Albert Camus (1913 - 1960) - Nhà văn, triết gia, nhà báo Pháp, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm văn học quan trọng của ông, với sự nghiêm túc sáng suốt đã soi sáng những vấn đề của lương tâm con người trong thời đại chúng ta” (for his important literary production, which with clear-sighted earnestness illuminates the problems of the human conscience in our times).
Đây là bài phát biểu của Albert Camus tại tiệc chiêu đãi Nobel (Nobel Banquet Speech) tại Tòa thị chính Stockholm, ngày 10 tháng 12 năm 1957. (1)
***
Khi nhận được vinh dự mà
Viện Hàn lâm của quý vị đã hào phóng trao tặng cho tôi, lòng biết ơn của tôi vô
cùng sâu sắc, đặc biệt khi tôi nhận ra mức độ mà phần thưởng này đã vượt xa tầm
vóc của cá nhân tôi. Ai cũng vậy, nhất là mỗi nghệ sĩ, đều mong muốn được công
nhận. Tôi cũng vậy. Nhưng
khi được tin về quyết định của quý ngài, tôi đã không có điều kiện để so sánh
tiếng dội của nó tới giá trị thực của tôi.
Một người đàn ông trẻ
trung, chỉ mang theo những hoài nghi và tác phẩm của ông vẫn đang dang dở, quen
sống trong sự cô độc của công việc hoặc trong những chốn ẩn náu của tình bạn:
làm sao ông ta không cảm thấy hoang mang khi nghe phán quyết đột ngột đưa ông
ta đến đỉnh tôn vinh? Và làm sao ông ta có thể chấp nhận vinh dự này vào thời
điểm mà các nhà văn khác ở châu Âu, trong đó có những người vĩ đại nhất, bị buộc
phải kham nhẫn, ngay vào thời điểm đất nước ông ta sinh ra đang trải qua những
thống khổ kéo dài?
Trong lòng tôi cảm thấy
sốc và chao đảo. Để tìm lại sự bình yên, tôi đã phải chấp nhận một vận may quá
mức ưu ái. Và vì tôi không thể sống xứng đáng với nó chỉ bằng cách dựa vào
thành tựu của mình, tôi không tìm thấy gì để nâng đỡ mình ngoài điều đã nâng đỡ
tôi suốt cuộc đời, ngay cả trong những hoàn cảnh trái ngược nhất: ý niệm về nghệ
thuật của tôi và vai trò của nhà văn. Cho phép tôi được nói với các bạn, với lòng tri ân và sự thân tình,
tôi xin phép trình bày quan điểm đó một cách giản dị nhất.
Với bản thân tôi, tôi không thể sống thiếu nghệ
thuật. Nhưng tôi chưa bao giờ đặt nó lên trên tất cả mọi thứ. Mặt khác, nếu tôi
cần nó, đó là vì nó không thể tách rời khỏi đồng loại của tôi, và nó cho phép
tôi sống, với con người của mình, ngang hàng với họ. Đó là một phương tiện để
đánh thức số đông bằng cách mang đến cho họ một bức tranh đặc quyền về những niềm
vui và nỗi buồn chung.
Nghệ thuật không cho phép người nghệ sĩ tự tách mình
ra; nghệ thuật đặt anh ta vào khuôn phép của chân lí khiêm nhường nhất và phổ
quát nhất. Và thường khi nếu ai đó chọn con đường nghệ thuật vì thấy mình khác
người, anh ta sẽ sớm hiểu rằng anh ta chỉ nuôi dưỡng được nghệ thuật và cái
riêng của mình một khi thừa nhận rằng anh ta cũng như mọi người. Người nghệ sĩ
phải tự rèn luyện mình trong sự giao lưu không ngừng với đám đông, trong vị trí
luôn ở giữa một bên là cái đẹp anh ta không thể thiếu và bên kia là cái cộng đồng
anh ta không thể dứt bỏ.
Vì thế người nghệ sĩ chân chính không coi nhẹ bất cứ
điều gì; họ buộc mình phải hiểu thay vì phán xét. Và nếu trong cuộc thế này họ
phải chọn một lập trường, thì đó chỉ có thể là lập trường của một xã hội, nói
theo Nietzsche, nơi sẽ ngự trị không phải là một vị quan tòa mà là một nhà sáng
tạo bằng chân tay hoặc bằng trí óc.
Tương tự như vậy, vai
trò của nhà văn cũng không tránh khỏi những nhiệm vụ khó khăn. Theo định nghĩa,
ngày nay anh ta không thể phục vụ những người tạo ra lịch sử; anh ta phục vụ những
người phải tuân thủ lịch sử. Nếu không, anh ta sẽ cô đơn và bị tước đoạt nghệ
thuật. Toàn bộ các đội quân chuyên chế với hàng triệu binh lính cũng có thể giải
thoát anh ta khỏi sự cô đơn, ngay cả khi nếu anh ta tuân theo chúng. Nhưng sự
im lặng của một tù nhân vô danh, bị bỏ rơi trong sự sỉ nhục ở tận cùng thế giới,
đủ để kéo nhà văn ra khỏi cảnh lưu đày, ít nhất là khi, giữa những đặc quyền của
tự do, anh ta không quên được sự im lặng đó, và truyền tải nó để làm cho nó
vang vọng thông qua nghệ thuật của mình.
Không ai trong chúng ta
đủ vĩ đại cho một nhiệm vụ như vậy. Nhưng trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống,
trong sự vô danh hay danh tiếng nhất thời, bị giam cầm trong xiềng xích của bạo
ngược hay được tự do thể hiện bản thân trong một thời gian, người viết vẫn có thể
chinh phục trái tim của một cộng đồng sống động, nơi sẽ tôn vinh anh ta, với điều
kiện duy nhất là anh ta chấp nhận đến giới hạn khả năng của mình hai nhiệm vụ tạo
nên sự vĩ đại của nghề viết: phục vụ sự thật và phục vụ tự do. Bởi vì nhiệm vụ
của anh ta là kết nối số lượng người nhiều nhất có thể, nghệ thuật của anh ta
không được thỏa hiệp với sự dối trá và nô lệ, những thứ mà ở bất cứ nơi nào
chúng thống trị, đều sinh ra sự cô độc. Cho dù những yếu điểm cá nhân của chúng
ta là gì, sự cao quý của nghề viết sẽ luôn bắt nguồn từ hai cam kết khó duy
trì: từ chối nói dối về những gì mình biết và chống lại sự áp bức.
Hơn hai mươi năm sống trong một lịch sử điên loạn, chết
không được cứu vớt, sống như tất cả mọi người cùng tuổi với tôi trong những cơn
co quắp của thời đại, tôi đã được nâng đỡ bằng cái tình cảm kín đáo rằng viết
văn là một vinh dự bởi vì hành động này ràng buộc tôi và bó buộc tôi không chỉ
vào một việc viết. Hành động này đặc biệt bó buộc bản thân tôi cùng với mọi con
người đã trải qua cùng một thời lịch sử ấy phải chia sẻ với nhau một nỗi đau hi
vọng. Những con người sinh ra khi bắt đầu Thế chiến I này, những kẻ bước vào tuổi
20 khi Hitler lên cầm quyền và khi diễn ra những vụ án cách mạng đầu tiên, những
con người sau đó còn phải hoàn thiện nền giáo dục của mình bằng cách đương đầu
với chiến tranh Tây Ban Nha, với Thế chiến II, với hệ thống những trại tập
trung, với cái Châu Âu của nhục hình và giam cầm, những con người ấy giờ đây
đang phải nuôi con cái họ và nuôi dưỡng các tác phẩm của họ trong một thế giới
bị nạn hủy diệt hạt nhân đe dọa.
Tôi thiết nghĩ không ai có thể đòi hỏi họ lạc quan cho
được. Và tôi cũng đồng ý trong khi vẫn không ngừng đấu tranh chống lại sự nhầm
lẫn những người vì quá thất vọng đã đòi quyền được ô nhục và đổ xô đi vào những
con đường hư vô thời mới. Nhưng vẫn còn phần lớn những con người trong chúng
ta, ở nước tôi và ở Châu Âu, đã từ chối cái tư tưởng hư vô ấy và bắt đầu cuộc
kiếm tìm cái gì là giá trị chính đáng. Họ đã phải tự rèn luyện một nghệ thuật sống
trong thời thảm họa, để được sinh ra một lần nữa và sau đó đối mặt chống lại
cái bản năng hủy diệt đang hoành hành trong lịch sử của chúng ta.
Dĩ nhiên là mỗi thế hệ đều tưởng mình có nghĩa vụ xây
dựng lại thế giới. Có điều là thế hệ của tôi lại biết rằng nó sẽ không xây dựng
lại được thế giới ấy. Nhưng nhiệm vụ thế hệ tôi lại to tát hơn, đó là ngăn chặn
một thế giới đang bị tàn phá. Thừa hưởng một lịch sử suy đồi, thời kì pha trộn
những cuộc cách mạng thất bại, những kĩ thuật đang trở thành điên rồ, những thần
linh đã chết và những hệ tư tưởng kiệt sức, thời kì của những quyền lực tầm thường
đủ sức hủy diệt nhưng không có sức thuyết phục ai, thời kì trí tuệ tự hạ mình đến
mức chỉ để phục vụ cho thù hận và áp bức, cái thế hệ này của tôi, từ những phủ
định của chính mình, đã phải dựng xây lại ngay trong bản thân mình và xung
quanh mình một chút giá trị gì còn lại đủ để tạo thành niềm kiêu hãnh sống và
niềm kiêu hãnh chết.
Đứng trước một thế giới bị đe dọa tan rã, nơi có nguy
cơ các tòa án dị giáo lớn định thiết lập vĩnh viễn những vương quốc diệt vong,
thế hệ của tôi hiểu rằng trong cuộc chạy đua hết sức với thời gian nó sẽ phải
nhanh chóng lập lại nền hòa bình giữa các quốc gia sao cho đó không phải là một
nền hòa bình của sự phục tùng, thế hệ tôi sẽ phải một lần nữa hòa giải được lao
động chân tay và lao động trí óc, nó sẽ phải cùng mọi người xây dựng lại cây cầu
liên kết con người. Không chắc gì họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ mênh mông
to tát đó, nhưng chắc chắn là, khắp nơi trên thế giới, thế hệ này đã chấp nhận
hai lần thách thức chân lí và tự do, và nếu có phải chết nó cũng biết chết mà
không hề oán hận cuộc thách đố ấy.
Chính thế hệ này đáng được chào đón và khích lệ ở khắp
nơi nó đang hiện diện, và nhất là ở nơi nào nó đang hi sinh. Bất kể thế nào,
tôi tin rằng quý vị cũng hết sức đồng tình với tôi rằng tôi muốn tặng lại họ niềm
vinh dự quý vị đã trao cho tôi.
Đồng thời, sau khi đã nói tới sự cao quý của nghề viết
văn, tôi muốn đặt nhà văn vào đúng chỗ của họ, chẳng có danh hiệu nào khác hơn
là những danh hiệu họ từng chia sẻ với các bạn chiến đấu của mình, dễ tổn
thương nhưng cứng đầu cứng cổ, bất công nhưng say mê công lí, xây dựng sự nghiệp
trước mắt mọi người mà không hổ thẹn, không kiêu ngạo với ai, không ngừng giằng
xé giữa nỗi đau và cái đẹp, để cuối cùng lao vào cuộc thể hiện một nghĩa vụ kép
ấy là cố công bướng bỉnh sáng tạo dựng xây ngay trong cái guồng quay hủy diệt của
lịch sử.
Sau tất cả những điều đó nào ai là người còn định đòi
hỏi ở họ những giải pháp có sẵn và những lý thuyết sáo rỗng? Chân lí là cái bí
hiểm, khó nắm bắt, luôn luôn đòi hỏi ta phải chinh phục lấy. Tự do là cái nguy
hiểm, khó sống tuy là đầy hứng khởi. Chúng ta phải hướng theo hai mục đích này,
vất vả nhưng quả quyết, mặc dù biết trước những sự nản lòng trên con đường dài
đến thế. Vì vậy có nhà văn nào với đầy đủ ý thức dám rao giảng đạo đức suông? Về
phần mình, tôi phải nói lại một lần nữa, tôi chẳng là gì cả trong toàn bộ những
chuyện như thế.
Tôi chưa bao giờ khước từ ánh sáng, niềm vui sống, và
cuộc đời tôi trưởng thành trong tự do. Song dù cho nỗi nhớ tiếc đó đủ sức lý giải
những sự nhầm lẫn và sai lầm của tôi, nó vẫn giúp tôi hiểu rõ hơn nghề của
mình, nó đang giúp tôi dù mù quáng nhưng đứng vững được bên cạnh những con người
lặng câm kia, những con người trong đời này chỉ chịu trụ đỡ cho cái cuộc sống
có được nhờ hồi tưởng hoặc nhớ những cuộc trở về ngắn ngủi hạnh phúc tự do.
Trở lại như thế với con người thực của tôi, với những
giới hạn, với những món nợ, với niềm tin khó khăn của mình, tôi thấy mình mạnh
dạn hơn để cuối cùng được bày tỏ với quý vị về tầm vóc và sự độ lượng cùng niềm
vinh dự quý vị đã dành cho tôi, càng mạnh dạn
hơn để thưa với quý vị rằng tôi xin nhận vinh dự đó như một sự vinh danh tới tất cả những ai đã trải qua cùng một cuộc chiến đấu ấy mà không nhận được một sự ưu ái nào, trái lại chỉ nhận lấy những bất hạnh và tai ương. Cuối cùng, từ trong sâu thẳm lòng mình, tôi xin cám ơn quý vị và xin hứa công khai bày tỏ lòng biết ơn, trước sau vẫn là một lời hứa thủy chung xưa cũ, mà người nghệ sĩ chân chính hàng ngày trong im lặng vẫn tự hứa với lòng mình. (2)
----------
Chú thích:
(1). Nguồn Nobelprize.org
(2). Trước bài phát biểu, B. Karlgren, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia, đã gửi lời đến nhà văn Pháp: «Thưa ông Camus – Là một người nghiên cứu lịch sử và văn học, trước hết tôi xin được nói chuyện với ông. Tôi không có tham vọng và sự can đảm để đưa ra phán xét về tính chất hay tầm quan trọng của tác phẩm của ông – những nhà phê bình có năng lực hơn tôi đã làm sáng tỏ vấn đề này rồi. Nhưng tôi xin khẳng định với ông rằng chúng tôi vô cùng tự hào khi được chứng kiến giải Nobel Văn học lần thứ chín được trao cho một người Pháp. Đặc biệt trong thời đại của chúng ta, với xu hướng hướng sự chú ý, ngưỡng mộ và bắt chước về phía những quốc gia – nhờ nguồn lực vật chất khổng lồ – đã trở thành những người tiên phong, tuy nhiên, ở Thụy Điển và những nơi khác vẫn còn một bộ phận tinh hoa khá lớn không quên, mà luôn ý thức được rằng trong văn hóa phương Tây, tinh thần Pháp đã đóng vai trò chủ đạo và dẫn đầu trong nhiều thế kỷ và vẫn tiếp tục như vậy." Trong các tác phẩm của ông, chúng tôi nhận thấy ở mức độ cao sự rõ ràng và mạch lạc, sự thấu hiểu và tinh tế, cùng nghệ thuật độc đáo vốn có trong ngôn ngữ văn chương của ông, tất cả những điều đó chúng tôi đều ngưỡng mộ và yêu mến nồng nhiệt. Chúng tôi kính trọng ông như một đại diện đích thực của tinh thần Pháp tuyệt vời đó."

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét