Năm 2010, Mario Vargas
Llosa (1936 – 2025) - Tiểu thuyết gia Peru, được trao giải Nobel Văn học “vì bản
đồ cấu trúc quyền lực và những hình ảnh sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất
bại của cá nhân” (for his cartography of structures of power and his trenchant
images of the individual's resistance, revolt, and defeat).
Mario Vargas Llosa đã trình bày bài diễn từ nhận giải Nobel của mình vào ngày 7 tháng 12 năm 2010 tại Viện Hàn lâm Thụy Điển, Stockholm bằng tiếng Tây Ban Nha.
* Bản tiếng Anh do Edith
Grossman dịch, có tựa:
CA NGỢI VIỆC ĐỌC VÀ HƯ CẤU
(In Praise of Reading
and Fiction)
Tôi học đọc khi lên năm
tuổi, trong lớp học của thầy Justiniano tại Học
viện De la Salle ở Cochabamba, Bolivia. Đó là điều quan trọng nhất từng xảy
ra với tôi. Gần bảy mươi năm sau, tôi vẫn nhớ rõ phép màu của việc chuyển hóa
những từ ngữ trong sách thành hình ảnh đã làm phong phú cuộc đời tôi như thế
nào; nó phá vỡ mọi rào cản về thời gian và không gian, cho phép tôi cùng Thuyền
trưởng Nemo du hành hai vạn dặm dưới đáy biển, sát cánh cùng d’Artagnan, Athos,
Porthos và Aramis…
Việc
đọc sách đã biến những giấc mơ thành hiện thực và biến hiện thực thành những giấc
mơ, đồng thời đặt cả vũ trụ văn chương vào tầm tay của cậu bé là tôi ngày
ấy. Mẹ tôi kể rằng những dòng đầu tiên tôi viết ra chính là phần tiếp nối cho
những câu chuyện tôi từng đọc, bởi tôi cảm thấy buồn khi chúng kết thúc hoặc vì
tôi muốn thay đổi cái kết của chúng. Và có lẽ, đó chính là điều tôi đã dành cả
cuộc đời mình để thực hiện mà không hề hay biết: kéo dài theo thời gian—khi tôi
lớn lên, trưởng thành và già đi—những câu chuyện từng lấp đầy tuổi thơ tôi bằng
niềm say mê và những cuộc phiêu lưu.
Tôi ước gì mẹ tôi có mặt
ở đây - người phụ nữ từng rơi lệ khi đọc thơ của Amado Nervo và Pablo Neruda; cả
ông nội Pedro nữa, với chiếc mũi to và cái đầu hói bóng loáng, người luôn tán
thưởng những vần thơ của tôi; và cả chú Lucho, người đã nhiệt thành thôi thúc
tôi dốc trọn tâm sức cho nghiệp viết, dẫu rằng văn chương vào thời ấy và nơi chốn
ấy chẳng mang lại mấy đãi ngộ cho những kẻ trót say mê nó. Suốt cuộc đời mình,
tôi luôn có những con người như thế sát cánh bên cạnh—những người yêu thương,
khích lệ và truyền cho tôi niềm tin mỗi khi tôi chao đảo vì hoài nghi. Nhờ họ,
và tất nhiên nhờ cả sự kiên định cùng chút may mắn của bản thân, tôi đã có thể
dành phần lớn thời gian cho niềm đam mê, cho cái "thói nghiện" và cả
điều kỳ diệu mang tên viết lách; để kiến tạo một cuộc đời song song - nơi ta
tìm thấy chốn nương náu trước nghịch cảnh, nơi biến điều
phi thường thành lẽ tự nhiên và điều tự nhiên thành điều phi thường, nơi xua
tan hỗn loạn, tô điểm cho cái xấu xí, ướp giữ khoảnh khắc thành vĩnh cửu
và biến cái chết thành một màn trình diễn thoáng qua.
Viết
lách chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Khi được chuyển thành ngôn từ, các dự án
thường trở nên héo úa trên trang giấy, còn ý tưởng và hình ảnh thì thất bại.
Làm sao để thổi hồn sống lại vào chúng? May thay, đã có những bậc thầy đi trước—những
người thầy để ta học hỏi và những tấm gương để ta noi theo. Flaubert dạy tôi rằng
tài năng chính là kỷ luật sắt đá và sự kiên nhẫn bền bỉ. Faulkner cho thấy hình
thức—cách viết và cấu trúc—có thể nâng tầm hoặc làm nghèo nàn các đề tài.
Martorell, Cervantes, Dickens, Balzac, Tolstoy, Conrad, Thomas Mann chứng minh
rằng tầm vóc và tham vọng trong tiểu thuyết cũng quan trọng chẳng kém gì sự
điêu luyện về văn phong hay chiến lược tự sự. Sartre khẳng định rằng ngôn từ
chính là hành động; rằng một cuốn tiểu thuyết, một vở kịch hay một bài tiểu luận—nếu
gắn kết với hiện tại và hướng tới những lựa chọn tốt đẹp hơn—đều có thể thay đổi
dòng chảy lịch sử. Camus và Orwell cho thấy một nền văn học thiếu vắng đạo đức
là phi nhân tính; còn Malraux khẳng định rằng chủ nghĩa anh hùng và tinh thần sử
thi vẫn có thể hiện hữu trong thời đại ngày nay, cũng như đã từng tồn tại vào
thời của các Argonaut, của sử thi Odyssey và Iliad.
Nếu trong bài phát biểu
này, tôi cố gắng triệu tập tất cả những nhà văn mà tôi mang ơn—dù ít hay nhiều
- thì bóng hình của họ hẳn sẽ bao trùm lấy chúng ta trong màn đêm dày đặc. Họ
đông đảo vô kể. Không chỉ hé lộ những bí quyết của nghệ thuật kể chuyện, họ còn
thôi thúc tôi khám phá những chiều sâu thăm thẳm của nhân tính, ngưỡng mộ những
hành động hào hùng và kinh hoàng trước sự tàn bạo của con người. Họ là những
người bạn tận tụy nhất, những người đã tiếp thêm sức sống cho nghiệp viết của
tôi; qua trang sách của họ, tôi nhận ra rằng hy vọng vẫn luôn tồn tại ngay cả
trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất, và cuộc sống này đáng để ta nỗ lực—chỉ riêng
vì lý do đơn giản là nếu không có sự sống, ta sẽ chẳng thể đọc hay tưởng tượng
ra những câu chuyện.
Đôi
khi tôi tự hỏi liệu viết lách có phải là một thú vui xa xỉ mang tính tự mãn ở
những đất nước như quê hương tôi—nơi có quá ít độc giả, quá nhiều người nghèo
khó và mù chữ, đầy rẫy bất công, và nơi văn hóa chỉ là đặc quyền của một nhóm
thiểu số. Tuy nhiên, những hoài nghi ấy chưa bao giờ dập tắt niềm đam mê viết
lách trong tôi; tôi vẫn miệt mài viết ngay cả trong những giai đoạn mà việc mưu
sinh đã chiếm trọn quỹ thời gian của mình. Tôi tin rằng mình đã đúng đắn, bởi lẽ
nếu văn học chỉ có thể nảy nở khi xã hội đã đạt đến đỉnh cao về văn hóa, tự do,
thịnh vượng và công bằng, thì có lẽ nó đã chẳng bao giờ tồn tại. Nhưng nhờ có
văn học—nhờ vào nhận thức mà nó định hình, những khát khao và mong mỏi mà nó
khơi dậy, cũng như cảm giác hụt hẫng với thực tại khi ta trở về từ chuyến du
hành vào thế giới tưởng tượng tuyệt đẹp—mà nền văn minh ngày nay bớt tàn nhẫn
hơn so với thời các người kể chuyện bắt đầu dùng những câu chuyện ngụ ngôn để
nhân văn hóa cuộc sống. Nếu thiếu đi những cuốn sách hay từng đọc, chúng
ta sẽ trở nên tồi tệ hơn: dễ phục tùng theo khuôn mẫu hơn, thiếu đi sự trăn trở,
dễ cúi đầu tuân lệnh hơn, và tinh thần phản biện—động lực của sự tiến bộ—thậm chí
sẽ chẳng thể tồn tại. Cũng như viết, đọc sách là một hành động phản kháng lại
những khiếm khuyết của cuộc đời. Khi tìm kiếm trong hư cấu những điều còn thiếu
vắng ở đời thực, ta đang ngầm khẳng định—mà chẳng cần thốt thành lời hay thậm
chí chẳng cần tự nhận thức rõ ràng—rằng cuộc sống hiện tại không thỏa mãn được
cơn khát cái tuyệt đối (nền tảng của thân phận con người) và lẽ ra nó phải tốt
đẹp hơn thế. Chúng ta sáng tạo ra hư cấu để được sống, theo một cách nào đó,
nhiều cuộc đời mà mình hằng mong ước, trong khi thực tế ta chỉ có duy nhất một
cuộc đời để sống.
Nếu thiếu đi hư cấu, ta
sẽ khó nhận thức được tầm quan trọng của tự do đối với một cuộc sống đáng sống,
cũng như không thấy được viễn cảnh địa ngục khi cuộc sống ấy bị chà đạp bởi bạo
chúa, bởi một hệ tư tưởng hay một tôn giáo cực đoan.
Những ai còn hoài nghi việc văn học không chỉ đưa ta đắm mình vào giấc mơ về
cái đẹp và hạnh phúc mà còn cảnh báo ta về mọi hình thức áp bức, hãy tự hỏi: tại
sao mọi chế độ muốn kiểm soát hành vi công dân từ lúc lọt lòng đến khi nhắm mắt
xuôi tay lại sợ văn học đến mức phải thiết lập hệ thống kiểm duyệt để kìm hãm
nó và luôn giám sát chặt chẽ các nhà văn độc lập? Họ làm vậy vì hiểu rõ rủi ro
khi để trí tưởng tượng tự do bay bổng trong những trang sách; họ biết rằng hư cấu
sẽ trở nên đầy tính kích động khi độc giả so sánh sự tự do—thứ tạo nên và hiện
diện trong các tác phẩm ấy—với sự u tối và nỗi sợ hãi luôn rình rập trong thế
giới thực. Dù muốn hay không, dù có nhận thức được hay không, khi sáng tạo ra
những câu chuyện, các nhà văn đã gieo rắc sự bất mãn; họ chứng minh rằng thế giới
này vốn dĩ khiếm khuyết và cuộc sống trong thế giới tưởng tượng lại phong phú
hơn nhiều so với guồng quay thường nhật. Một khi điều này bén rễ vào cảm thức
và nhận thức của công dân, họ sẽ trở nên khó bị thao túng hơn, ít chịu tin vào
những lời dối trá của kẻ thẩm vấn hay cai ngục—những kẻ luôn muốn thuyết phục họ
rằng cuộc sống sau song sắt mới là cuộc sống an toàn và tốt đẹp hơn.
Văn học đích thực bắc những
nhịp cầu nối liền các dân tộc khác nhau; thông qua việc khơi gợi niềm vui, nỗi
đau hay sự ngạc nhiên, văn học gắn kết chúng ta lại với nhau, vượt lên trên những
rào cản về ngôn ngữ, tín ngưỡng, thói quen, phong tục và định kiến vốn chia rẽ
con người. Khi con cá voi trắng khổng lồ nhấn chìm Thuyền trưởng Ahab xuống đáy
biển, trái tim độc giả ở Tokyo, Lima hay Timbuktu đều cùng chung một nỗi kinh
hoàng. Khi Emma Bovary uống thạch tín, Anna Karenina lao mình vào đoàn tàu,
Julien Sorel bước lên đoạn đầu đài; hay khi vị bác sĩ thành thị Juan Dahlmann
trong truyện ngắn "El sur" bước ra khỏi quán rượu giữa vùng thảo
nguyên để đối mặt với lưỡi dao của kẻ côn đồ, hoặc khi ta nhận ra rằng toàn bộ
cư dân làng Comala của Pedro Páramo thực chất đều đã chết — thì cảm giác rùng
mình ấy vẫn vẹn nguyên như nhau ở mọi độc giả, bất kể họ tôn thờ Đức Phật, Khổng
Tử, Chúa Kitô, Thánh Allah hay là người theo thuyết bất khả tri, bất kể họ mặc
âu phục thắt cà vạt, áo choàng djellaba, kimono hay quần bombachas. Văn học tạo
nên tình huynh đệ giữa sự đa dạng của nhân loại và xóa nhòa những ranh giới
ngăn cách con người, vốn được dựng lên bởi sự thiếu hiểu biết, các hệ tư tưởng,
tôn giáo, ngôn ngữ và sự ngu muội.
Mỗi thời đại đều có những
nỗi kinh hoàng riêng, và thời đại của chúng ta là kỷ nguyên của những kẻ cuồng
tín, những kẻ khủng bố liều chết — một kiểu người cổ hủ tin rằng việc giết chóc
sẽ giúp họ đạt được thiên đường, rằng máu của người vô tội có thể gột rửa những
nỗi nhục chung, sửa chữa những bất công và áp đặt chân lý lên những niềm tin
sai lệch. Mỗi ngày, trên khắp thế giới, vô số nạn nhân bị sát hại bởi những kẻ
tự cho mình nắm giữ chân lý tuyệt đối. Khi các đế chế toàn trị sụp đổ, chúng ta
từng tin rằng tinh thần chung sống hòa bình, sự đa nguyên và quyền con người sẽ
lên ngôi, và thế giới sẽ bỏ lại sau lưng những cuộc thảm sát, diệt chủng, xâm
lược và chiến tranh hủy diệt. Nhưng chẳng điều nào trong số đó trở thành hiện
thực. Những hình thức man rợ mới đang trỗi dậy, bị kích động bởi sự cuồng tín;
và với sự phổ biến của vũ khí hủy diệt hàng loạt, chúng ta không thể phớt lờ thực
tế rằng một nhóm nhỏ những kẻ cuồng tín tự cho mình là đấng cứu thế có thể một
ngày nào đó gây ra thảm họa hạt nhân toàn cầu.
Chúng ta phải ngăn chặn,
đối đầu và đánh bại chúng. Số lượng những kẻ này
không nhiều, mặc dù dư chấn từ tội ác của chúng vang vọng khắp hành tinh và những
cơn ác mộng do chúng gây ra khiến chúng ta chìm trong nỗi kinh hoàng. Chúng ta
không được phép để mình bị đe dọa bởi những kẻ muốn tước đoạt quyền tự do mà
nhân loại đã dày công vun đắp qua suốt chiều dài lịch sử văn minh. Hãy cùng bảo
vệ nền dân chủ tự do – dù còn nhiều hạn chế – nhưng vẫn là biểu tượng của sự đa
nguyên chính trị, sự chung sống hòa bình, lòng khoan dung, nhân quyền, sự tôn
trọng những ý kiến phản biện, thượng tôn pháp luật, các cuộc bầu cử tự do và
sự luân chuyển quyền lực; tất cả những điều này đã đưa chúng ta thoát khỏi cuộc
sống man rợ và đưa ta đến gần hơn – dẫu chẳng bao giờ chạm tới trọn vẹn – với
cuộc sống tươi đẹp, hoàn mỹ mà văn chương hằng kiến tạo, một cuộc sống mà ta
chỉ có thể xứng đáng được hưởng khi ta tự mình kiến tạo, viết và đọc về nó.
Khi đối đầu với những kẻ cuồng tín khát máu, chúng ta đang bảo vệ quyền được mơ
ước và quyền biến những giấc mơ ấy thành hiện thực.
Thời
trẻ, cũng như nhiều nhà văn cùng thế hệ, tôi từng là một người theo chủ nghĩa
Mác và tin rằng chủ nghĩa xã hội sẽ là liều thuốc chữa trị nạn bóc lột cùng những
bất công xã hội đang ngày càng trầm trọng tại đất nước tôi, ở Mỹ Latinh và khắp
thế giới thứ ba. Quá trình tôi vỡ mộng về chủ nghĩa nhà nước và chủ nghĩa tập
thể, rồi chuyển mình thành một người theo tư tưởng dân chủ và tự do như hiện
nay – hay đúng hơn là nỗ lực trở thành một người như thế – đã diễn ra rất dài
lâu, gian nan và chậm rãi. Sự thay đổi ấy là kết quả của những sự kiện như: sự
biến chất của Cách mạng Cuba (phong trào mà ban đầu tôi từng hết lòng ủng hộ)
thành mô hình độc đoán, áp đặt từ trên xuống theo kiểu Liên Xô; những lời chứng
thực từ các nhà bất đồng chính kiến đã thoát khỏi hàng rào kẽm gai của hệ thống
trại cải tạo Gulag; cuộc xâm lược Tiệp Khắc bởi các quốc gia thuộc Khối Warsaw;
và cả ảnh hưởng từ những tư tưởng gia như Raymond Aron, Jean-François Revel,
Isaiah Berlin và Karl Popper – những người đã giúp tôi nhìn nhận lại giá trị của
văn hóa dân chủ và xã hội mở. Những bậc thầy ấy là tấm gương sáng ngời về sự
minh mẫn và lòng can đảm hiên ngang, ngay cả khi giới trí thức phương Tây – vì
sự nông nổi hoặc thói cơ hội – dường như đã bị mê hoặc bởi chủ nghĩa xã hội kiểu
Liên Xô, hay tệ hại hơn nữa, là bị cuốn vào "đêm hội phù thủy" đẫm
máu của cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc.
Thuở thiếu thời, tôi từng
mơ một ngày nào đó được đến Paris; bởi lẽ, bị mê hoặc bởi văn học Pháp, tôi tin
rằng việc sống tại đó và hít thở bầu không khí mà Balzac, Stendhal, Baudelaire
và Proust từng hít thở sẽ giúp tôi lột xác thành một nhà văn đích thực, còn nếu
không rời Peru, tôi mãi chỉ là kẻ viết lách nghiệp dư vào những ngày nghỉ cuối
tuần hay dịp lễ tết mà thôi. Sự thật là tôi mang ơn nước Pháp và văn hóa Pháp
những bài học khó quên; chẳng hạn như việc văn chương vừa là thiên chức, vừa là
kỷ luật, là nghề nghiệp, và cũng là sự kiên trì bền bỉ đến mức cố chấp. Tôi đã
sống ở đó vào thời kỳ Sartre và Camus còn tại thế và miệt mài sáng tác; đó là
những năm tháng của Ionesco, Beckett, Bataille và Cioran; là lúc tôi khám phá
sân khấu của Brecht và điện ảnh của Ingmar Bergman, Nhà hát Quốc gia Bình dân
(Théâtre National Populaire) của Jean Vilar và nhà hát Odéon của Jean-Louis
Barrault; là thời của Làn sóng Mới (Nouvelle Vague) và Tiểu thuyết Mới (Nouveau
Roman), của những bài diễn văn – những tuyệt tác văn chương – do André Malraux
trình bày, và cả điều có lẽ là màn trình diễn đậm chất sân khấu nhất châu Âu thời
bấy giờ: những cuộc họp báo cùng giọng nói sấm sét đầy uy lực của Tướng de
Gaulle.
Tuy nhiên, có lẽ điều
khiến tôi biết ơn nước Pháp hơn cả chính là việc nhờ đó mà tôi đã khám phá ra Mỹ
Latinh. Tại đây, tôi nhận ra rằng Peru là một phần của cộng đồng rộng lớn, gắn
kết với nhau bởi lịch sử, địa lý, những vấn đề xã hội và chính trị, một lối sống
đặc thù, cùng thứ ngôn ngữ tuyệt diệu mà họ dùng để nói và viết. Và cũng chính
trong những năm tháng ấy, vùng đất này đang sản sinh ra một nền văn học mới mẻ
và đầy sức mạnh. Tại đó, tôi đã đọc các tác phẩm của Borges, Octavio Paz,
Cortázar, García Márquez, Fuentes, Cabrera Infante, Rulfo, Onetti, Carpentier,
Edwards, Donoso và nhiều tác giả khác – những người đang tạo nên cuộc cách mạng
trong nghệ thuật tự sự bằng tiếng Tây Ban Nha. Nhờ họ, châu Âu và phần lớn thế
giới đã nhận ra rằng Mỹ Latinh không chỉ là lục địa của những cuộc đảo chính,
những gã bạo chúa lố bịch như trong vở hài kịch nhẹ (operetta), những du kích
quân để râu rậm rạp hay tiếng lục lạc của điệu mambo và cha-cha-cha; mà còn là
nơi sản sinh ra những tư tưởng, những hình thức nghệ thuật và những trí tưởng
tượng văn chương vượt xa vẻ đẹp mang tính phong tục đơn thuần để cất lên tiếng
nói mang tầm phổ quát.
Từ
đó đến nay, dù không tránh khỏi những vấp ngã và sai lầm, Mỹ Latinh đã đạt được
những bước tiến nhất định; tuy nhiên, như César Vallejo từng viết trong một bài
thơ: *Hay, hermanos, muchísimo que hacer* [Hỡi các anh em, vẫn còn biết bao việc
phải làm]. Chúng ta không còn phải chịu đựng nhiều chế độ độc tài như trước nữa;
giờ đây chỉ còn lại Cuba cùng quốc gia kế thừa danh xưng của nó là Venezuela,
và một số nền dân chủ mang màu sắc dân túy giả tạo, lố bịch như ở Bolivia và
Nicaragua. Tuy nhiên, tại phần còn lại của lục địa, nền dân chủ đang vận hành
hiệu quả nhờ sự đồng thuận rộng rãi của người dân. Lần đầu tiên trong lịch sử—tại
các nước như Brazil, Chile, Uruguay, Peru, Colombia, Cộng hòa Dominica, Mexico
và hầu hết khu vực Trung Mỹ—chúng ta chứng kiến sự tồn tại của cả phe cánh tả
và cánh hữu cùng tôn trọng tính hợp pháp, quyền tự do chỉ trích, các cuộc bầu cử
và quy trình chuyển giao quyền lực. Đó là con đường đúng đắn; nếu tiếp tục đi
theo lộ trình này, kiên quyết chống lại nạn tham nhũng tinh vi và không ngừng hội
nhập với thế giới, Mỹ Latinh sẽ rũ bỏ danh xưng "lục địa của tương
lai" để thực sự trở thành "lục địa của hiện tại".
Tôi chưa bao giờ cảm thấy
mình là người xa lạ khi ở châu Âu hay bất cứ nơi nào khác. Dù sống ở đâu—Paris,
London, Barcelona, Madrid, Berlin, Washington, New York, Brazil hay Cộng hòa
Dominica—tôi đều cảm thấy như đang ở nhà. Tôi luôn tìm được một chốn bình yên để
sinh sống, làm việc, học hỏi, nuôi dưỡng những ước mơ, cũng như kết giao bạn
bè, tìm đọc những cuốn sách hay và khám phá các đề tài để viết lách. Tôi không
cho rằng việc vô tình trở thành một công dân toàn cầu lại làm suy yếu cái gọi
là "cội rễ" hay mối liên kết của tôi với quê hương—điều vốn dĩ không
quá quan trọng—bởi lẽ nếu đúng là như vậy, những trải nghiệm tại Peru đã chẳng
thể tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn trong tôi hay luôn hiện diện trong các
tác phẩm của tôi, ngay cả khi bối cảnh câu chuyện dường như diễn ra ở nơi rất
xa xôi. Trái lại, tôi tin rằng quãng thời gian dài sống xa nơi chôn rau cắt rốn
đã củng cố những mối liên kết ấy; nó mang lại cái nhìn sáng suốt hơn và cả nỗi
hoài niệm giúp ta phân biệt được đâu là những điều phù phiếm bên ngoài và đâu
là giá trị cốt lõi, đồng thời giữ cho những ký ức luôn vang vọng mãi. Tình yêu
dành cho quê hương không thể là điều gì mang tính bắt buộc; cũng như mọi tình cảm
khác, đó phải là sự rung động tự nhiên của trái tim, tựa như mối gắn kết giữa
những người yêu nhau, giữa cha mẹ và con cái, hay giữa những người bạn tri kỷ.
Tôi mang hình ảnh đất nước
Peru sâu đậm trong tim, bởi đó là nơi tôi sinh ra, lớn lên, trưởng thành và trải
qua những năm tháng tuổi thơ cùng thời thanh xuân—những trải nghiệm đã định
hình nên tính cách và hun đúc nên lý tưởng đời tôi; cũng tại nơi ấy, tôi đã biết
yêu, biết ghét, biết tận hưởng niềm vui, nếm trải nỗi đau và nuôi dưỡng những
giấc mơ. Mọi sự kiện diễn ra tại đó đều tác động mạnh mẽ, khơi dậy trong tôi
nhiều cảm xúc và cả sự phẫn nộ hơn hẳn những gì xảy ra ở bất kỳ nơi nào khác.
Tôi không hề chủ ý hay tự ép buộc mình phải như vậy; mọi chuyện tự nhiên là thế.
Một số đồng hương từng cáo buộc tôi là kẻ phản bội, và tôi suýt nữa bị tước quyền
công dân khi—trong thời kỳ độc tài gần đây nhất—tôi kêu gọi các chính phủ dân
chủ trên thế giới áp đặt các biện pháp trừng phạt ngoại giao và kinh tế lên chế
độ đó. Tôi vẫn luôn hành động như vậy đối với mọi chế độ độc tài, bất kể thuộc
hình thái nào: từ Pinochet, Fidel Castro, Taliban ở Afghanistan, giới giáo sĩ Hồi
giáo (Imam) ở Iran, chế độ phân biệt chủng tộc apartheid tại Nam Phi, cho đến
những kẻ bạo chúa khoác áo quân nhân ở Miến Điện (nay là Myanmar). Và ngày mai,
nếu—cầu mong định mệnh không để điều đó xảy ra và người dân Peru không cho phép
điều đó tái diễn—Peru lại trở thành nạn nhân của một cuộc đảo chính làm sụp đổ
nền dân chủ còn non trẻ của chúng ta, thì tôi chắc chắn sẽ lại hành động như thế.
Đó không phải là hành động bốc đồng, cảm tính của một kẻ mang lòng oán hận—như
lời vài cây bút tầm thường vốn quen phán xét người khác bằng lăng kính của sự hẹp
hòi, thiển cận—mà là hành động xuất phát từ niềm tin sâu sắc của tôi rằng chế độ
độc tài là tai ương tột cùng đối với một quốc gia. Nó là nguồn cơn của sự tàn bạo,
tham nhũng và những vết thương lòng sâu hoắm khó lòng hàn gắn; nó đầu độc tương
lai đất nước, gieo rắc những thói hư tật xấu dai dẳng qua nhiều thế hệ và kìm
hãm công cuộc tái thiết nền dân chủ. Chính vì vậy, ta phải kiên quyết đấu tranh
chống lại các chế độ độc tài bằng mọi phương thức sẵn có, bao gồm cả các biện
pháp trừng phạt kinh tế. Thật đáng tiếc khi các chính phủ dân chủ—thay vì nêu
gương bằng cách sát cánh cùng những cá nhân và tổ chức dũng cảm đương đầu với
ách độc tài (như phong trào *Damas de Blanco* ở Cuba, phe đối lập tại
Venezuela, hay Aung San Suu Kyi và Lưu Hiểu Ba)—lại thường tỏ thái độ khoan nhượng,
không phải với những người đấu tranh ấy, mà lại với chính những kẻ áp bức họ.
Những con người quả cảm đang đấu tranh cho tự do của chính họ, thực chất cũng
đang đấu tranh cho tự do của tất cả chúng ta.
Một người đồng hương của
tôi, José María Arguedas, đã gọi Peru là đất nước của "mọi dòng máu."
Tôi không tin có công thức nào định nghĩa nó chính xác hơn thế: đó là bản chất
của chúng ta và là điều mà mọi người dân Peru đều mang trong mình, dù muốn hay
không: một sự tổng hòa của các truyền thống, chủng tộc, tín ngưỡng và nền văn
hóa hội tụ từ bốn phương trời. Tôi tự hào khi thấy mình là người thừa kế các nền
văn hóa tiền Tây Ban Nha – những người đã tạo ra các sản phẩm dệt may và áo
choàng lông vũ của Nazca và Paracas, cũng như gốm sứ thời Moche hay Inca hiện
được trưng bày tại những bảo tàng danh giá nhất thế giới; những người đã xây dựng
nên Machu Picchu, Gran Chimú, Chan Chan, Kuelap, Sipán, cùng các khu mộ táng La
Bruja, El Sol và La Luna. Tôi cũng tự hào là hậu duệ của những người Tây Ban
Nha – những người đã mang theo túi yên ngựa, gươm giáo và ngựa chiến để đưa đến
Peru tinh hoa của Hy Lạp, La Mã, truyền thống Do Thái - Cơ đốc giáo, thời kỳ Phục
hưng, các tên tuổi như Cervantes, Quevedo, Góngora, cùng thứ ngôn ngữ cứng cáp
vùng Castile nhưng đã trở nên mềm mại, ngọt ngào hơn nhờ hơi thở của dãy Andes.
Và cùng với Tây Ban Nha, châu Phi cũng hiện diện với sức mạnh, âm nhạc và trí
tưởng tượng đầy sống động, góp phần làm phong phú thêm sự đa dạng của Peru. Chỉ
cần tìm hiểu đôi chút, ta sẽ thấy Peru – tựa như "Aleph" trong tác phẩm
của Borges – chính là hình ảnh thu nhỏ của cả thế giới. Thật là một đặc ân phi
thường khi một quốc gia không mang một bản sắc duy nhất nào, bởi lẽ nó sở hữu tất
cả các bản sắc ấy!
Cuộc chinh phạt châu Mỹ,
tất nhiên, cũng tàn khốc và đầy bạo lực như mọi cuộc chinh phạt khác trong lịch
sử. Chúng ta cần phê phán điều đó, nhưng cũng không được quên một sự thật: những
kẻ gây ra cảnh cướp bóc và tội ác ấy, phần lớn, chính là các bậc tiền nhân của
chúng ta – những người Tây Ban Nha đã đến châu Mỹ và thích nghi với lối sống
nơi đây, chứ không phải những người ở lại quê nhà. Để công bằng, sự phê phán ấy
phải là sự tự phê phán. Bởi lẽ, khi giành được độc lập từ Tây Ban Nha hai thế kỷ
trước, những người nắm quyền tại các thuộc địa cũ – thay vì giải phóng người bản
địa và thực thi công lý cho những bất công trong quá khứ – lại tiếp tục bóc lột
họ với lòng tham và sự tàn bạo chẳng kém gì những kẻ chinh phạt năm xưa; thậm
chí ở một số quốc gia, họ còn tàn sát và hủy diệt cả một dân tộc. Hãy nói điều
này một cách thật rõ ràng: trong suốt hai thế kỷ qua, trách nhiệm giải phóng cộng
đồng người bản địa hoàn toàn thuộc về chúng ta, và chúng ta đã không hoàn thành
trách nhiệm đó. Đây vẫn là một vấn đề chưa có lời giải tại khắp khu vực Mỹ
Latinh. Không có một ngoại lệ nào cho nỗi nhục nhã và sự hổ thẹn này.
Tôi yêu Tây Ban Nha cũng
nhiều như yêu Peru, và món nợ tôi mang với đất nước này cũng lớn lao như lòng
biết ơn của tôi vậy. Nếu không có Tây Ban Nha, tôi sẽ chẳng bao giờ bước lên bục
vinh quang này hay trở thành một nhà văn được biết đến; có lẽ, giống như bao đồng
nghiệp kém may mắn khác, tôi đã phải lang thang trong cõi vô định dành cho những
người cầm bút thiếu vận may—không nhà xuất bản, không giải thưởng, không độc giả—những
người mà tài năng của họ (một niềm an ủi đượm buồn) có thể mãi về sau hậu thế mới
khám phá ra. Tất cả sách của tôi đều được xuất bản tại Tây Ban Nha, nơi tôi nhận
được sự công nhận vượt xa mong đợi, và những người bạn như Carlos Barral,
Carmen Balcells cùng nhiều người khác đã nhiệt thành nỗ lực để đưa tác phẩm của
tôi đến tay độc giả. Tây Ban Nha cũng đã trao cho tôi quốc tịch thứ hai vào thời
điểm tôi có nguy cơ mất đi quốc tịch gốc của mình. Tôi chưa bao giờ cảm thấy có
chút mâu thuẫn nào giữa việc là người Peru và việc sở hữu hộ chiếu Tây Ban Nha,
bởi tôi luôn cảm nhận rằng Tây Ban Nha và Peru là hai mặt của cùng một đồng xu;
điều này không chỉ đúng với cá nhân tôi mà còn phản ánh những thực tế cốt lõi về
lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa.
Trong suốt những năm
tháng sống trên đất Tây Ban Nha, tôi nhớ nhất và coi là rực rỡ nhất quãng thời
gian năm năm sống tại Barcelona—thành phố tôi vô cùng yêu mến—vào đầu thập niên
1970. Chế độ độc tài Franco khi ấy vẫn nắm quyền và
thẳng tay đàn áp, nhưng thực chất nó đã trở thành một tàn tích rách rưới, bất lực
trong việc duy trì sự kiểm soát gắt gao như trước, đặc biệt là trong lĩnh vực
văn hóa. Những khe hở và vết nứt bắt đầu xuất hiện mà bộ máy kiểm duyệt không
thể nào vá víu lại được; qua đó, xã hội Tây Ban Nha đã tiếp nhận những ý tưởng,
sách vở, luồng tư tưởng cũng như các giá trị và hình thức nghệ thuật mới—những
thứ vốn bị cấm đoán trước đó vì bị coi là nguy hại hay mang tính lật đổ. Không
thành phố nào tận dụng tốt hơn Barcelona giai đoạn mở cửa ban đầu này, hay trải
nghiệm sự hào hứng sôi nổi tương đương trong mọi lĩnh vực tư tưởng và sáng tạo.
Nơi đây đã trở thành thủ đô văn hóa của Tây Ban Nha, điểm đến bắt buộc cho bất
kỳ ai muốn hít thở bầu không khí đầy kỳ vọng về một nền tự do đang đến gần.
Và theo một nghĩa nào đó, Barcelona cũng là thủ đô văn hóa của Mỹ Latinh, bởi
nơi đây quy tụ đông đảo họa sĩ, nhà văn, nhà xuất bản và nghệ sĩ từ các quốc
gia Mỹ Latinh—những người hoặc định cư tại đây hoặc thường xuyên qua lại thành
phố này. Đó là nơi nhất định phải đến nếu bạn muốn trở thành nhà thơ, tiểu thuyết
gia, họa sĩ hay nhà soạn nhạc trong thời đại của chúng ta. Với tôi, đó là những
năm tháng không thể nào quên, tràn ngập tình đồng chí, tình bạn, những dự định ấp
ủ và những thành quả trí tuệ đầy phong phú. Cũng như Paris trước đây, Barcelona
từng là một "Tháp Babel" – một thành phố mang tính quốc tế và phổ
quát, nơi cuộc sống và công việc luôn đầy ắp những điều khơi gợi cảm hứng; nơi
lần đầu tiên kể từ thời Nội chiến, các nhà văn Tây Ban Nha và Mỹ Latinh đã giao
lưu, kết thân và cùng nhận ra rằng họ chia sẻ chung một truyền thống cũng như một
sứ mệnh và niềm tin: chế độ độc tài sắp đến hồi kết, và tại một Tây Ban Nha dân
chủ, văn hóa sẽ đóng vai trò chủ đạo.
Dù thực tế diễn ra không
hoàn toàn y hệt như vậy, nhưng quá trình chuyển đổi từ chế độ độc tài sang dân
chủ của Tây Ban Nha vẫn là một trong những câu chuyện tuyệt vời nhất của thời
hiện đại. Đó là minh chứng cho thấy khi lý trí và lẽ phải lên ngôi, khi các đối
thủ chính trị gạt bỏ tư tưởng bè phái vì lợi ích chung, thì những sự kiện kỳ
diệu tựa như trong các tiểu thuyết hiện thực huyền ảo hoàn toàn có thể xảy
ra. Quá trình chuyển mình của Tây Ban Nha – từ chế độ độc tài sang tự do, từ
kém phát triển sang thịnh vượng, từ một nền kinh tế đầy rẫy những bất bình đẳng
và tương phản kiểu thế giới thứ ba trở thành quốc gia với tầng lớp trung lưu
đông đảo, cùng việc hội nhập vào châu Âu và nhanh chóng tiếp nhận văn hóa dân
chủ chỉ trong vài năm ngắn ngủi – đã khiến cả thế giới kinh ngạc và thúc đẩy mạnh
mẽ công cuộc hiện đại hóa đất nước. Việc được chứng kiến tận mắt, và đôi khi
là trực tiếp trải nghiệm quá trình này từ bên trong, đã mang lại cho tôi nhiều
cảm xúc và bài học quý giá. Tôi tha thiết hy vọng rằng chủ nghĩa dân tộc – thứ
dịch bệnh nan y của thế giới hiện đại cũng như của chính Tây Ban Nha – sẽ không
phá hỏng câu chuyện tốt đẹp này.
Tôi
khinh thường mọi hình thức của chủ nghĩa dân tộc, một hệ tư tưởng tỉnh lẻ - hay
đúng hơn là tôn giáo - vốn thiển cận, độc quyền, cắt đứt chân trời trí tuệ và ẩn
sâu trong lòng những thành kiến sắc tộc và phân biệt chủng tộc, vì nó biến
thành một giá trị tối cao, một đặc quyền về đạo đức và bản thể, hoàn cảnh ngẫu
nhiên của nơi sinh ra con người. Cùng với tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc là nguyên
nhân gây ra những cuộc tàn sát tồi tệ nhất trong lịch sử, giống như những vụ
tàn sát trong hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc đổ máu hiện nay ở Trung
Đông. Không có gì đóng góp nhiều bằng chủ nghĩa dân tộc khiến Châu Mỹ Latinh bị
Balkan hóa và vấy máu trong những trận chiến và tranh chấp vô nghĩa, lãng phí
tài nguyên thiên văn để mua vũ khí thay vì xây dựng trường học, thư viện và bệnh
viện.
Chúng
ta không nên nhầm lẫn giữa chủ nghĩa dân tộc mù quáng và sự chối bỏ “cái khác”
của nó, luôn là mầm mống của bạo lực, với lòng yêu nước, một tình cảm tốt đẹp,
hào phóng đối với mảnh đất nơi chúng ta sinh ra, nơi tổ tiên chúng ta sinh sống,
nơi rèn giũa những giấc mơ đầu tiên của chúng ta, một khung cảnh địa lý quen
thuộc, những người thân yêu và những sự kiện biến thành những cột mốc của ký ức
và những biện pháp phòng vệ chống lại sự cô đơn. Quê hương không phải là những lá
cờ, những bài quốc ca hay những bài phát biểu đầy châm biếm về những anh hùng
tiêu biểu, mà là một số địa điểm và con người đọng lại trong ký ức của chúng ta
và nhuốm màu u sầu, cảm giác ấm áp rằng dù chúng ta ở đâu, vẫn có một ngôi nhà
để chúng ta trở về.
Peru đối với tôi là
Arequipa, nơi tôi sinh ra nhưng chưa bao giờ sống, một thành phố mà mẹ tôi, ông
bà, các cô chú đã dạy tôi biết qua những ký ức và khao khát của họ, bởi vì toàn
bộ bộ tộc gia đình tôi, như Arequepeños thường làm, luôn mang theo Thành phố Trắng
bên mình trong cuộc tồn tại lang thang của họ. Đó là Piura trên sa mạc, những
cây mesquite và những con lừa chịu đựng lâu dài mà những người Piura thời trẻ của
tôi gọi là “chân của người khác” – một cái tên tao nhã nhưng buồn bã – nơi tôi
phát hiện ra rằng loài cò không sinh ra những đứa trẻ mà là những cặp vợ chồng
đã tạo ra chúng bằng cách làm những điều tàn ác vốn là một tội trọng. Đó là Học
viện San Miguel và Nhà hát tạp kỹ, nơi lần đầu tiên tôi nhìn thấy một tác phẩm
ngắn do tôi viết được sản xuất trên sân khấu. Đó là góc của Diego Ferré và
Colón, ở Miraflores của Lima – chúng tôi gọi nó là Khu phố hạnh phúc – nơi tôi
đổi quần ngắn lấy quần dài, hút điếu thuốc đầu tiên, học khiêu vũ, yêu và mở
lòng với các cô gái… Đó là những tòa soạn ồn ào, bụi
bặm của tờ báo La Crónica, nơi, ở tuổi mười sáu, tôi đã đứng trên đôi tay đầu
tiên của mình với tư cách là một nhà báo, một công việc mà cùng với văn học, đã
chiếm gần như toàn bộ cuộc đời tôi và, giống như sách, đã khiến tôi sống nhiều
hơn, hiểu biết thế giới hơn và ở bên những người đàn ông và phụ nữ từ mọi nơi
và mọi tầng lớp, những người xuất sắc, tốt, xấu và đáng chê trách. Đó là Học viện
Quân sự Leoncio Prado, nơi tôi biết rằng Peru không phải là một đất nước trung
lưu nhỏ bé mà tôi đã sống cho đến lúc đó, bị giam cầm và bảo vệ, mà là một đất
nước rộng lớn, cổ kính, thù địch, bất bình đẳng, bị rung chuyển bởi đủ loại bão
tố xã hội. Đó là những chi bộ bí mật của Cahuide, nơi chúng tôi cùng với một số
sinh viên San Marcos chuẩn bị cho cuộc cách mạng thế giới. Và Peru là bạn
của tôi trong Phong trào Tự do mà trong ba năm, giữa bom đạn, mất điện và ám
sát khủng bố, chúng tôi đã cùng làm việc để bảo vệ nền dân chủ và văn hóa tự
do.
Peru
là Patricia, em họ của tôi với chiếc mũi hếch và tính tình bất khuất, người mà
tôi may mắn kết hôn được bốn mươi lăm năm trước và vẫn phải chịu đựng những cơn
điên cuồng, rối loạn thần kinh và những cơn giận dữ đã giúp tôi viết lách. Nếu
không có cô ấy, cuộc đời tôi đã tan biến từ lâu thành một cơn lốc hỗn loạn, và
Alvaro, Gonzalo, Morgana cùng sáu đứa cháu kéo dài và vui mừng cho sự tồn tại của
chúng tôi sẽ không được sinh ra. Cô ấy làm mọi thứ và làm mọi thứ tốt. Cô ấy giải
quyết vấn đề, quản lý nền kinh tế, áp đặt trật tự đối với sự hỗn loạn, giữ khoảng
cách với các nhà báo và những người xâm phạm, bảo vệ thời gian của tôi, quyết định
các cuộc hẹn và chuyến đi, đóng gói và mở vali, và rộng lượng đến mức ngay cả
khi cô ấy nghĩ rằng mình đang quở trách tôi, cô ấy vẫn dành cho tôi lời khen ngợi
cao nhất: “Mario, điều duy nhất bạn giỏi là viết lách.”
Hãy trở lại với văn
chương. Thiên đường tuổi thơ đối với tôi không phải là một huyền thoại văn học,
mà là một thực tại tôi đã sống và tận hưởng trong ngôi nhà gia đình rộng lớn với
ba khoảng sân ở Cochabamba – nơi tôi cùng anh em họ và bạn bè cùng trường có thể
tái hiện những câu chuyện về Tarzan và Salgari – cũng như tại tỉnh Piura, nơi
lũ dơi làm tổ trên gác mái, những cái bóng lặng lẽ phủ lên những đêm đầy sao của
vùng đất nóng bức ấy một vẻ huyền bí. Trong những năm tháng đó, viết lách chỉ
là một trò chơi được gia đình tán thưởng, một điều thú vị mang lại cho tôi – đứa
cháu trai, đứa cháu họ, đứa con không cha (vì cha tôi đã qua đời và về nơi chín
suối) – những tràng pháo tay khích lệ. Ông là một người đàn ông cao lớn, bảnh
bao trong bộ quân phục hải quân; bức ảnh của ông đặt trên bàn cạnh giường ngủ
là nơi tôi thường cầu nguyện và hôn lên trước khi chìm vào giấc ngủ. Rồi một buổi
sáng ở Piura – cú sốc mà có lẽ đến giờ tôi vẫn chưa hoàn toàn vượt qua – mẹ tiết
lộ rằng người đàn ông ấy thực ra vẫn còn sống. Và ngay trong ngày hôm đó, chúng
tôi sẽ đến Lima để sống cùng ông. Khi ấy tôi mười một tuổi, và từ khoảnh khắc
đó, mọi thứ đã thay đổi. Tôi đánh mất sự ngây thơ và bắt đầu nếm trải nỗi cô
đơn, quyền uy, cuộc sống người lớn cùng nỗi sợ hãi. Sự cứu rỗi của tôi nằm ở việc
đọc sách – đọc những cuốn sách hay – và tìm nơi trú ẩn trong những thế giới mà ở
đó cuộc sống thật huy hoàng, mãnh liệt, đầy ắp những cuộc phiêu lưu nối tiếp
nhau; nơi tôi có thể cảm thấy tự do và tìm lại niềm hạnh phúc. Và sự cứu rỗi ấy
còn đến từ việc viết lách – viết trong bí mật, tựa như kẻ đang đắm mình vào một
thói quen khó nói hay một niềm đam mê bị cấm đoán. Văn chương không còn là một
trò chơi nữa. Nó trở thành phương cách để tôi chống lại nghịch cảnh, để phản
kháng, nổi loạn, thoát khỏi những điều không thể dung thứ, và trở thành lẽ sống
của đời tôi. Từ đó đến nay, trong mọi hoàn cảnh khi cảm thấy nản lòng hay gục
ngã, khi đứng bên bờ vực tuyệt vọng, thì việc dốc trọn tâm sức cho công việc kể
chuyện chính là ánh sáng nơi cuối đường hầm, là tấm ván đưa kẻ đắm tàu cập bến
an toàn. Dù công việc này vô cùng gian nan, đòi hỏi tôi phải đổ mồ hôi sôi nước
mắt, và cũng như mọi nhà văn khác, đôi khi phải đối mặt với nỗi sợ bế tắc—một
quãng thời gian khô cạn của trí tưởng tượng—thì chẳng gì mang lại cho tôi niềm
vui sống lớn lao bằng việc dành hàng tháng, hàng năm trời để xây dựng một câu
chuyện: từ những khởi đầu còn mơ hồ—những hình ảnh lưu lại trong ký ức về một
trải nghiệm thực tế, dần chuyển hóa thành nỗi trăn trở, niềm say mê, hay những
giấc mơ ban ngày—rồi nảy mầm thành một dự án, dẫn đến quyết định biến đám mây hỗn
độn của những bóng hình hư ảo ấy thành một câu chuyện hoàn chỉnh. "Viết
lách là một cách sống," Flaubert từng nói. Đúng vậy, hoàn toàn đúng; đó là
cách sống cùng những ảo mộng, niềm vui và ngọn lửa rực cháy trong tâm trí, là
cuộc vật lộn với những con chữ cứng đầu cho đến khi ta chế ngự được chúng, là
hành trình khám phá thế giới rộng lớn tựa như người thợ săn lần theo dấu vết
con mồi quý giá để nuôi dưỡng mầm mống của tác phẩm và thỏa mãn cơn đói khát vô
độ của chính câu chuyện ấy—thứ mà khi lớn dần lên, lại muốn nuốt chửng mọi câu
chuyện khác. Cảm giác choáng ngợp khi một cuốn tiểu thuyết đang thành hình—khi
nó bắt đầu có sức sống riêng với những nhân vật biết cử động, hành động, suy
tư, cảm nhận và đòi hỏi sự tôn trọng cũng như thấu hiểu, những nhân vật mà ta
không còn có thể tùy tiện áp đặt hành vi hay tước đoạt ý chí tự do nếu không muốn
giết chết họ hoặc làm mất đi sức thuyết phục của câu chuyện—đó là trải nghiệm vẫn
luôn mê hoặc tôi y như lần đầu tiên, trọn vẹn và chếnh choáng tựa như việc ân
ái với người phụ nữ mình yêu suốt nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng trời mà
chẳng hề ngơi nghỉ.
Khi bàn về văn chương hư
cấu, tôi đã nói rất nhiều về tiểu thuyết nhưng lại rất ít đề cập đến sân khấu –
một hình thức ưu việt khác của thể loại này. Tất nhiên, đó là một sự thiếu sót
lớn. Sân khấu là tình yêu đầu đời của tôi, bắt nguồn từ khi tôi còn là một thiếu
niên và được xem vở *Death of a Salesman* (Cái chết của người chào hàng) của
Arthur Miller tại Nhà hát Segura ở Lima; buổi diễn ấy đã khiến tôi sững sờ vì
xúc động và thôi thúc tôi viết một vở kịch về người Inca. Nếu vào những năm
1950 tại Lima đã tồn tại một phong trào sân khấu, có lẽ tôi đã trở thành một
nhà viết kịch thay vì tiểu thuyết gia. Vì không có phong trào nào như vậy, tôi
dần hướng nhiều hơn về nghệ thuật tự sự. Tuy nhiên, tình yêu dành cho sân khấu
chưa bao giờ tắt; nó chỉ tạm lắng xuống, nép mình dưới bóng những cuốn tiểu
thuyết như một nỗi niềm vừa là cám dỗ vừa là hoài niệm, đặc biệt là mỗi khi tôi
được thưởng thức một vở kịch đầy lôi cuốn. Vào cuối những năm 1970, hình ảnh
khó phai về người bà dì trăm tuổi tên là Mamaé – người đã tách mình khỏi thực tại
trong những năm tháng cuối đời để tìm chốn nương náu nơi ký ức và những câu
chuyện hư cấu – đã gợi cho tôi ý tưởng về một câu chuyện. Và tôi cảm nhận được,
như một linh cảm, rằng đó là câu chuyện dành cho sân khấu; rằng chỉ khi bước
lên sàn diễn, nó mới có thể toát lên sức sống và vẻ huy hoàng của những tác phẩm
hư cấu xuất sắc. Tôi đã viết vở kịch ấy với niềm phấn khích run rẩy của một người
mới vào nghề, và vô cùng thích thú khi thấy tác phẩm được công diễn với sự tham
gia của Norma Aleandro trong vai nữ chính; chính vì thế, xen giữa những lần viết
tiểu thuyết và tiểu luận, tôi đã nhiều lần quay lại với sân khấu. Tôi cũng phải
nói thêm rằng, chưa bao giờ tôi tưởng tượng mình sẽ bước lên sân khấu (hay đúng
hơn là chập chững bước lên đó) để diễn xuất ở tuổi bảy mươi. Cuộc phiêu lưu táo
bạo ấy đã cho tôi trải nghiệm bằng xương bằng thịt về phép màu kỳ diệu đối với
một người cả đời viết chuyện hư cấu: được hóa thân trong vài giờ thành một nhân
vật tưởng tượng, được sống trong thế giới hư cấu ngay trước mắt khán giả. Tôi
không bao giờ có thể cảm ơn sao cho đủ những người bạn thân thiết của mình – đạo
diễn Joan Ollé và nữ diễn viên Aitana Sánchez Gijón – vì đã khuyến khích tôi
cùng họ chia sẻ trải nghiệm tuyệt vời đó (bất chấp nỗi hoảng sợ luôn đi kèm với
nó).
Văn học là sự mô phỏng
hư ảo về cuộc sống, nhưng lại giúp chúng ta thấu hiểu cuộc sống hơn và định hướng
bản thân trong mê cung nơi ta sinh ra, đi qua và rồi lìa đời. Nó bù đắp cho những
nghịch cảnh và nỗi thất vọng mà cuộc sống thực tại giáng xuống đầu chúng ta; nhờ
nó, ta có thể giải mã—dù chỉ một phần—những ký tự bí hiểm mà sự tồn tại thường
mang lại cho đại đa số nhân loại, đặc biệt là những ai trong chúng ta thường
mang nhiều hoài nghi hơn là sự chắc chắn, và thú nhận sự bối rối của mình trước
những chủ đề như sự siêu việt, vận mệnh cá nhân và tập thể, linh hồn, ý nghĩa
hay sự vô nghĩa của lịch sử, cùng những thăng trầm của tri thức lý tính.
Tôi luôn bị cuốn hút khi
hình dung về hoàn cảnh đầy bất định của tổ tiên chúng ta—những người khi ấy còn
chẳng khác mấy so với loài vật, với thứ ngôn ngữ giao tiếp vừa mới chớm hình
thành—khi họ ngồi trong hang động, quây quần bên đống lửa giữa những đêm đầy đe
dọa bởi sấm sét và tiếng gầm rú của thú dữ, rồi bắt đầu sáng tạo và kể cho nhau
nghe những câu chuyện. Đó là khoảnh khắc then chốt trong vận mệnh nhân loại, bởi
chính trong những vòng tròn tụ họp của những con người nguyên thủy bị mê hoặc bởi
giọng kể và trí tưởng tượng của người kể chuyện, nền văn minh đã bắt đầu nảy nở;
đó là hành trình dài đằng đẵng dần dần nhân hóa chúng ta, dẫn dắt ta đến việc hình
thành nên cá nhân tự chủ rồi tách biệt khỏi bộ lạc, sáng tạo ra khoa học, nghệ
thuật, luật pháp, tự do, cũng như khám phá tận cùng những bí ẩn của thiên
nhiên, cơ thể con người, không gian và cả những chuyến du hành tới các vì sao.
Những câu chuyện kể, ngụ ngôn, thần thoại và truyền thuyết ấy—vang lên lần đầu
tiên tựa như một khúc nhạc mới lạ trước những thính giả vốn đang e sợ trước vô
vàn bí ẩn và hiểm nguy của một thế giới đầy rẫy những điều chưa biết—hẳn đã
mang lại sự dịu mát tựa dòng nước trong lành cho những tâm hồn luôn trong trạng
thái cảnh giác cao độ, những người mà sự tồn tại trước đó chỉ gói gọn trong việc
kiếm ăn, trú ẩn khỏi thiên nhiên khắc nghiệt, giết chóc và giao phối. Kể từ khi
bắt đầu cùng nhau mơ ước và chia sẻ những giấc mơ dưới sự khơi gợi của người kể
chuyện, họ không còn bị trói buộc vào guồng quay sinh tồn—một vòng xoáy của những
công việc tàn khốc—nữa; cuộc sống của họ giờ đây trở thành giấc mơ, niềm vui,
trí tưởng tượng và một kế hoạch mang tính cách mạng: thoát khỏi sự giam hãm để
thay đổi và hoàn thiện bản thân, một cuộc đấu tranh nhằm thỏa mãn những khát
khao và tham vọng nảy sinh từ những cuộc đời tưởng tượng trong tâm trí, cũng
như thỏa mãn trí tò mò muốn giải mã những bí ẩn bao trùm thế giới xung quanh.
Quá trình không bao giờ
gián đoạn này càng trở nên phong phú khi chữ viết ra đời; nhờ đó, bên cạnh việc
được lắng nghe, các câu chuyện còn có thể được đọc, đạt đến sự trường tồn mà
văn học mang lại cho chúng. Chính vì vậy, điều này cần được nhắc đi nhắc lại
không ngừng cho đến khi các thế hệ mới thực sự thấu hiểu: hư cấu không chỉ là
hình thức giải trí hay một bài tập trí tuệ giúp mài giũa sự nhạy cảm và khơi dậy
tinh thần phản biện. Nó là nhu cầu thiết yếu để nền văn minh tiếp tục tồn tại,
giúp làm mới và gìn giữ trong ta những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người. Để
ta không sa vào sự man rợ của sự cô lập, và để cuộc sống không bị thu hẹp lại
thành tư duy thực dụng của những chuyên gia – những người nhìn thấu bản chất sự
vật nhưng lại phớt lờ những gì bao quanh, khởi nguồn và tiếp nối chúng. Để ta
không rơi vào cảnh từ chỗ bắt máy móc do chính mình tạo ra phải phục vụ mình, lại
trở thành nô lệ cho chúng. Và bởi lẽ, một thế giới thiếu vắng văn học sẽ là một
thế giới không còn khát vọng, lý tưởng hay tinh thần dám phá vỡ những khuôn mẫu;
đó sẽ là thế giới của những cỗ máy vô hồn, bị tước đi điều làm nên bản chất
đích thực của con người: khả năng bước ra khỏi cái tôi của chính mình để thấu
hiểu người khác – những con người được nhào nặn từ chính chất liệu của những giấc
mơ ta ấp ủ.
Từ hang động đến những
tòa nhà chọc trời, từ chiếc gậy sơ khai đến vũ khí hủy diệt hàng loạt, từ cuộc
sống quẩn quanh trong bộ lạc đến kỷ nguyên toàn cầu hóa, những câu chuyện hư cấu
trong văn học đã làm phong phú thêm trải nghiệm con người, ngăn ta chìm vào sự
trì trệ, thói tự mãn hay sự cam chịu buông xuôi. Không gì khơi dậy nhiều nỗi
trăn trở, hay lay động trí tưởng tượng và khát vọng của ta mạnh mẽ bằng
"cuộc đời dối lừa" mà văn học mang lại – một cuộc đời song hành cùng
thực tại, nơi ta được hóa thân thành nhân vật chính trong những cuộc phiêu lưu
vĩ đại và những mối tình nồng cháy mà đời thực chẳng bao giờ ban tặng. Những lời
hư cấu của văn học hóa thành sự thật thông qua chính chúng ta – những độc giả
đã được chuyển hóa, mang trong mình những nỗi khát khao và – nhờ sức mạnh của
hư cấu – luôn không ngừng chất vấn một thực tại tầm thường. Phép màu ấy – khi
văn học trao ta hy vọng sở hữu những gì ta không có, trở thành người mà ta
không phải là, và bước vào một sự tồn tại phi thường, nơi ta vừa cảm thấy mình
hữu hạn như những vị thần ngoại giáo nhưng cũng đồng thời bất tử – đã gieo vào
tâm hồn ta tinh thần không chịu khuất phục và ý chí phản kháng. Chính tinh thần
ấy là cội nguồn của mọi hành động anh hùng góp phần giảm thiểu bạo lực trong
các mối quan hệ giữa người với người. Giảm thiểu bạo lực, chứ không phải xóa bỏ
hoàn toàn. Bởi lẽ, thật may mắn thay, câu chuyện về nhân loại sẽ mãi là một câu
chuyện chưa bao giờ đi đến hồi kết. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tiếp tục
mơ, đọc và viết – phương thức hiệu quả nhất mà chúng ta tìm thấy để xoa dịu
thân phận hữu hạn của kiếp người, để chiến thắng sự bào mòn của thời gian và biến
điều bất khả thành hiện thực.
Mộc Nhân dịch
* Nguồn: Quỹ Nobel 2010
* Bài liên quan: Mario Vargas Llosa Quotes

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét