Mộc Nhân dịch
Bản Anh ngữ có
tựa “Japan, The Ambiguous, and Myself” (Nhật Bản, Sự mơ hồ và Chính tôi) -
Kenzaburo Oe đọc tại lễ nhận giải Nobel Văn học tại Viện Hàn lâm Thụy Điển vào
ngày 7/ 12/ 1994.
Kenzaburo Oe
(1935 – 2023) nhận giải Nobel Văn học năm 1994 vì: “Người đã dùng sức mạnh thi
ca để tạo ra một thế giới tưởng tượng, nơi cuộc sống và thần thoại hòa quyện tạo
nên một bức tranh đáng lo ngại về tình trạng khó khăn của con người ngày nay” (Prize
motivation: “who with poetic force creates an imagined world, where life and
myth condense to form a disconcerting picture of the human predicament today”.
***
NHẬT BẢN, SỰ
MƠ HỒ VÀ TÔI
Trong Thế chiến
thứ hai đầy thảm khốc, tôi còn là một cậu bé sống trong một thung lũng hẻo
lánh, nhiều cây cối trên đảo Shikoku thuộc quần đảo Nhật Bản, cách đây hàng
ngàn dặm. Thời điểm đó, có hai cuốn sách khiến tôi vô cùng say mê: Cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn và Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils.
Cả thế giới
khi ấy đang chìm trong những làn sóng kinh hoàng. Khi đọc Huckleberry Finn, tôi cảm thấy mình có thể biện minh cho hành động
đi vào rừng núi ban đêm và ngủ giữa những tán cây với một cảm giác an toàn mà
tôi không bao giờ tìm thấy được khi ở trong nhà. Nhân vật chính trong Những cuộc phiêu lưu của Nils biến thành
một sinh vật nhỏ bé, hiểu được ngôn ngữ của loài chim và thực hiện một cuộc
hành trình đầy phiêu lưu. Tôi nhận được từ câu chuyện những khoái cảm giác quan
khác nhau. Thứ nhất, sống trong khu rừng sâu trên đảo Shikoku giống như tổ tiên
tôi đã từng sống từ lâu, tôi đã có một sự giác ngộ rằng thế giới này và lối sống
ở đó thực sự rất tự do. Thứ hai, tôi cảm thấy đồng cảm và thấy mình giống với
Nils, một cậu bé nghịch ngợm, trong suốt hành trình xuyên Thụy Điển, hợp tác và
chiến đấu vì đàn ngỗng trời, cậu bé đã biến mình thành một người đàn ông trưởng
thành, vẫn ngây thơ nhưng đầy tự tin và khiêm tốn. Cuối cùng khi trở về nhà,
Nils đã nói chuyện với bố mẹ mình. Tôi nghĩ rằng niềm vui mà tôi có được từ câu
chuyện ở mức độ cao nhất nằm ở ngôn ngữ, bởi vì tôi cảm thấy được thanh lọc và
nâng cao tinh thần khi trò chuyện cùng Nils. Thế giới của cậu bé diễn ra như
sau: “Mẹ và bố!” cậu bé reo lên. “Con lớn rồi. Con là một người đàn ông rồi!”
Tôi đặc biệt bị
cuốn hút bởi cụm từ ‘je suis de nouveau un homme!’ (Con lại là một người đàn
ông!). Trong suốt quá trình trưởng thành, tôi liên tục phải chịu đựng những khó
khăn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống – trong gia đình, trong mối quan hệ với
xã hội Nhật Bản và trong lối sống nói chung vào nửa cuối thế kỷ XX. Tôi đã vượt
qua bằng cách thể hiện những nỗi đau khổ đó qua hình thức tiểu thuyết. Trong
quá trình ấy, tôi thấy mình cứ lặp đi lặp lại, gần như thở dài, “Tôi lại là một
người đàn ông!” Có lẽ việc nói về bản thân mình như vậy không phù hợp với hoàn
cảnh và địa điểm này. Tuy nhiên, xin hãy cho phép tôi nói rằng phong cách viết
cơ bản của tôi là bắt đầu từ những vấn đề cá nhân và sau đó liên kết chúng với
xã hội, nhà nước và thế giới. Tôi hy vọng các bạn sẽ tha thứ cho tôi nếu tôi
nói thêm một chút về những vấn đề cá nhân của mình.
Nửa thế kỷ trước,
khi sống sâu trong khu rừng ấy, tôi đã đọc cuốn "Những cuộc phiêu lưu của
Nils" và cảm nhận được hai lời tiên tri trong đó. Một là tôi có thể một
ngày nào đó sẽ hiểu được ngôn ngữ của loài chim. Hai là tôi có thể một ngày nào
đó sẽ bay đi cùng đàn ngỗng trời yêu quý của mình – tốt nhất là đến
Scandinavia.
Sau khi kết
hôn, đứa con đầu lòng của chúng tôi bị thiểu năng trí tuệ. Chúng tôi đặt tên
cho con là Hikari, có nghĩa là "Ánh sáng" trong tiếng Nhật. Khi còn
nhỏ, con chỉ phản ứng với tiếng hót của chim hoang dã chứ không bao giờ phản ứng
với giọng nói của con người. Một mùa hè khi con sáu tuổi, chúng tôi đang ở nhà
nghỉ vùng quê. Con nghe thấy một cặp gà nước (Rallus aquaticus) hót líu lo từ hồ
nước phía sau một khu rừng nhỏ, và con nói với giọng của người bình luận trên bản
ghi âm tiếng chim hoang dã: "Chúng là gà nước". Đó là khoảnh khắc đầu
tiên con trai tôi nói được những từ ngữ của con người. Từ đó trở đi, vợ chồng
tôi bắt đầu giao tiếp bằng lời nói với con trai mình.
Hiện tại,
Hikari đang làm việc tại một trung tâm đào tạo nghề cho người khuyết tật, một tổ
chức dựa trên những ý tưởng mà chúng tôi học được từ Thụy Điển. Trong khi đó, cậu
ấy đã sáng tác các tác phẩm âm nhạc. Chim chóc chính là nguồn cảm hứng và là
phương tiện cho việc ông ấy sáng tác thứ âm nhạc của con người. Thay mặt tôi,
Hikari đã hoàn thành lời tiên tri rằng một ngày nào đó tôi có thể hiểu được
ngôn ngữ của loài chim. Tôi cũng phải nói rằng cuộc đời tôi sẽ không thể nào trọn
vẹn nếu không có vợ tôi với sức mạnh và trí tuệ dồi dào của người phụ nữ. Bà ấy
chính là hiện thân của Akka, thủ lĩnh đàn ngỗng trời của Nils. Cùng với bà ấy,
tôi đã bay đến Stockholm và lời tiên tri thứ hai, với niềm vui sướng tột cùng,
giờ đây cũng đã trở thành hiện thực.
Kawabata
Yasunari, nhà văn Nhật Bản đầu tiên đứng trên bục này với tư cách là người đoạt
giải Nobel Văn học, đã có bài diễn thuyết mang tên "Nhật Bản, Cái Đẹp và Bản
Thân Tôi". Bài diễn thuyết vừa rất đẹp vừa mơ hồ. Tôi đã sử dụng từ
"vague" trong tiếng Anh như một từ tương đương với từ
"aimaina" trong tiếng Nhật. Tính từ tiếng Nhật này có thể có một số
cách dịch khác nhau trong tiếng Anh. Kiểu mơ hồ mà Kawabata cố tình sử dụng được
ngụ ý ngay trong tiêu đề bài diễn thuyết của ông. Nó có thể được phiên âm là
"bản thân tôi của một nước Nhật Bản tươi đẹp". Tính mơ hồ của toàn bộ
tiêu đề bắt nguồn từ tiểu từ tiếng Nhật “no” (nghĩa đen là “của”) liên kết giữa
“Bản thân tôi” và “Nước Nhật tươi đẹp”.
Tính mơ hồ của
tiêu đề tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau về ý nghĩa của nó. Nó có thể hàm ý “bản
thân tôi như một phần của nước Nhật tươi đẹp”, mối quan hệ quan hệ sở hữu, thuộc
về hoặc gắn bó. Nó cũng có thể hàm ý “nước Nhật tươi đẹp và bản thân tôi”.
Dưới tiêu đề
đó, Kawabata đã nói về một loại chủ nghĩa thần bí độc đáo, không chỉ được tìm
thấy trong tư tưởng Nhật Bản mà còn rộng hơn trong tư tưởng phương Đông. Từ “độc
đáo” ở đây tôi muốn nói đến một khuynh hướng hướng tới Phật giáo Thiền tông.
Ngay cả khi là một nhà văn thế kỷ XX, Kawabata đã miêu tả trạng thái tâm trí của
mình thông qua những bài thơ của các nhà sư Thiền tông thời trung cổ. Hầu hết
những bài thơ này đều đề cập đến sự bất khả thi về mặt ngôn ngữ trong việc diễn
đạt sự thật. Theo những bài thơ đó, từ ngữ bị giam cầm trong lớp vỏ khép kín của
chúng. Người đọc không thể mong đợi rằng từ ngữ sẽ thoát ra khỏi những bài thơ
này và đến được với chúng ta. Người ta không thể hiểu hoặc cảm thông với những
bài thơ Thiền này trừ khi tự nguyện buông bỏ và thâm nhập vào lớp vỏ khép kín của
những từ ngữ đó.
Tại sao Kawabata lại dũng cảm quyết định đọc những bài thơ cực
kỳ khó hiểu bằng tiếng Nhật trước khán giả ở Stockholm? Tôi nhìn lại với
nỗi hoài niệm về sự dũng cảm thẳng thắn mà ông đã đạt được vào cuối sự nghiệp lẫy
lừng của mình, và bằng cách đó, ông đã bày tỏ niềm tin của mình. Kawabata đã là
một người hành hương nghệ thuật trong nhiều thập kỷ, trong thời gian đó ông đã
tạo ra vô số kiệt tác. Sau những năm tháng hành hương ấy, chỉ bằng cách thú nhận
sự say mê của mình đối với những bài thơ Nhật Bản khó hiểu, khiến mọi nỗ lực hiểu
trọn vẹn đều thất bại, ông mới có thể nói về "Nhật Bản, Cái Đẹp và Bản
Thân Tôi", tức là về thế giới mà ông đã sống và nền văn học mà ông đã sáng
tạo.
Hơn nữa, điều
đáng chú ý là Kawabata đã kết luận bài diễn thuyết của mình như sau: Tác phẩm của
tôi được mô tả là tác phẩm của sự trống rỗng, nhưng không nên hiểu đó là chủ
nghĩa hư vô của phương Tây. Nền tảng tinh thần dường như hoàn toàn khác. Dogen
đã đặt tên cho bài thơ về các mùa là "Thực tại Vốn có", và ngay cả
khi ông ca ngợi vẻ đẹp của các mùa, ông vẫn đắm chìm sâu sắc trong Thiền.
Ở đây tôi cũng
nhận thấy một sự tự khẳng định dũng cảm và thẳng thắn. Một mặt, Kawabata tự nhận
mình thuộc về truyền thống triết học Thiền và những cảm nhận thẩm mỹ thấm đẫm
trong văn học cổ điển phương Đông. Mặt khác, ông lại cố gắng phân biệt tính hư
không trong các tác phẩm của mình với chủ nghĩa hư vô của phương Tây. Bằng cách
đó, ông đã hết lòng hướng đến các thế hệ tương lai của nhân loại, những người
mà Alfred Nobel đã trao phó niềm hy vọng và lòng tin của mình.
Thành thật mà
nói, thay vì với Kawabata, người đồng hương của tôi đã đứng ở đây hai mươi sáu
năm trước, tôi cảm thấy có sự đồng cảm về mặt tinh thần hơn với nhà thơ người
Ireland William Butler Yeats, người đã được trao giải Nobel Văn học bảy mươi mốt
năm trước khi ông ấy ở độ tuổi tương đương với tôi. Tất nhiên, tôi sẽ không dám
tự xếp mình ngang hàng với thiên tài thơ ca Yeats. Tôi
chỉ là một người theo dõi khiêm tốn sống ở một đất nước xa xôi so với ông ấy.
Như William Blake, người mà Yeats đã đánh giá lại và khôi phục vị thế
cao mà tác phẩm của ông đang nắm giữ trong thế kỷ này, từng viết: “Xuyên qua
châu Âu và châu Á đến Trung Quốc và Nhật Bản như những tia chớp”.
Trong vài năm
gần đây, tôi đã miệt mài viết một bộ ba tác phẩm mà tôi mong muốn sẽ là đỉnh
cao trong sự nghiệp văn chương của mình. Cho đến nay, hai phần đầu đã được xuất
bản và gần đây tôi đã hoàn thành phần thứ ba và cũng là phần cuối cùng. Tên tiếng
Nhật của tác phẩm là “Cây Xanh Rực Lửa”. Tôi lấy cảm hứng cho tựa đề này từ một
khổ thơ trong bài thơ “Sự Dao Động” của Yeats: “Có một cái cây mà từ cành cao
nhất của nó/ Một nửa rực lửa và một nửa xanh tươi/ Tán lá sum sê đẫm sương mai…”
(Sự Dao Động, 11-13).
Thực tế, bộ ba
tác phẩm của tôi thấm đẫm ảnh hưởng sâu sắc từ toàn bộ thơ ca của Yeats. Nhân dịp
Yeats đoạt giải Nobel, Thượng viện Ireland đã đề xuất một nghị quyết chúc mừng
ông, trong đó có những câu sau: … sự công nhận mà quốc gia đã đạt được, với tư
cách là một người đóng góp nổi bật cho nền văn hóa thế giới, thông qua thành
công của ông… một chủng tộc mà cho đến nay vẫn chưa được chấp nhận vào cộng đồng
các quốc gia. … Nền văn minh của chúng ta sẽ được đánh giá dựa trên tên tuổi của
Thượng nghị sĩ Yeats. … luôn luôn có nguy cơ xảy ra sự hoảng loạn của những người
đủ xa rời sự điên rồ để hăng hái phá hoại.
Yeats là nhà
văn mà tôi muốn noi theo. Tôi muốn làm như vậy không chỉ vì một quốc gia khác
mà còn vì công nghệ kỹ thuật điện và sản xuất ô tô của họ. Tôi cũng muốn làm
như vậy với tư cách là công dân của một quốc gia đã bị “điên rồ trong sự hăng
hái phá hoại” cả trên đất nước mình và trên đất của các quốc gia láng giềng. Với
tư cách là một người sống trong hiện tại như tôi, và chia sẻ những ký ức cay đắng
về quá khứ in sâu trong tâm trí, tôi không thể đồng thanh với Kawabata câu nói
“Nhật Bản, Cái Đẹp và Chính Tôi”. Vừa nãy tôi đã đề cập đến sự “mơ hồ” của tiêu
đề và nội dung của… Bài diễn từ của Kawabata. Trong phần còn lại của bài này,
tôi muốn sử dụng từ "mơ hồ" theo sự phân biệt của nhà thơ nổi tiếng
người Anh Kathleen Raine; bà từng nói về William Blake rằng ông không hẳn là mơ
hồ mà là khó hiểu. Tôi không thể nói về bản thân mình theo cách nào khác ngoài
việc nói "Nhật Bản, Sự Mơ Hồ, và Bản Thân Tôi".
Quan sát của tôi
là sau một trăm hai mươi năm hiện đại hóa kể từ khi mở cửa đất nước, Nhật Bản
ngày nay bị chia rẽ giữa hai cực đối lập của sự mơ hồ. Tôi cũng đang sống với
tư cách là một nhà văn với sự phân cực này in sâu trong tôi như một vết sẹo.
Sự mơ hồ mạnh
mẽ và sâu sắc đến mức chia rẽ cả nhà nước và người dân này thể hiện rõ ràng qua
nhiều khía cạnh. Quá trình hiện đại hóa của Nhật Bản hướng đến việc học hỏi và
bắt chước phương Tây. Tuy nhiên, Nhật Bản nằm ở châu Á và vẫn kiên định duy trì
nền văn hóa truyền thống của mình. Định hướng mơ hồ này đã đẩy Nhật Bản vào vị
thế của một kẻ xâm lược ở châu Á. Mặt khác, nền văn hóa Nhật Bản hiện đại lại
hàm ý sự cởi mở hoàn toàn với phương Tây, hoặc ít nhất là cản trở sự hiểu biết
từ phía phương Tây. Hơn nữa, Nhật Bản bị cô lập khỏi các nước châu Á khác,
không chỉ về chính trị mà còn cả về xã hội và văn hóa.
Trong lịch sử
văn học Nhật Bản hiện đại, những nhà văn chân thành và ý thức nhất về sứ mệnh của
mình là những "nhà văn hậu chiến" xuất hiện trên văn đàn ngay sau chiến
tranh thế giới thứ hai, bị tổn thương sâu sắc bởi thảm họa nhưng vẫn tràn đầy
hy vọng về sự tái sinh. Họ đã cố gắng hết sức để bù đắp cho những tội ác vô
nhân đạo do quân đội Nhật Bản gây ra ở các nước châu Á, cũng như thu hẹp khoảng
cách sâu sắc tồn tại không chỉ giữa các nước phát triển phương Tây và Nhật Bản
mà còn giữa các nước châu Phi và Mỹ Latinh với Nhật Bản. Chỉ bằng cách đó, họ mới
nghĩ rằng mình có thể tìm kiếm sự hòa giải với phần còn lại của thế giới một
cách khiêm nhường. Khát vọng của tôi luôn là bám lấy đến tận cùng của truyền thống
văn học được thừa hưởng từ những nhà văn đó.
Tình trạng hiện
tại của Nhật Bản và người dân nước này trong giai đoạn hậu hiện đại không thể
tránh khỏi sự mâu thuẫn. Ngay giữa lịch sử hiện đại hóa của Nhật Bản là Chiến
tranh Thế giới thứ hai, một cuộc chiến do chính sự lệch lạc của quá trình hiện
đại hóa gây ra. Thất bại trong cuộc chiến này cách đây 50 năm đã tạo cơ hội cho
Nhật Bản và người Nhật, với tư cách là tác nhân của cuộc chiến, cố gắng tái
sinh từ những đau khổ và bất hạnh to lớn được miêu tả bởi "Trường phái hậu
chiến" của các nhà văn Nhật Bản. Những điểm tựa tinh thần cho người Nhật
khao khát sự tái sinh đó là ý tưởng về dân chủ và quyết tâm không bao giờ gây
chiến nữa. Nghịch lý thay, người dân và nhà nước Nhật Bản sống dựa trên những
điểm tựa tinh thần đó lại không hề vô tội mà đã bị vấy bẩn bởi lịch sử xâm lược
các nước châu Á khác trong quá khứ. Những giá trị đạo đức đó cũng có ý nghĩa đối
với các nạn nhân đã thiệt mạng trong các vụ ném bom nguyên tử lần đầu tiên được
sử dụng ở Hiroshima và Nagasaki, và đối với những người sống sót cùng con cháu
của họ bị ảnh hưởng bởi phóng xạ (bao gồm hàng chục nghìn người có tiếng mẹ đẻ
là tiếng Hàn).
Sau khi Chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc, việc tuyên bố từ bỏ chiến tranh mãi mãi trong
một điều khoản trọng tâm của Hiến pháp mới là một mệnh lệnh tuyệt đối đối với
chúng tôi. Người Nhật đã chọn nguyên tắc hòa bình vĩnh cửu làm nền tảng đạo đức
cho sự tái sinh của chúng tôi sau chiến tranh.
Tôi tin rằng
nguyên tắc này có thể được hiểu rõ nhất ở phương Tây với truyền thống lâu đời về
sự khoan dung đối với việc từ chối nghĩa vụ quân sự vì lương tâm. Tại chính Nhật
Bản, từ lâu đã có những nỗ lực của một số người nhằm xóa bỏ điều khoản về việc
từ bỏ chiến tranh khỏi Hiến pháp và vì mục đích này, họ đã tận dụng mọi cơ hội
để gây áp lực từ nước ngoài. Nhưng việc xóa bỏ nguyên tắc hòa bình vĩnh cửu khỏi
Hiến pháp sẽ chẳng khác nào một hành động phản bội đối với các dân tộc châu Á
và các nạn nhân của bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki. Là một nhà văn, tôi
không khó để hình dung hậu quả của sự phản bội đó.
Vào thời điểm
tồi tệ nhất của sự nghèo đói kinh tế sau chiến tranh, chúng ta đã tìm thấy sự
kiên cường để chịu đựng, không bao giờ mất đi hy vọng phục hồi. Nghe có vẻ kỳ lạ
khi nói như vậy, nhưng dường như chúng ta không hề kém phần kiên cường để chịu
đựng nỗi lo lắng về hậu quả đáng ngại nảy sinh từ sự thịnh vượng hiện tại. Từ một
góc nhìn khác, một tình huống mới dường như đang nổi lên, trong đó sự thịnh vượng
của Nhật Bản sẽ được tích hợp vào sức mạnh tiềm tàng đang mở rộng của cả sản xuất
và tiêu dùng ở châu Á nói chung.
Tôi là một
trong những nhà văn mong muốn tạo ra những tác phẩm văn học nghiêm túc, tách biệt
khỏi những tiểu thuyết chỉ đơn thuần phản ánh nền văn hóa tiêu dùng rộng lớn của
Tokyo và các tiểu văn hóa trên thế giới nói chung. Tôi nên tìm kiếm bản sắc Nhật
Bản như thế nào? W.H. Auden từng định nghĩa nhà văn như sau:
“…giữa bụi bặm/
Hãy công bằng, ngay cả giữa những kẻ bẩn thỉu nhất,/ Và trong chính con người yếu
đuối của mình, nếu có thể,/ Phải âm thầm chịu đựng mọi bất công của con người.”
(Nhà văn, 11-14).
Để định nghĩa
một bản sắc Nhật Bản đáng mơ ước, tôi muốn chọn từ ‘đàng hoàng’, một trong những
tính từ mà George Orwell thường sử dụng, cùng với các từ như ‘nhân đạo’, ‘tỉnh
táo’ và ‘xinh đẹp’, để miêu tả những kiểu nhân vật mà ông ưa thích.
Tôi hy vọng
Orwell sẽ không phản đối nếu tôi dùng từ "đàng hoàng" (decent) như một
từ đồng nghĩa với "nhân văn" (humanist) hay "humaniste"
trong tiếng Pháp, bởi vì cả hai từ đều có những phẩm chất chung như lòng khoan
dung và tính nhân đạo. Trong số tổ tiên của chúng ta có một số người tiên phong
đã nỗ lực không ngừng để xây dựng bản sắc Nhật Bản là "đàng hoàng"
hay "nhân văn".
Một người như
vậy là cố Giáo sư Kazuo Watanabe, một học giả về văn học và tư tưởng Phục hưng
Pháp. Giữa cơn cuồng nhiệt yêu nước điên cuồng trước và trong Thế chiến thứ
hai, Watanabe ấp ủ một giấc mơ cô độc về việc kết hợp quan điểm nhân văn về con
người với cảm nhận truyền thống về cái đẹp và sự nhạy cảm với thiên nhiên của
người Nhật, điều mà may mắn thay vẫn chưa bị xóa bỏ hoàn toàn. Tôi phải nói
thêm rằng Giáo sư Watanabe có quan niệm về cái đẹp và thiên nhiên khác với quan
niệm của Kawabata trong tác phẩm "Nhật Bản, Cái đẹp và Bản thân tôi".
Cách mà Nhật Bản
đã cố gắng xây dựng một nhà nước hiện đại theo mô hình phương Tây là một thảm họa.
Theo những cách khác biệt, nhưng phần nào tương đồng với quá trình đó, giới trí
thức Nhật Bản đã cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa phương Tây và đất nước họ ở mức
độ sâu sắc nhất. Đó hẳn là một nhiệm vụ gian khổ, nhưng cũng tràn đầy niềm vui.
Nghiên cứu của Giáo sư Watanabe về François Rabelais do đó là một trong những
thành tựu học thuật xuất sắc và đáng giá nhất của giới trí thức Nhật Bản.
Watanabe từng
học ở Paris trước Thế chiến thứ hai. Khi ông nói với người hướng dẫn học thuật
của mình về tham vọng dịch Rabelais sang tiếng Nhật, vị học giả người Pháp lớn
tuổi lỗi lạc đã trả lời người sinh viên trẻ người Nhật đầy tham vọng bằng câu
nói: “L’entreprise inouie de la traduction de l’intraduisible Rabelais” (một nỗ
lực chưa từng có tiền lệ trong việc dịch những tác phẩm của Rabelais không thể
dịch sang tiếng Nhật). Một học giả người Pháp khác đã trả lời với sự kinh ngạc
thẳng thừng: “Belle entreprise Pantagruélique” (một nỗ lực đáng ngưỡng mộ, giống
như Pantagruel). Bất chấp tất cả những điều đó, Watanabe không chỉ hoàn thành
công trình vĩ đại của mình trong một môi trường nghèo khó suốt thời chiến và thời
kỳ chiếm đóng của Mỹ, mà ông còn nỗ lực hết sức để truyền bá vào một nước Nhật
hỗn loạn và mất phương hướng lúc bấy giờ lối sống và tư tưởng của những nhà
nhân văn Pháp, những người tiên phong, đương thời và là người kế thừa của
François Rabelais.
Trong cả cuộc
đời và sự nghiệp viết văn, tôi đều là học trò của Giáo sư Watanabe. Tôi chịu ảnh
hưởng của ông theo hai cách quan trọng. Một là trong phương pháp viết tiểu thuyết
của tôi. Tôi đã học được một cách cụ thể từ bản dịch tác phẩm của Rabelais của
ông những gì Mikhail Bakhtin đã diễn đạt là "hệ thống hình ảnh của chủ
nghĩa hiện thực kỳ quặc hay văn hóa tiếng cười bình dân"; tầm quan trọng của
các nguyên tắc vật chất và thể chất; sự tương ứng giữa các yếu tố vũ trụ, xã hội
và vật chất; sự chồng chéo giữa cái chết và khát vọng tái sinh; và tiếng cười
làm đảo lộn các mối quan hệ thứ bậc.
Hệ thống hình ảnh
đã tạo điều kiện cho tôi, một người sinh ra và lớn lên ở một vùng ngoại vi, bên
lề, xa trung tâm của một đất nước cũng ngoại vi, bên lề, xa trung tâm như Nhật
Bản, tìm kiếm những phương pháp văn chương để đạt đến tính phổ quát. Xuất phát
từ bối cảnh đó, tôi không miêu tả châu Á như một cường quốc kinh tế mới nổi mà
là một châu Á thấm đẫm sự nghèo đói triền miên và sự pha trộn phức tạp của nền
văn hóa. Bằng cách chia sẻ những ẩn dụ cũ, quen thuộc nhưng vẫn sống động, tôi
tự đặt mình vào vị trí của các nhà văn như Kim Ji-ha của Hàn Quốc, Chon I và Mu
Jen, cả hai đều đến từ Trung Quốc. Đối với tôi, tình huynh đệ của văn học thế
giới nằm ở những mối quan hệ cụ thể như vậy. Tôi từng tham gia một cuộc tuyệt
thực để đòi tự do chính trị cho một nhà thơ tài năng người Hàn Quốc. Giờ đây,
tôi vô cùng lo lắng về số phận của những tiểu thuyết gia tài năng người Trung
Quốc, những người đã bị tước đoạt tự do kể từ sự kiện Thiên An Môn.
Một ảnh hưởng
khác của Giáo sư Watanabe đối với tôi là ở quan niệm về chủ nghĩa nhân văn. Tôi
cho rằng đó là tinh túy của châu Âu như một tổng thể sống động. Ý tưởng này
cũng có thể nhận thấy trong định nghĩa về tinh thần của tiểu thuyết của Milan
Kundera. Dựa trên việc nghiên cứu chính xác các nguồn tư liệu lịch sử, Watanabe
đã viết những cuốn tiểu sử phê bình, với Rabelais là trung tâm, về những nhân vật
từ Erasmus đến Sébastien Castellion, và về những người phụ nữ có liên quan đến
Henri IV, từ Nữ hoàng Marguerite đến Gabrielle Destré. Bằng cách đó, Watanabe
muốn truyền đạt cho người Nhật về chủ nghĩa nhân văn, về tầm quan trọng của
lòng khoan dung, về sự dễ bị tổn thương của con người trước những định kiến
hoặc những cỗ máy do chính mình tạo ra. Sự chân thành của ông đã dẫn đến việc
ông trích dẫn câu nói của nhà ngữ văn học người Đan Mạch Kristoffer Nyrop: “Những
người không phản đối chiến tranh là đồng lõa của chiến tranh.” Trong nỗ lực du
nhập chủ nghĩa nhân văn vào Nhật Bản như là nền tảng của tư tưởng phương Tây,
Watanabe đã dũng cảm dấn thân vào cả “cuộc phiêu lưu vô tận” (l’entreprise
inouïe) và “cuộc phiêu lưu vĩ đại Pantagruélique” (belle entreprise
Pantagruélique).
Là người chịu ảnh
hưởng bởi chủ nghĩa nhân văn của Watanabe, tôi mong muốn nhiệm vụ của mình với
tư cách là một tiểu thuyết gia là giúp cả những người thể hiện bản thân bằng
ngôn từ và độc giả của họ vượt qua được những đau khổ của chính mình và những
đau khổ của thời đại, và chữa lành những vết thương trong tâm hồn họ. Tôi đã
nói rằng tôi bị giằng xé giữa hai cực đối lập của sự mơ hồ đặc trưng của người
Nhật. Tôi đã nỗ lực để được chữa lành và phục hồi khỏi những nỗi đau và vết
thương đó bằng văn chương. Tôi cũng đã nỗ lực cầu nguyện cho sự chữa lành và phục
hồi của những người Nhật đồng bào tôi.
Nếu các bạn
cho phép tôi nhắc đến con trai tôi, Hikari, một đứa trẻ thiểu năng trí tuệ, đã
được đánh thức bởi tiếng chim hót trong tiếng nhạc của Bach và Mozart, và cuối
cùng đã sáng tác ra những tác phẩm của riêng mình. Những bản nhạc nhỏ đầu tiên
mà cậu ấy sáng tác tràn đầy vẻ tươi mới và niềm vui. Chúng giống như những giọt
sương lấp lánh trên lá cỏ. Từ "innocent" (sự ngây thơ) được cấu tạo từ
"in" – "không" và "nocere" – "làm tổn
thương", nghĩa là "không làm tổn thương". Âm nhạc của Hikari,
theo nghĩa này, là sự bộc lộ tự nhiên từ sự ngây thơ của chính nhà soạn nhạc.
Khi Hikari tiếp
tục sáng tác nhiều tác phẩm hơn, tôi không thể không nghe thấy trong âm nhạc của
cậu cả "tiếng khóc than của một tâm hồn u tối". Dù bị thiểu năng trí
tuệ, nỗ lực không ngừng nghỉ của ông đã giúp cho việc sáng tác, hay "thói
quen sống" của ông, phát triển các kỹ thuật sáng tác và làm sâu sắc thêm
nhận thức của ông. Điều đó, đến lượt nó, cho phép ông khám phá ra trong sâu thẳm
trái tim mình một nỗi buồn u ám mà trước đây ông không thể diễn tả bằng lời.
"Tiếng
khóc than của một tâm hồn u tối" thật đẹp, và hành động thể hiện nó trong
âm nhạc đã chữa lành nỗi buồn u ám của ông, như một hành động phục hồi. Hơn nữa,
âm nhạc của ông cũng được chấp nhận là có khả năng chữa lành và phục hồi cho những
người nghe đương thời. Ở đây, tôi tìm thấy cơ sở để tin vào sức mạnh chữa lành
tuyệt vời của nghệ thuật.
Niềm tin này của
tôi vẫn chưa được chứng minh đầy đủ. Dù tôi là một “người yếu đuối”, nhưng với
sự trợ giúp của niềm tin không thể kiểm chứng này, tôi muốn “chịu đựng một cách
cam chịu tất cả những bất công” tích lũy trong suốt thế kỷ XX do sự phát triển
khủng khiếp của công nghệ và giao thông vận tải. Là một người có cuộc sống bên
lề, bên lề và lệch lạc trong thế giới này, tôi muốn tìm cách – với những gì tôi
hy vọng là một đóng góp khiêm tốn, tử tế và nhân văn – để có thể giúp ích phần
nào trong việc chữa lành và hòa giải nhân loại.
------------
(1). Manuscript version in Nobelprize.org
(2). References:
* Xem thêm: Một số câu trích trong tác phẩm Kenzaburo Oe

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét