Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: Anne Carson, “Essay on What I Think About Most”- by Huck Gutman, from “Poetry Letters”
Chúng tôi tham dự khá nhiều buổi đọc thơ; có buổi hay, nhưng cũng có buổi chưa thực sự ấn tượng. Một trong những buổi đọc thơ thu hút đông đảo khán giả nhất - diễn ra tại phòng khiêu vũ rộng lớn của khách sạn - là buổi đọc của nữ nhà thơ người Canada, Anne Carson. Tôi đã hoàn toàn bị cuốn hút và mê hoặc.
Tôi vẫn thường đọc thơ
Carson và định gửi đi một bài thơ tuyệt vời của bà có tựa đề "Father’s Old
Blue Cardigan" (Chiếc áo khoác len xanh cũ của cha). Tôi từng có chút e ngại
khi chọn tác phẩm của Carson, bởi trong những lần đọc trước, tôi cảm thấy mình
chưa thực sự "thẩm thấu" được chúng. Ý tôi là "thẩm thấu"
theo đúng nghĩa đen- tức là tâm trí tôi thực sự bước vào bên trong bài thơ. Với
nhiều bài thơ của bà, tôi chỉ đứng ở bên ngoài, trầm trồ thán phục kỹ năng, trí
tuệ và sự đổi mới sáng tạo của bà. Nhưng tôi không thực sự sống trong thế giới
của bài thơ, và chúng cũng không thấm đẫm vào tâm hồn tôi. Qua từng bài thơ,
tôi nhận ra rằng dù rất ngưỡng mộ bà, tôi vẫn chưa bao giờ thực sự bước vào được
"vũ trụ nhỏ trọn vẹn" của bà.
Tôi vẫn chưa cảm nhận được
rằng bài thơ của bà đã lột tả trọn vẹn cuộc đời thi sĩ hay mang lại cái nhìn thấu
đáo về con người bà. Viết về bài “Father’s Old Blue Cardigan” (Chiếc áo khoác
len xanh cũ của cha) – bài thơ duy nhất của bà mà tôi thấy dễ tiếp cận – dường
như có chút gì đó... khiên cưỡng. Hay ít nhất là quá vội vàng. Một bài thơ thì
thật... thật... mang tính tạm thời. Thế còn phần còn lại trong các sáng tác của
Carson thì sao? Liệu đây có phải là một trong những bài thơ xuất sắc nhất của
bà, hay chỉ đơn thuần là bài duy nhất tôi có thể cảm thụ thành công?
… Tôi bắt đầu với cuốn
sách dịch của Carson về thơ Sappho – nữ thi sĩ Hy Lạp, người từ lâu đã được
công nhận xứng đáng là một trong những nữ thi sĩ kiệt xuất nhất trong lịch sử
nhân loại. Nữ thi sĩ vĩ đại đầu tiên. Người khai sinh ra cả một thể loại –
không, từ đó vẫn còn quá hạn hẹp – người khai sinh ra thơ trữ tình, thứ thơ ca
của những khát khao mãnh liệt và nồng cháy; người đã làm cho Hy Lạp và nền văn
minh phương Tây thế tục những điều tương tự như những gì Vua David đã làm cho
Israel và nền văn minh phương Tây tôn giáo qua tác phẩm “Diễm ca” (Song of
Songs) trong Kinh Thánh.
Sau khi đọc nhiều bản dịch,
tôi lần lượt chuyển sang các tập thơ khác của Carson. Trong quá trình nghiền ngẫm
các cuốn sách, tôi tình cờ bắt gặp bài “Essay on What I Think About Most” (Tiểu
luận về điều tôi suy tư nhiều nhất). Tôi vô cùng yêu thích bài thơ này. Tôi
thích đọc lại và chiêm nghiệm từng câu chữ trong đó. Tôi chợt nhận ra rằng
Carson đang làm điều tương tự như những gì tôi vẫn làm trong các email của
mình: dấn thân vào một bài thơ, quan sát kỹ lưỡng cách ngôn ngữ và cấu trúc của
nó vận hành để truyền tải những điều mà ta không dễ dàng nhận thấy – hay nói
theo ngôn ngữ của Aristotle mà bà sử dụng trong bài thơ, là lặn sâu xuống dưới
lớp "ngôn ngữ thông thường" để chạm tới "ngôn ngữ ẩn dụ" –
và cuối cùng là đúc kết lại những gì bài thơ đã dạy ta sau khi ta đã chiêm nghiệm
nó một cách kỹ càng.
Vì vậy, tôi quyết định
viết về bài "Essay on What I Think About Most" (Tiểu luận về điều tôi
suy tư nhiều nhất). Như bạn sẽ sớm nhận ra, bài thơ này thực chất là một bài tiểu
luận về việc đọc thơ – một phiên bản thi ca của chính những gì tôi đang thực hiện
với các bài viết mà bạn đang đọc đây.
Bài "Essay on What
I Think About Most" của Anne Carson xoay quanh một bài thơ ngắn do bà dịch
sang tiếng Anh; nguyên tác là của một nhà thơ Hy Lạp ít tên tuổi: “Chúa tạo ra
ba mùa: mùa hè,/ mùa đông, và mùa thu là mùa thứ ba,/ còn mùa xuân là mùa thứ
tư – khi/ hoa trái nở rộ nhưng chẳng đủ đầy/ để no bụng” (Alkman, thế kỷ thứ 7
TCN, Sparta). Trước khi biết đến bài thơ của Carson, tôi chưa từng hay biết về
sự tồn tại của Alkman. Tôi không biết gì về thơ ca của ông ngoại trừ bài thơ
này – bài thơ được bà đưa vào khổ thứ chín trong "Tiểu luận" của
mình.
"Essay on What I
Think About Most" là bài phân tích của Carson về bài thơ trữ tình năm dòng
của Alkman. Bà gọi tác phẩm của mình là một bài "tiểu luận". Quả thực
đó là một bài tiểu luận, nhưng nó còn hơn thế nữa và mang một sắc thái khác biệt:
đó là một bài thơ xuất sắc. Theo nghĩa đó, nó có thể được xem như một sự thăng
hoa – một bước chuyển mình lên tầm vóc thiêng liêng – của một bài tiểu luận về
thơ ca.
Hãy bắt đầu với một vài
"sự kiện" về bối cảnh trước khi chúng ta đi sâu vào bài thơ. Thứ nhất,
Anne Carson là người Canada; và như bạn có thể đoán được qua sự quan tâm cũng
như kiến thức uyên bác của bà về Alkman, bà là một giáo sư kiêm học giả
chuyên nghiên cứu về thơ ca, ngôn ngữ và nền văn minh Hy Lạp. Bà hiện giảng dạy
ngành Cổ học (Classics) tại Đại học Michigan. Thứ hai, một phần đáng kể các bài
thơ của bà xoay quanh chủ đề tình yêu, khát vọng và sự tan vỡ của chúng, cũng
như nỗi niềm bị bỏ rơi, niềm đau thương, cơn giận dữ và nỗ lực hàn gắn một cuộc
đời đầy thương tổn. Vì vậy, có thể/ và ta nên lưu tâm đến điều này - rằng khổ
thơ đầu tiên nói về "lầm lỗi" mang tính cá nhân hơn vẻ bề ngoài của
nó; và bài thơ, vốn mang màu sắc triết lý khi triển khai, có lẽ phần nào phản
ánh cách chính tác giả đối diện và vượt qua những lầm lỗi cùng những cảm xúc đi
kèm với chúng. Có thể là vậy. Cũng có thể không [3].
Trước khi đi vào bài
thơ, tôi không thể không nhắc đến một điều lẽ ra đã hiển nhiên với tôi nhưng lại
bị bỏ sót cho đến khi tôi gõ lại bài thơ này, từng chữ một. Mỗi khổ thơ gồm sáu
dòng.
Dưới đây là bài thơ “Tiểu
luận về điều tôi suy ngẫm nhiều nhất” (Essay on What I Think About Most) – một
bài thơ sử dụng một bài thơ khác (của Alkman) để xem xét sâu sắc vai trò của
sai lầm trong cuộc sống chúng ta. Qua đó, bài thơ chạm đến cốt lõi trong cách
chúng ta đối diện với sự kỳ lạ vốn là dấu ấn của kiếp người.
(Xem bài thơ tại đây)
Hãy bắt đầu từ đầu. Về mặt
nào đó, chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho những gì sau tiêu đề: một bài tiểu luận
[4] là sự suy ngẫm về một chủ đề được hướng dẫn bởi sự cân nhắc của tâm trí nhiều
hơn là bằng hình thức bên ngoài hoặc logic chặt chẽ. Chủ đề mà Carson nghĩ tới
nhiều nhất? Điều đó được thể hiện rõ ràng ở dòng đầu tiên của bài thơ.
Nhiều bài thơ của Carson
nói về lỗi lầm, về những sai lầm – bà làm việc theo mạch ở đâu đó trong lãnh thổ
không xác định giữa tự truyện và tiểu thuyết. Theo Freud, người ta có thể dễ
dàng khẳng định mọi tiểu thuyết về cơ bản đều là tự truyện. Tương tự như vậy,
chúng ta ngày nay nhận thức được rằng vì lối kể chuyện và ý thức về bản sắc
luôn được áp đặt vào tự truyện, nên tất cả tự truyện theo một nghĩa nào đó đều
là hư cấu, là một thứ được làm ra.
“Lỗi,” bao gồm toàn bộ
dòng đầu tiên, nằm trong bốn dòng sau được coi là tạm thời: khi chúng ta tiến về
phía nó, chúng ta sợ hãi; ở giữa nó chúng ta cảm thấy ngu ngốc; sau khi phạm tội,
nhìn vào gương chiếu hậu, chúng ta cảm thấy xấu hổ và hối hận. Ngay cả trước
khi chúng ta rời khỏi khổ thơ đầu tiên, Carson chỉ ra rằng chúng ta có thể đã mắc
lỗi khi hỏi về những gì cô ấy vừa nói: “Hay là vậy?” Có lẽ lỗi lầm không phải
là dịp để xấu hổ và hối hận? Điều đó có thể là sự thật không? Chúng ta thực sự
không nên xấu hổ khi mắc lỗi sao?
“Hãy xem xét điều này./ Rất
nhiều người trong đó có Aristotle nghĩ rằng có lỗi/ Một sự kiện tinh thần thú vị
và có giá trị./ Trong cuộc thảo luận của ông về ẩn dụ trong Rhetoric/ Aristotle
nói có 3 loại từ./ Kỳ lạ, bình thường và ẩn dụ.”
Vì vậy, bà lùi lại và
yêu cầu chúng tôi, nhà thơ cũng như độc giả, “hãy xem xét điều này”. Bản thân
là một người theo chủ nghĩa cổ điển, cô nghĩ lại về Aristotle, người mà cô cho
rằng lỗi suy nghĩ là “một sự kiện thú vị và có giá trị”. Carson đã nhờ đến Hùng
biện của mình, đưa vào bài thơ một trích dẫn cổ điển; trong khổ thơ tiếp theo,
cô ấy sẽ cung cấp cả một câu trích dẫn và một tài liệu tham khảo mang tính học
thuật thực tế khi chúng ta gặp một chú thích ở giữa bài thơ, một tình huống kỳ
lạ.
Nhưng hiện tại, bà ấy
đưa cho chúng ta phân tích ngôn ngữ của Aristotle, nói rằng có ba loại ngôn ngữ:
ngôn ngữ minh bạch và thực tế của cuộc sống hàng ngày (ngôn ngữ 'thông thường'),
các thuật ngữ lạ (chúng ta có thể nghĩ về biệt ngữ chuyên ngành của khoa học,
hoặc kỹ thuật, hoặc thậm chí là ẩm thực cao cấp) và ẩn dụ. Cô tiếp tục trích dẫn
Aristotle trong khổ thơ tiếp theo: “Những lời lạ lùng đơn giản làm chúng tôi bối
rối;/ những từ thông thường truyền đạt những gì chúng ta đã biết;/ chính từ ẩn
dụ mà chúng ta có thể nắm bắt được điều gì đó mới mẻ” (Tu từ, 1410b10-13)./ Sự
mới mẻ của ẩn dụ bao gồm điều gì?/ Aristotle nói rằng ẩn dụ khiến tâm trí tự trải
nghiệm [5]
Ở dòng thứ năm, bà đặt
ra một câu hỏi khác: “Sự mới mẻ của phép ẩn dụ nằm ở đâu?” Bà đưa ra câu trả lời
ngay dòng kế tiếp, một dòng thơ trở nên đặc biệt phong phú nhờ cách ngắt
dòng/ngắt khổ. Sự ngắt dòng này – thuật ngữ chuyên môn gọi là *enjambment* (ngắt
câu vắt dòng)[6], tức là ngắt kết thúc một dòng thơ trong khi ý tưởng và cấu
trúc cú pháp vẫn đang tuôn chảy sang dòng mới – đẩy ta đến một kết luận ngay
trước điểm ngắt, trong khi cấu trúc cú pháp tiếp diễn ở khổ thơ sau lại dẫn ta
đến một kết luận thứ hai. Trước điểm ngắt dòng, câu trả lời là “phép ẩn dụ khiến
tâm trí tự trải nghiệm chính nó.” Tại thời điểm này, dường như phép ẩn dụ là một
dạng thức của sự tự ý thức. Nhưng không, đó là một sự nhầm lẫn. Khi đã vội vã dừng
lại ở cuối dòng thơ, ta nhận ra cách hiểu đó là sai lầm[7]. Ta phải nhảy sang
khổ thơ tiếp theo để hiểu đúng vấn đề. Bởi lẽ, ta biết được rằng tâm trí tự trải
nghiệm chính nó vì nó phạm sai lầm; nó tự trải nghiệm chính nó trong chính hành
động phạm sai lầm ấy.
Bà hình dung tâm trí
đang di chuyển trên một bề mặt phẳng của ngôn ngữ thông thường thì đột nhiên bề
mặt ấy nứt vỡ hoặc trở nên phức tạp. Sự bất ngờ xuất hiện. Một cách đầy hóm hỉnh,
sau khi vừa bàn về quan điểm của Aristotle về phép ẩn dụ, Carson lại đưa ra một
phép ẩn dụ cho chính chúng ta. Về Aristotle. Trong hình ảnh ẩn dụ của bà,
Aristotle hình dung tâm trí như một phương tiện (có thể là một chiếc thuyền,
hay một cỗ xe) đang di chuyển trên bề mặt ngôn ngữ, thì đột nhiên xuất hiện một
khoảng trống khiến không còn mặt đất vững chắc hay làn nước nâng đỡ nào để giữ
mọi thứ ổn định mà không gặp trở ngại. “Sự bất ngờ xuất hiện.”:
Ban đầu, điều đó có vẻ kỳ
lạ, mâu thuẫn hoặc sai lệch,/ Rồi nó trở nên hợp lý./ Và ngay khoảnh khắc ấy,
theo Aristotle,/tâm trí quay về với chính mình và thốt lên: “Thật đúng làm sao,
vậy mà ta đã lầm!”/ Từ những sai lầm xác thực của phép ẩn dụ, ta có thể rút ra
một bài học.
‘Điều này không thể nào
xảy ra,’ tâm trí thốt lên, cũng theo lời Aristotle. Bất cứ điều gì trồi lên từ
bên dưới vẻ êm đềm của ngôn ngữ "thông thường" hẳn phải là sai lệch:
nó quá đỗi kỳ lạ, quá mâu thuẫn với những gì ta từng nghĩ về ý nghĩa của ngôn
ngữ. Và chính tại đây, tâm trí trải qua khoảnh khắc có thể "tự chiêm nghiệm
chính mình": "Ẩn dụ này mới đúng làm sao, vậy mà ta đã từng hiểu lầm
nó."
Hãy dừng lại một chút để
xem xét về ẩn dụ. Ví dụ về ẩn dụ (thực ra là hai ẩn dụ) mà tôi vẫn thường tự nhủ
với lòng mình đến từ nhà thơ cuối thế kỷ 18 William Blake: Khi mặt trời mọc, chẳng
phải bạn nhìn thấy một đĩa lửa tròn trịa tựa như đồng tiền vàng guinea hay sao?
Ồ không, không, tôi nhìn thấy vô số thiên binh đang cất tiếng tung hô:
"Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng."
Hai ẩn dụ trong cùng một
hình ảnh: mặt trời không chỉ là mặt trời; xét theo sự so sánh hay đồng nhất với
đời thường, nó là một đồng tiền vàng sáng chói; còn với nhà huyền học Blake, nó
là một dàn hợp xướng thiên thần đang cất tiếng ngợi ca Đấng Tạo Hóa [8].
“Không chỉ là chuyện sự
vật khác với vẻ bề ngoài,/ khiến ta hiểu lầm chúng,/ mà chính sự hiểu lầm ấy lại
mang giá trị./ Hãy nắm lấy nó, Aristotle nói,/ có biết bao điều để ta nhìn ngắm
và cảm nhận ở đây./ Ẩn dụ dạy cho tâm trí biết...”
Nếu đọc chậm khổ thơ
trên, ta sẽ thấy xuất hiện một sự mơ hồ thoáng chốc: rốt cuộc "chúng"
– thứ mà ta nhìn nhầm – là gì? Khi sự vật "khác với vẻ bề ngoài", thì
đâu mới là sự nhầm lẫn trong hai khả năng ấy? Phải chăng đó là đồng tiền vàng
và đoàn thiên sứ? Hay "chúng" lại chính là những điều thường nhật,
bình dị mà ta nhìn nhầm vì ta tiếp nhận chúng một cách hời hợt, chẳng buồn quan
sát kỹ – "không, không, đó chỉ là mặt trời thôi"? Tôi mạo muội cho rằng
sự mơ hồ này được giải đáp ở dòng thơ kế tiếp, bởi cụm từ "sự nhầm lẫn
mang lại giá trị" cho thấy "có biết bao điều để chiêm nghiệm và cảm
nhận" khi ta nhìn mặt trời như một đoàn thiên sứ, hay thậm chí là một đĩa
lửa. Những phép ẩn dụ – khổ thơ khép lại, một lần nữa với thủ pháp ngắt dòng vắt
sang khổ kế tiếp – "những phép ẩn dụ dạy cho tâm trí"
Ta thích thú trước sự
bùng nổ của những điều kỳ lạ, khác thường và bất ngờ nảy sinh từ phép ẩn dụ. Ta
học hỏi từ ẩn dụ, dù rằng điều ta học được – "cái thực và cái không thực"
– lại mang tính mơ hồ. Trong một phép ẩn dụ, đâu là cái này và đâu là cái kia?
Điều được vận dụng trong
khổ thơ trên chính là nghịch lý và tam đoạn luận. Tư duy lý trí, chừng nào còn
dựa trên logic, sẽ vận hành theo lối tam đoạn luận: một sự vật là chính nó chứ
không phải là thứ khác. Nó không thể vừa là chính nó, lại vừa là một thứ gì
khác được. Ngoại trừ – như ta đã học được từ Aristotle thông qua Carson – trong
phép ẩn dụ. Mặt trời có thể vừa là mặt trời, vừa là đĩa lửa, vừa là đồng tiền
vàng, lại vừa là đoàn thiên sứ.
Hơn nữa, như Carson chỉ
ra, lối tam đoạn luận này không chỉ thuộc về logic phương Tây. Bà dẫn chứng một
câu tục ngữ cổ của Trung Hoa khẳng định rằng một sự vật phải là chính nó, chứ
không thể là thứ khác. Khổ thơ kết thúc bằng một lần ngắt dòng vắt ý nữa.
Tại sao cơn đói lại mang
cảm giác như một sai lầm, đúng như điều Carson khẳng định ngay sau đó? Có lẽ bởi
nỗi sợ hãi, sự thất bại và nỗi nhục nhã vốn gắn liền với sai lầm (ở khổ thơ đầu)
cũng hiện diện trong cơn đói—dù là ở thì tương lai, hiện tại hay khi nhìn lại
quá khứ. Theo cách này, đói/sai lầm trở thành một phép ẩn dụ theo một trong những
nghĩa mà Aristotle từng đề xuất: nó tạo ra sự đồng nhất dựa trên những phẩm chất
chung. Có lẽ cũng bởi cơn đói đi ngược lại hoàn toàn với bản năng tự bảo toàn vốn
ăn sâu vào mỗi chúng ta—theo thuyết Darwin, đó là bản năng sâu sắc nhất.
“Cơn đói luôn mang lại cảm
giác/ như một sai lầm. Alkman khiến chúng ta cùng ông trải nghiệm sai sót này thông
qua việc sử dụng hiệu quả một lỗi tính toán./ Đối với một nhà thơ Sparta nghèo
khó chẳng còn lại gì/ Liệu khi đọc đoạn thơ của Alkman, chúng ta có nhận ra
"lỗi tính toán" nảy sinh từ việc ông nhắc đến ba mùa nhưng sau đó lại
liệt kê bốn mùa hay không? Là một nhà phê bình xuất sắc, Carson không chỉ khiến
ta thấy lỗi sai đó mà còn hướng sự chú ý của ta vào nó. Sai sót về mặt số học
này tương đồng với cái thiếu hụt do đói nghèo: yếu tố "nghĩ thêm"
trong chuỗi số học cũng giống như cảnh nhà thơ chẳng còn lại gì dù năm đã hết
và mùa đông đã qua — "một nhà thơ Sparta nghèo khó chẳng còn lại gì"
Tôi đã chỉ ra rằng thủ
pháp ngắt dòng (enjambment) không chỉ là đặc điểm trong thơ Alkman mà còn hiện
diện ở bài thơ của Carson mà chúng ta đang đọc dở dang này.
Trong thơ ca – và điều
này đặc biệt đúng với những bài thơ kiệt xuất – thường chẳng có con đường nào dẫn
đến sự thấu hiểu tốt hơn việc nói rằng: "Tôi thích điều này" [10], và
nếu tôi chỉ cho bạn thấy, có lẽ bạn cũng sẽ thích nó. Và đây là Anne Carson,
đang chia sẻ với chúng ta những điều bà yêu thích ở bài thơ ngắn này:
“Có ba điều tôi thích ở
bài thơ của Alkman,/ Thứ nhất là nó nhỏ nhắn,/ nhẹ nhàng/ và cô đọng một cách
hoàn hảo./ Thứ hai là nó dường như gợi lên những sắc màu như xanh nhạt/ mà chẳng
cần phải gọi tên chúng./ Thứ ba, bài thơ khéo léo khơi gợi những câu hỏi siêu
hình trọng đại/ (như: Ai đã tạo ra thế giới)/ mà không cần đến sự phân tích tường
tận, lộ liễu./ Bạn có nhận thấy động từ “tạo ra” ở dòng đầu tiên/ không hề có
chủ ngữ: [?]
Ở đây, Carson tiếp cận
bài thơ không phải như một mảnh vỡ, mà như một chỉnh thể trọn vẹn. Cách nhìn nhận
năm dòng thơ của Alkman này biến phần mở đầu vốn mơ hồ thành một nước đi đầy
táo bạo. Theo cách đọc của Carson, bằng việc lược bỏ chủ ngữ, Alkman đã giải
quyết câu hỏi về nguồn gốc thế giới mà chúng ta đang sống – một thế giới không
chỉ có các mùa luân chuyển, mà còn có cả nỗi đói khát – theo một cách thức cực
kỳ súc tích.
Các nhà ngữ văn học có
thể giữ quan điểm của họ, lý trí có thể có lý lẽ riêng, nhưng Carson lại chọn
cách chấp nhận cái sai – một “lỗi” trong văn bản. Bà chọn cách đọc một mảnh vỡ
như một chỉnh thể có chủ đích, nhằm giúp bài thơ bộc lộ nhiều ý nghĩa hơn hẳn
so với cách tiếp cận thông thường. Hãy nhớ lại khi bà nói rằng trong “hành động
phạm sai lầm… sự bất ngờ sẽ nảy sinh”? Quả thực, việc chấp nhận “lỗi sai” này
thay vì viện đến cách giải thích hàn lâm truyền thống đã làm lộ ra một chiều
kích hoàn toàn bất ngờ của bài thơ cũng như cách nó thấu hiểu thế giới. Như bà
sẽ nói ở khổ thơ tiếp theo: “mục đích chính của ngữ văn học/là quy mọi niềm
thích thú văn chương về thành một sự ngẫu nhiên của lịch sử.” Chẳng trách bà lại
khước từ cách giải thích theo lối ngữ văn học.
Carson cũng thấu hiểu điều
mà tôi từng ghi nhận là ý tưởng của con trai mình, Dave: rằng "có thể"
và "có thể không" thực ra mang cùng một nghĩa. "Chà, có lẽ là vậy,"
khổ thơ kết lại. "Và có lẽ chẳng phải vậy," ta nghe thoáng qua – có
thể, hoặc có thể không.
Alkman nói lên sự thật,
dường như một cách ngẫu nhiên trong khoảnh khắc "sáng tỏ đầy ngẫu hứng"
(từ "ngẫu hứng" hay "vô tình" này suýt nữa lại trở thành một
"lỗi lầm" khác).
Một khía cạnh sự thật mà
bài thơ truyền tải chính là điều được nhắc đến trong dòng mở đầu của tác phẩm
có lẽ là vĩ đại nhất thế kỷ 20 – bài thơ *Đất Hoang* (The Waste Land) của T. S.
Eliot: "Tháng Tư là tháng tàn nhẫn nhất." Đất đai đâm chồi nảy lộc, hồi
sinh tươi mới, còn chúng ta thì không: ta già đi, ta mang những nỗi khao khát,
ta cứ thế tiếp tục sống mà chẳng có sự tái sinh tương tự.
Sự "sáng tỏ dường
như vô tình" của Alkman thực ra là một "sự giả tạo. Alkman chẳng hề
đơn giản chút nào."
"Ông là bậc thầy của
sự dàn dựng." Đó là một sự thật khác mà bài thơ hé lộ, một sự thật sẽ được
khai thác trong các khổ thơ tiếp theo. Cái giả mà lại là thật, cái sai lầm lại
phơi bày chân lý: đó chính là cốt lõi của nghệ thuật, theo cả quan điểm của
Aristotle lẫn Carson. Bởi lẽ nghệ thuật mô phỏng thực tại.
Nghệ thuật cố tình đánh
tráo bài thơ với thế giới, từ ngữ với sự vật, một bản sao được tạo ra với
"thực thể đích thực." Như vậy, ta bắt gặp một trong những chân lý cổ
xưa nhất về nghệ thuật – nghệ thuật là sự mô phỏng, là *mimesis* – theo một
cách thức mới mẻ và bất ngờ. Sự "sáng tỏ . . . dường như vô tình"
trong năm dòng thơ của Alkman – những dòng thơ được sáng tác bởi "một bậc
thầy dàn dựng" – khơi gợi "sự nhẹ nhàng khi chấp nhận/ rằng việc ta
làm thơ thực chất là tạo ra sai lầm."
“là sự nhẹ nhàng khi chấp
nhận/ rằng việc ta làm thơ thực chất là tạo ra sai lầm,/ là sự cố tình tạo ra
sai lầm,/ là sự cố ý phá vỡ và làm phức tạp hóa những sai lầm/ để từ đó có thể
nảy sinh/ những điều bất ngờ.”
Ở khổ thơ trên, chúng ta
đã đi đến kết luận của bài thơ. Phần còn lại chỉ là sự nhắc lại và tóm lược.
"Việc ta làm thơ thực chất là tạo ra sai lầm,/ là sự cố tình tạo ra sai lầm."
Nhà thơ cố ý phá vỡ lý trí, phép tam đoạn luận và sự chặt chẽ của tư duy toán học
– phá vỡ cả cái quy tắc "2 + 2 = 4" – để tạo ra những sai lầm đầy phức
tạp. "Sự cố ý phá vỡ và làm phức tạp hóa những sai lầm" ấy cho phép
chúng ta đối diện với "những điều bất ngờ[13]."
Khi nghệ thuật mô phỏng
thế giới, khi nó tái tạo thế giới bằng ngôn từ, nó thay thế thực tại bằng một
‘sai lệch’. Tuy nhiên, vì nghệ thuật cho phép những điều bất ngờ nảy sinh trong
ý thức, nó mang lại cho chúng ta một mối tương quan mới với thực tại.
Tạo ra sự bất ngờ thông
qua việc cố tình tạo ra những sai lệch là điều Alkman đã làm được, và quá trình
này khiến chúng ta – những độc giả của ông – trở nên phong phú hơn về mặt tinh
thần. Bài thơ, vốn là sự mô phỏng cuộc sống chứ không phải chính cuộc sống, có
thể “phá vỡ các quy tắc số học... làm đảo lộn ngữ pháp, gây xáo trộn” mọi thứ,
để “kéo chúng ta vào sự thật này”: rằng cơn đói vẫn ngự trị, rằng thực tại
không thể thỏa mãn chúng ta, và rằng ta cần đến những sai lệch để thấu hiểu thế
giới mình đang sống. Bằng cách tạo ra một thực tại khác biệt – một “sai lầm” và
một sự “mô phỏng” – bài thơ mang đến cho ta những sai lệch, những sai lệch có
khả năng kỳ diệu giúp ta “né tránh nỗi sợ hãi, lo âu, sự giả tạo và niềm hối hận”.
Ba trong số bốn từ được tôi in nghiêng ở trên đã xuất hiện ngay khổ thơ đầu, nhằm
diễn tả những cảm xúc vốn thường đi kèm với sai lầm trong đời thực (chứ không
phải trong bài thơ!).
“Sự bất toàn chính là
thiên đường của chúng ta,” Wallace Stevens đã viết như vậy trong bài thơ đầy
chiêm nghiệm tuyệt đẹp về một bình hoa cẩm chướng mang tên *The Poems of our
Climate* (Những bài thơ của khí hậu tâm hồn ta). Những gì ông viết ở phần kết
bài thơ cũng chính là điều Anne Carson muốn truyền tải khi bà viết: “Sự thật về
con người chính là sự bất toàn.” Dưới đây là đoạn kết trong bài thơ của
Stevens:
“Sự bất toàn là thiên đường
của ta./ Hãy nhận ra rằng, trong nỗi đắng cay ấy, niềm hoan lạc,/ Bởi sự bất
toàn hừng hực cháy trong ta,/ Nằm ở những ngôn từ khiếm khuyết và những âm
thanh bướng bỉnh.”
Bài thơ khép lại bằng việc
chỉ ra rằng đã có điều gì đó thay đổi. Dù Alkman vẫn mang trong mình cơn đói,
nhưng nhờ tạo ra ‘sai lệch’ trong bài thơ, ông đã trở nên phong phú hơn và
chúng ta cũng vậy. Ông đã thành công trong việc “kéo chúng ta vào sự thật này”:
rằng chúng ta đang sống trong một thế giới bất toàn, rằng chúng ta luôn mang những
cơn đói lòng, và rằng nhu cầu cũng như khát vọng luôn hiện hữu cùng ta.
Nhưng bạn sẽ nhận thấy rằng
trong bài thơ của Carson, thực tại ("sự thật vẫn là sự thật") không
phải là điều cuối cùng đọng lại. Có điều gì đó đã thay đổi nơi nhà thơ, và cũng
có điều gì đó đã thay đổi nơi chúng ta. Alkman giúp ta nhìn thấy những điều trước
đây ta chưa từng thấy, và ông đã tạo ra một thứ – hãy gọi đó là một tác phẩm
nghệ thuật, dù thoạt nhìn có vẻ rời rạc – một tác phẩm hoàn hảo, hay thậm chí
còn hơn cả hoàn hảo. Nghệ thuật cho phép "tâm trí tự trải nghiệm chính
mình," để "hiểu được" những điều "bất ngờ." Từ nghệ
thuật, ta có thể "rút ra bài học," và thông qua "sai lầm" của
nó, sự thật được "bộc lộ một cách bất chợt."
Sai lầm, như Aristotle từng
đề xuất, cho phép chúng ta "nắm bắt được điều gì đó mới mẻ và tươi mới."
Nó vượt xa lối suy luận tam đoạn luận hay tư duy lý trí thận trọng, rạch ròi để
làm được điều mà câu ngạn ngữ Trung Hoa (được Carson trích dẫn trước đó) khẳng
định là bất khả thi. Bởi lẽ, đến cuối bài thơ này, chính câu ngạn ngữ "Cây
bút không thể viết hai chữ chỉ bằng một nét" lại hóa ra là một sai lầm.
Tôi nhận ra rằng khi đi
đến đoạn kết của bài thơ này, nội dung của nó đã chuyển hướng – như thường thấy
ở nhiều bài thơ – sang chủ đề về chính thi ca. Carson đã dẫn dắt chúng ta đến
đó. Tuy nhiên, tôi tin rằng bà muốn vượt xa hơn phạm vi thi ca; ở đây, thi ca
được dùng như một biểu tượng cho sự hiện hữu của con người[14]. Bởi lẽ, xét cho
cùng, bài tiểu luận của Carson không bàn về một vấn đề hạn hẹp như "nhu cầu
về thi ca". Không, nó bàn về việc sai lầm không nhất thiết phải là điều gì
đó gây tê liệt hay cản bước chúng ta. Chúng ta có thể vượt qua sai lầm, học hỏi
từ nó và tạo ra một điều gì đó mới mẻ: không chỉ là một bài thơ, mà là cả một
cuộc đời.
(1). Nguồn: Huckgutman.com
(2). Stanley Gutman (1943) là một học giả và cố vấn chính trị người Mỹ. Ông là Tiến sĩ, giáo sư tiếng Anh tại Đại học Vermont và là cựu chánh văn phòng của ứng cử viên tổng thống Bernie Sanders. Khi còn học đại học, ông được đặt biệt danh "Huck" từ Huckleberry Finn vì thường đi chân trần quanh khuôn viên trường nên thường được gọi là Huck Gutman. Ông được xen là chuyên gia về "Thơ ca Mỹ thế kỷ XIX, XX, và Thơ ca đương đại" với nhiều cuốn sách, bài luận về phê bình văn học Mỹ và toàn cầu. Ông lập trang web “Poetry Letters” với câu tuyên ngôn: “Trong gần mười năm qua, tôi đã gửi thư về các nhà thơ và thơ của họ. Trang web này được liên kết với tất cả những bức thư đó…” (For almost ten years I have been sending out letters on poets and their poems. This website is linked to all those letters…)
* Mộc Nhân biên dịch và chú dẫn


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét