. Hoàn hảo. La folie - sự điên rồ - cô sẽ tự nhủ thầm như vậy.

 

4. CHỈNH SỬA

(SHORT TALK ON RECTIFICATION)

Kafka thích để đồng hồ chạy nhanh hơn giờ thực tế một tiếng rưỡi. Felice thì cứ mãi chỉnh lại cho đúng giờ. Dẫu vậy, mỗi người vẫn yêu người kia đúng như bản chất của họ - ông đã viết điều này trong nhật ký, bên cạnh vài dòng nhận xét về hàm răng bọc vàng của nàng; thứ ánh sáng lấp lánh từ đó gợi cho ông cảm giác như chốn địa ngục vào năm 1912. Và họ đã suýt kết hôn trong suốt năm năm trời. Ông lập một danh sách các lý lẽ ủng hộ và phản đối việc này, bao gồm cả việc không thể chịu đựng nổi sự tấn công dồn dập của chính cuộc đời mình (lý do ủng hộ) và hình ảnh những chiếc áo ngủ được trải sẵn trên giường cha mẹ lúc 10 giờ rưỡi tối (lý do phản đối). Cơn xuất huyết đã cứu ông. Khi được các bác sĩ tại viện điều dưỡng khuyên không nên nói chuyện, ông đã để lại những câu nói sắc lẹm như mảnh thủy tinh vương vãi khắp sàn nhà. Một trong số những câu đó nói rằng: Felice vẫn còn mang trong mình quá nhiều sự trần trụi. Răng khỏe mạnh ư? Chúng cũng có vẻ đáng sợ theo cách riêng của mình.

 

5. VỀ VAN GOGH

(SHORT TALK ON VAN GOGH)

"Lý do tôi uống rượu là để thấu hiểu bầu trời vàng, bầu trời vàng vĩ đại kia," Van Gogh từng nói. Khi nhìn ra thế giới, ông thấy những chiếc đinh ghim màu sắc vào vạn vật, và ông thấy những chiếc đinh ấy đang đau đớn.

 

6. NỖI ĐAU 

(SHORT TALK ON PAIN)

Những thảm cỏ, cánh đồng, đồi núi và những dải đất xanh mướt rộng lớn tựa tay áo nhung xưa cũ. Chúng trải dài, gấp nếp, cuộn lại, bung mở và làm dịu mắt nhìn. Trông thật xinh đẹp trong các bức tranh. Những trận chiến từng diễn ra trên các bãi cỏ. Hoặc bạn có thể bày biện một bữa ăn và thưởng thức. Chúng nằm đó thật kín đáo, tựa như nền đất của những cánh rừng xa xăm. Tiếp đến là nấm mồ, thường xuất hiện trong nhiều bài thơ viết về sắc xanh. Nhưng đây không phải là một bài thơ. Đây là tấm biển quảng cáo đậu Hà Lan đông lạnh. Đậu Hà Lan đông lạnh rất tốt để giảm đau.

 

7. NHỮNG VIÊN ĐÁ NGỦ

(SHORT TALK ON SLEEP STONES)

Camille Claudel đã sống ba mươi năm cuối đời trong một trại tâm thần với nỗi hoài nghi và những lá thư gửi người anh em thi sĩ của mình - người đã ký giấy đưa bà vào đó. "Hãy đến thăm em," bà viết. "Hãy nhớ rằng em đang sống cùng những người đàn bà điên loạn, ngày tháng dài dằng dặc." Bà không hút thuốc hay đi dạo. Bà từ chối tạc tượng. Dù người ta đưa cho bà những "viên đá ngủ" - đá cẩm thạch, đá granite và đá porphyry - bà lại đập vỡ chúng, rồi gom những mảnh vụn đem chôn bên ngoài bức tường vào ban đêm. Đêm là lúc đôi bàn tay bà trở nên to lớn lạ thường; trong những bức ảnh chụp lại, chúng trông như hai phần cơ thể của một ai đó đang đặt nặng lên đầu gối bà.

 

8. CHỐNG THẤM

(SHORT TALK ON WATERPROOFING)

Franz Kafka là người Do Thái. Ông có một người em gái tên là Ottla, cũng là người Do Thái. Ottla kết hôn với Josef David, một luật gia không phải người Do Thái. Khi Luật Nuremberg được áp dụng tại vùng Bohemia-Moravia vào năm 1942, Ottla - vốn là người trầm lặng - đã đề nghị Josef David ly hôn. Ban đầu, ông từ chối. Bà nói về những hình thù của màn đêm, về tài sản, về hai cô con gái và về một cách giải quyết hợp lý. Bà không nhắc đến - vì khi ấy bà chưa biết đến cái tên này- Auschwitz, nơi bà sẽ qua đời vào tháng Mười năm 1943. Sau khi thu xếp ổn thỏa mọi việc trong căn hộ, bà chuẩn bị một chiếc ba lô và được Josef David đánh bóng đôi giày thật kỹ. Ông bôi lên đó một lớp mỡ. "Giờ thì chúng chống thấm nước rồi," ông nói.

 

9. BỨC HOẠ MONA LISA

(SHORT TALK ON THE MONA LISA)

Ngày qua ngày, ông trút câu hỏi của mình vào nàng, tựa như rót nước từ bình này sang bình khác, và rồi dòng nước lại trào ngược trở lại. Đừng bảo tôi rằng ông đang vẽ mẹ mình, hay vẽ sự ham muốn, vân vân. Có khoảnh khắc dòng nước chẳng nằm ở bình này hay bình kia - cơn khát ấy mới mãnh liệt làm sao, và ông cứ ngỡ khi tấm toan trở nên trống rỗng hoàn toàn thì ông sẽ dừng lại. Nhưng phụ nữ vốn kiên cường. Nàng hiểu về những chiếc bình, hiểu về nước, và thấu cả cơn khát cháy lòng của kiếp người.

 

10. VỀ SYLVIA PLATH

(SHORT TALK ON SYLVIA PLATH)

Bạn có thấy mẹ cô ấy trên truyền hình không? Bà nói những điều giản đơn, đau đớn. Bà bảo: "Tôi thấy đó là một bài thơ xuất sắc nhưng nó làm tôi tổn thương." Bà không nói về nỗi sợ nơi rừng thẳm. Bà không nói về lòng căm thù hoang dại, tiếng khóc than giữa rừng già hay nhát dao chặt phăng tất cả. Bà nói về sự tự chủ, về bước đường cùng. Bà không nói về tiếng ngân vang giữa thinh không, về lý do ta đến đây hay nhát chém dứt khoát.

 

11. BỘ SƯU TẬP TOÀN DIỆN

(SHORT TALK ON THE TOTAL COLLECTION)

Từ thuở ấu thơ, ông đã mơ ước được giữ bên mình mọi vật thể trên thế gian, xếp chúng ngay ngắn trên kệ và tủ sách. Ông chối bỏ sự thiếu hụt, sự lãng quên, hay thậm chí cả khả năng thất lạc một món đồ nào đó. Trật tự tuôn chảy từ Noah thành những hình tam giác màu xanh; và khi cơn cuồng nộ thuần khiết trong cách phân loại của ông dâng cao, nhấn chìm cuộc đời ông, người đời gọi chúng là những con sóng—những con sóng đã dìm chết biết bao người.

 

12. NGỒI

(SHORT TALK ON SEATING)

Ngày nay, ông bị trói vào ghế trong căn phòng cùng ba kẻ điên, nhưng thời chiến, cha tôi là một hoa tiêu; ông bay tầm thấp trên bầu trời nước Pháp để thả các kiện hàng cho điệp viên - có lần là những đôi tất nylon, thứ thật khó giải thích với đám lính Đức đã bắn hạ máy bay. "Wo ist sie?" (Cô ta đâu rồi?) - chúng cứ gặng hỏi, nhưng cha tôi không biết tiếng Đức, còn ba người kia thì đã chết ngay trên ghế ngồi của mình.

 

13. BỨC TRANH "BÀI HỌC GIẢI PHẪU CỦA BÁC SĨ DEYMAN"

(SHORT TALK ON THE ANATOMY LESSON OF DR. DEYMAN)

Một mùa đông lạnh giá đến mức, khi rảo bước trên phố Breestraat, lúc đi từ vùng nắng sang vùng bóng râm, bạn có thể cảm nhận sự khác biệt chạy dọc hộp sọ mình tựa như dòng nước chảy. Đó là mùa đông đói kém năm 1656, khi Black Jan bắt đầu qua lại với một cô gái điếm tên là Elsje Ottje và cả hai đã có một thời khấm khá. Nhưng vào một tháng Giêng lạnh giá, người ta bắt gặp Black Jan đang trộm đồ tại nhà một thương buôn vải. Hắn bỏ chạy, vấp ngã, đâm một người đàn ông và bị treo cổ vào ngày 27 tháng Giêng. Hẳn bạn đã biết chuyện gì xảy ra sau đó: tiết trời lạnh giá đã cho phép Bác sĩ Deyman đặt cái nhìn đầy tính y học lên cơ thể Black Jan suốt ba ngày ròng. Người ta tự hỏi liệu Elsje có bao giờ nhìn thấy bức tranh của Rembrandt hay không—bức tranh khắc họa gã người tình trộm cắp của cô ở góc nhìn chính diện đầy dữ dội, nơi lòng bàn chân trần của hắn dường như chạm sát vào khối đại não đang bị xẻ đôi. Cắt và cắt thật sâu để tìm ra căn nguyên vấn đề, Bác sĩ Deyman dường như đang nói vậy khi ông rẽ đôi khối não sang hai bên tựa như rẽ tóc. Nỗi buồn cứ thế chầm chậm trồi ra từ đó.

 

14. KHI MÁY BAY CẤT CÁNH

(SHORT TALK ON THE SENSATION OF AIRPLANE TAKEOFF)

Chà, bạn biết đấy, tôi cứ tự hỏi, liệu đó có phải là tình yêu đang lao về phía cuộc đời tôi, giơ cao đôi tay và reo lên: "Mua ngay thôi, hời quá đi mất!"

 

15. HOA LAN

(SHORT TALK ON ORCHIDS)

Chúng ta sống bằng cách đào những đường hầm, bởi lẽ ta là những kẻ bị chôn sống. Với tôi, những đường hầm bạn tạo ra trông lạ lùng và vô định hướng, tựa như những nhành lan bị bứng khỏi đất. Nhưng hương thơm thì bất diệt. "Một cậu bé đã bỏ nhà đi khỏi Amherst vài ngày trước," Emily Dickinson viết trong một lá thư năm 1883, "và khi được hỏi sẽ đi đâu, cậu đáp: Vermont hoặc châu Á."

 

16. TRÚ XỨ

(SHORT TALK ON SHELTER)

Bạn có thể viết lên tường bằng trái tim cá, nhờ vào chất phốt-pho trong đó. Người ta ăn thứ ấy; dọc theo con sông có những túp lều như thế. Tôi viết những dòng này để trở nên sai lệch nhất có thể trong mắt bạn. "Hãy lắp lại cửa khi rời đi," dòng chữ viết vậy; giờ hãy nói cho tôi biết điều đó sai lệch đến mức nào. Nó tỏa sáng trong bao lâu. Hãy nói cho tôi biết.

 

17. CHỦ NGHĨA KHOÁI LẠC

Cái đẹp khiến tôi tuyệt vọng. Tôi chẳng còn bận tâm lý do nữa, chỉ muốn trốn chạy. Khi ngắm nhìn Paris, tôi khao khát được quấn đôi chân mình quanh nó. Khi nhìn em khiêu vũ, tôi thấy một sự mênh mông vô cảm, tựa như thủy thủ giữa biển lặng tờ. Những khao khát tròn trịa như trái đào nở rộ trong tôi suốt đêm dài; tôi chẳng còn nhặt nhạnh những gì rơi rụng nữa.

 

18. SỨ MỆNH CỦA TÔI

‘Sứ mệnh của tôi là gánh vác những nỗi niềm thầm kín thay cho thế giới. Người đời dõi theo với ánh mắt tò mò. Chẳng hạn như sáng hôm qua, lúc bình minh vừa ló dạng, bạn có thể bắt gặp tôi trên đê chắn sóng, tay mang theo những cuộn băng gạc. Tôi cũng mang theo cả những ý tưởng lạc thời, những tội lỗi nói chung, hay bất cứ hành động sai lầm nào đã cùng bạn trôi dạt vào khoảnh khắc này. Hãy tin tôi. Loài vật đang phi nước đại kia có thể trả lại sắc đỏ nguyên vẹn cho những trái tim đỏ thắm.

 

19. SỰ KẾT THÚC

Sự khác biệt giữa ánh sáng và sự chiếu sáng là gì? Có một bức tranh khắc mang tên Ba cây thập tự (The Three Crosses) của Rembrandt. Đó là bức tranh vẽ đất, trời và đồi Calvary. Một khoảnh khắc trút xuống họ, tấm bản in dần sẫm màu hơn. Sẫm hơn nữa. Rembrandt đánh thức bạn đúng lúc để chứng kiến ​​vật chất loạng choạng bước ra khỏi những hình hài của chính nó.

 

20. VỀ VIỆC ĐỌC

Có những người cha ghét đọc sách nhưng lại thích đưa cả nhà đi du ngoạn. Có những đứa trẻ ghét đi xa nhưng lại mê đọc sách. Thật thú vị khi thấy họ thường cùng ngồi chung trên một chiếc xe hơi. Tôi từng thoáng thấy những sườn núi Rocky hùng vĩ, trơ trụi cây cối, hiện ra giữa những dòng chữ của cuốn Madame Bovary. Bóng mây lững lờ trôi qua vách đá dựng đứng tựa cổ họng khổng lồ, lướt nhẹ trên những sườn núi phủ đầy thông. Kể từ dạo ấy, tôi chẳng thể nhìn thấy những sợi lông tơ trên da thịt phụ nữ mà không tự hỏi: Liệu chúng có rụng theo mùa không nhỉ?

 

21. CHUYỆN LỚN VÀ CHUYỆN NHỎ

Những chuyện lớn lao bao gồm gió, cái ác, một con chiến mã dũng mãnh, các giới từ, tình yêu bất tận, và cách người ta chọn ra vị vua của mình. Những chuyện nhỏ nhặt bao gồm bụi bẩn, tên gọi của các trường phái triết học, tâm trạng hay sự thiếu vắng tâm trạng, và việc xem giờ cho chuẩn xác. Xét tổng thể thì chuyện lớn nhiều hơn chuyện nhỏ, tuy nhiên số lượng chuyện nhỏ còn nhiều hơn những gì tôi đã viết ở đây, nhưng liệt kê chúng ra thật nản lòng. Khi nghĩ đến cảnh bạn đang đọc những dòng này, tôi không muốn bạn bị giam cầm, bị ngăn cách khỏi chính cuộc đời mình bởi một tấm lưới thép viền kính, tựa như nàng Elektra vậy.

 

22. GERTRUDE STEIN VÀO KHOẢNG 9 GIỜ 30 TỐI

Thật lạ lùng. Tôi chẳng hề hay biết! Ngày hôm nay đã khép lại.


* Mộc Nhân biên dịch từ nhiều nguồn:

1. Yalereview.org

2. Poetrynw.org

3. The NewYorker.com

 


 

 

Không có nhận xét nào: