P.5: Giới thiệu tóm tắt các tác giả Nobel Văn học từ 1986 - 2006.
![]() |
| Wole Soyinka, tác giả người Nigeria Nobel VH 1986 |
83. Năm 1986, Wole Soyinka (1934 - ) Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch Nigeria, được trao giải Nobel Văn học vì “người đã khắc họa bi kịch của sự tồn tại trong một góc nhìn văn hóa rộng lớn và với âm hưởng thi ca” (who in a wide cultural perspective and with poetic overtones fashions the drama of existence).
84. Năm 1987, Joseph Brodsky (1940
- 1996) - Nhà văn, nhà thơ Mỹ gốc Nga, được trao giải Nobel Văn học “vì một
tác phẩm bao quát, thấm đẫm sự rõ ràng trong tư tưởng và cường độ thi ca” (for an all-embracing authorship, imbued
with clarity of thought and poetic intensity).
85. Năm 1988, Naguib Mahfouz (1911
- 2006) - Nhà văn đương đại đầu tiên của văn học khối Ả Rập - Ai Cập, được
trao giải Nobel Văn học vì “người mà thông qua các tác phẩm giàu sắc thái - lúc
thì hiện thực rõ ràng, lúc thì mơ hồ gợi cảm - đã hình thành nên một nghệ thuật
tự sự Ả Rập áp dụng cho toàn nhân loại” (who,
through works rich in nuance - now clear-sightedly realistic, now evocatively
ambiguous - has formed an Arabian narrative art that applies to all mankind).
86. Năm 1989, Camilo José Cela (1916
- 2002) - Nhà văn Tây Ban Nha, được trao giải Nobel Văn học “vì một văn
phong phong phú và sâu sắc, với lòng trắc ẩn được kiềm chế, tạo nên một tầm
nhìn đầy thách thức về sự dễ tổn thương của con người” (for a rich and intensive prose, which with restrained compassion forms
a challenging vision of man's vulnerability).
87. Năm 1990, Octavio Paz (1914
- 1998) - Triết gia, nhà thơ Mexico, được trao giải Nobel Văn học “vì lối
viết đầy nhiệt huyết với tầm nhìn rộng lớn, đặc trưng bởi trí tuệ tinh tế và
tính chính trực nhân văn" (for
impassioned writing with wide horizons, characterized by sensuous intelligence
and humanistic integrity).
* Bài liên quan:
88. Năm 1991, Nadine Gordimer (1923
– 2014) - Nhà văn Nam Phi, được trao giải Nobel Văn học vì “người mà thông
qua những tác phẩm sử thi tuyệt vời của mình, theo lời của Alfred Nobel, đã
mang lại lợi ích to lớn cho nhân loại” (who
through her magnificent epic writing has - in the words of Alfred Nobel - been
of very great benefit to humanity).
* Bài liên quan:
- Diễn từ Nobel: Nadine Gordimer
89. Năm 1992, Derek Alton Walcott (1930 - 2017) - Nhà thơ, nhà viết kịch Saint Lucia, được trao giải
Nobel Văn học "vì một sự nghiệp thơ ca rực rỡ, được nâng đỡ bởi tầm nhìn lịch
sử, kết quả của một cam kết đa văn hóa" (for a poetic oeuvre of great luminosity, sustained by a historical
vision, the outcome of a multicultural commitment).
* Bài liên quan: Thơ Derek Walcott
90. Năm 1993, Toni Morrison (1931
- 2019) - Tiểu thuyết gia Mỹ, được trao giải Nobel Văn học vì “người mà
trong những tiểu thuyết mang đậm sức mạnh viễn tưởng và ý nghĩa thi ca, đã thổi
hồn vào một khía cạnh thiết yếu của hiện thực nước Mỹ” (who in novels characterized by visionary force and poetic import,
gives life to an essential aspect of American reality).
* Bài liên quan:
- Diễn từ Nobel : Toni Morrison
91. Năm 1994, Kenzaburo Oe (1935
– 2023) - Nhà văn Nhật, được trao giải Nobel Văn học vì “người đã dùng sức
mạnh thi ca để tạo ra một thế giới tưởng tượng, nơi cuộc sống và thần thoại hòa
quyện tạo nên một bức tranh đáng lo ngại về tình trạng khó khăn của con người
ngày nay” (who with poetic force creates
an imagined world, where life and myth condense to form a disconcerting picture
of the human predicament today).
* Bài liên quan:
92. Năm 1995, Seamus Heaney (1939
- 2013) - Nhà thơ, nhà viết kịch, dịch giả Ireland, được trao giải Nobel
Văn học “vì những tác phẩm có vẻ đẹp trữ tình và chiều sâu đạo đức, tôn vinh những
phép màu hàng ngày và quá khứ sống động” (for
works of lyrical beauty and ethical depth, which exalt everyday miracles and
the living past).
* Bài liên quan:
- Diễn từ Nobel: Seamus Heaney
- Thơ Seamus Heaney: Anahorish
93. Năm 1996, Wisława Szymborska (1923 - 2012) – Nhà thơ nữ Ba Lan, được trao giải Nobel Văn học “vì
thơ ca với độ chính xác đầy châm biếm cho phép bối cảnh lịch sử và sinh học được
hé lộ trong những mảnh ghép của thực tại con người” (for poetry that with ironic precision allows the historical and
biological context to come to light in fragments of human reality).
* Bài liên quan:
- Diễn từ Nobel: Wislawa Szymborska
94. Năm 1997, Dario Fo (1926
- 2016) - Nhà viết kịch, đạo diễn,
họa sĩ Ý, được trao giải Nobel Văn học vì “noi gương những người hề thời Trung
cổ trong việc trừng phạt chính quyền và giữ gìn phẩm giá của những người bị áp
bức” (who emulates the jesters of the
Middle Ages in scourging authority and upholding the dignity of the
downtrodden).
* Bài liên quan:
95. Năm 1998, José Saramago (1922
- 2010) – Nhà văn, nhà thơ Bồ Đào Nha, được trao giải Nobel Văn học “với những
câu chuyện ngụ ngôn được duy trì bởi trí tưởng tượng, lòng trắc ẩn và sự châm
biếm, liên tục cho phép chúng ta một lần nữa nắm bắt được một thực tại khó nắm
bắt” (who with parables sustained by
imagination, compassion and irony continually enables us once again to
apprehend an elusory reality).
* Bài liên quan:
96. Năm 1999, Günter Grass (1927
- 2015) - Nhà văn người Đức, được trao giải Nobel Văn học “với những câu
chuyện ngụ ngôn đen tối đầy dí dỏm khắc họa khuôn mặt bị lãng quên của lịch sử”
(whose frolicsome black fables portray
the forgotten face of history).
* Bài liên quan:
97. Năm 2000, Gao Xingjian – Cao Hành Kiện ( 1940 -) Tiểu thuyết gia , nhà viết kịch, nhà phê bình, họa sĩ,
nhiếp ảnh gia, đạo diễn phim người Trung Quốc, được trao giải Nobel Văn học “vì
một tác phẩm có giá trị phổ quát, những hiểu biết cay đắng và sự khéo léo về
ngôn ngữ, đã mở ra những con đường mới cho tiểu thuyết và kịch Trung Quốc” (for an œuvre of universal validity, bitter
insights and linguistic ingenuity, which has opened new paths for the Chinese
novel and drama).
* Bài liên quan:
- Diễn từ Nobel của Cao Hành Kiện
98. Năm 2001, V. S. Naipaul tên đầy đủ Vidiadhar Surajprasad Naipaul (1932
– 2018) - nhà văn Trinidad và Tobago thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc
Ireland, được trao giải Nobel Văn học “vì đã kết hợp lối kể chuyện sâu sắc và sự
xem xét kỹ lưỡng không thể bị mua chuộc trong các tác phẩm buộc chúng ta phải
nhìn thấy sự hiện diện của những lịch sử bị kìm nén” (for having united perceptive narrative and incorruptible scrutiny in
works that compel us to see the presence of suppressed histories).
* Bài liên quan:
99. Năm 2002, Imre Kertész (1929
- 2016) - Nhà văn người Hungary gốc Do Thái, sống sót trại tập trung Holocaust, được trao
giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm đề cao trải nghiệm mong manh của cá nhân
trước sự tùy tiện man rợ của lịch sử” (for
writing that upholds the fragile experience of the individual against the
barbaric arbitrariness of history).
* Bài liên quan:
100. Năm 2003, J. M. Coetzee (1940
-) - Tiểu thuyết gia, nhà tiểu luận, nhà ngôn ngữ học và dịch giả người Nam
Phi và Úc, được trao giải Nobel Văn học “vì đã khắc họa sự tham gia đáng ngạc
nhiên của người ngoài cuộc dưới vô số hình thức” (who in innumerable guises portrays the surprising involvement of the
outsider).
101. Năm 2004, Elfriede Jelinek (1946
-) – Nữ tiểu thuyết gia, nhà viết kịch người Áo, được trao giải Nobel Văn học
“vì dòng chảy âm nhạc của các giọng nói và phản giọng nói trong tiểu thuyết và
kịch, với sự nhiệt huyết ngôn ngữ phi thường, đã phơi bày sự phi lý của những định
kiến xã hội và sức mạnh áp bức của chúng” (for
her musical flow of voices and counter-voices in novels and plays that with
extraordinary linguistic zeal reveal the absurdity of society's clichés and
their subjugating power).
102. Năm 2005, Harold Pinter (1930
- 2008) - Nhà viết kịch và đạo diễn sân khấu người Anh, được trao giải
Nobel Văn học vì “trong các vở kịch của mình đã vạch trần vực thẳm dưới những lời
nói chuyện phiếm hàng ngày và buộc phải bước vào những căn phòng khép kín của sự
áp bức” (who in his plays uncovers the
precipice under everyday prattle and forces entry into oppression's closed
rooms).
103. Năm 2006, Orhan Pamuk (1952
-) - Tiểu thuyết gia người Thổ Nhĩ Kỳ, được trao giải Nobel Văn học vì “người
trong hành trình tìm kiếm tâm hồn u sầu của thành phố quê hương mình đã khám
phá ra những biểu tượng mới cho sự xung đột và đan xen của các nền văn hóa” (who in the quest for the melancholic soul
of his native city has discovered new symbols for the clash and interlacing of
cultures).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét