3/5/26

3.864. TÁC GIẢ NOBEL VĂN HỌC - 4

(Tiếp theo P.3)

P.4: Giới thiệu tóm tắt các tác giả Nobel Văn học từ 1965 - 1985.


Mikhail Sholokhov - Nhà văn Liên Xô
Nobel VH 1965
 

60. Năm 1965, Mikhail Sholokhov (1905-1984) - Nhà văn Liên Xô, được trao giải Nobel Văn học “vì sức mạnh nghệ thuật và sự toàn vẹn mà ông đã thể hiện trong sử thi về sông Don, một giai đoạn lịch sử trong cuộc đời của người dân Nga” (for the artistic power and integrity with which, in his epic of the Don, he has given expression to a historic phase in the life of the Russian people).


Năm 1966, có hai tác giả được trao giải Nobel Văn học:

61. Shmuel Agnon (1888 – 1970) Nhà văn Israel, được trao giải Nobel Văn học “vì nghệ thuật kể chuyện đặc sắc với những mô típ từ cuộc sống của người Do Thái” (for his profoundly characteristic narrative art with motifs from the life of the Jewish people).


62. Nelly Sachs (1891 - 1970) - Nhà thơ nữ Đức, được trao giải Nobel Văn học “vì lối viết trữ tình và kịch xuất sắc của bà, diễn giải vận mệnh của Israel với sức mạnh lay động lòng người” (for her outstanding lyrical and dramatic writing, which interprets Israel's destiny with touching strength).


63. Năm 1967, Miguel Angel Asturias (1899 – 1974) - Nhà văn, nhà ngoại giao Guatemala, được trao giải Nobel Văn học “vì thành tựu văn học sống động của ông, bắt nguồn sâu sắc từ những nét đặc trưng và truyền thống dân tộc của các dân tộc bản địa Mỹ Latinh” (for his vivid literary achievement, deep-rooted in the national traits and traditions of Indian peoples of Latin America).


64. Năm 1968, Yasunari Kawabata (1899 – 1972) - Tiểu thuyết gia Nhật, được trao giải Nobel Văn học “vì tài năng kể chuyện bậc thầy của ông, thể hiện một cách tinh tế bản chất của tâm hồn người Nhật” (for his narrative mastery, which with great sensibility expresses the essence of the Japanese mind).


65. Năm 1969, Samuel Beckett (1906 – 1989) - Nhà văn, nhà viết kịch, nhà thơ và dịch giả Ireland, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm của ông, mà - dưới những hình thức mới cho tiểu thuyết và kịch - đã đạt đến sự cao cả trong sự khốn cùng của con người hiện đại” (for his writing, which - in new forms for the novel and drama - in the destitution of modern man acquires its elevation).


66. Năm 1970, Aleksandr Solzhenitsyn (1908 - 2008) - Nhà văn Nga, được trao giải Nobel Văn học “vì sức mạnh đạo đức mà ông đã theo đuổi những truyền thống không thể thiếu của văn học Nga” (for the ethical force with which he has pursued the indispensable traditions of Russian literature).


67. Năm 1971, Pablo Neruda (1904 - 1973) - Nhà thơ, chính khách Chile, được trao giải Nobel Văn học “vì thơ ca, với sức mạnh nguyên tố, đã làm sống dậy vận mệnh và ước mơ của một lục địa” (for a poetry that with the action of an elemental force brings alive a continent's destiny and dreams).


68. Năm 1972, Heinrich Böll (1917 – 1985) - Nhà văn Đức, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm của ông, thông qua sự kết hợp giữa góc nhìn rộng lớn về thời đại và kỹ năng tinh tế trong việc khắc họa nhân vật, đã góp phần đổi mới nền văn học Đức” (for his writing which through its combination of a broad perspective on his time and a sensitive skill in characterization has contributed to a renewal of German literature).


69. Năm 1973, Patrick White (1912 – 1990) - Nhà văn Úc, được trao giải Nobel Văn học “vì nghệ thuật tự sự sử thi và tâm lý đã đưa một lục địa mới vào văn học” (for an epic and psychological narrative art which has introduced a new continent into literature).


* Năm 1974 có hai tác giả người Thụy Điển cùng nhận giải Nobel Văn học:

70. Eyvind Johnson (1900 – 1976) - Nhà văn, 1. Eyvind Johnson: được trao giải Nobel Văn học “vì nghệ thuật tự sự, tầm nhìn xa trông rộng về các vùng đất và thời đại, phục vụ cho tự do” (for a narrative art, far-seeing in lands and ages, in the service of freedom).


71. Harry Martinson (1904 – 1978) - Nhà thơ, nhà văn, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm nắm bắt được giọt sương và phản chiếu vũ trụ” (for writings that catch the dewdrop and reflect the cosmos).


72. Năm 1975, Eugenio Montale (1896 - 1981) - Nhà thơ, nhà văn, dịch giả nhà phê bình văn học Italia, được trao giải Nobel Văn học “vì thơ ca đặc sắc của ông, với sự nhạy cảm nghệ thuật tuyệt vời, đã diễn giải các giá trị nhân văn dưới dấu hiệu của một quan điểm sống không có “Ảo tưởng” (for his distinctive poetry which, with great artistic sensitivity, has interpreted human values under the sign of an outlook on life with no illusions).


73. Năm 1976, Saul Bellow (1915 – 2005) - Nhà văn Mỹ, được trao giải Nobel Văn học “vì sự thấu hiểu con người và phân tích tinh tế về văn hóa đương đại được kết hợp trong tác phẩm của ông” (for the human understanding and subtle analysis of contemporary culture that are combined in his work).


74. Năm 1977, Vicente Aleixandre (1898 - 1984) – Nhà thơ Tây Ban Nha, được trao giải Nobel Văn học “vì lối viết thơ sáng tạo làm sáng tỏ thân phận con người trong vũ trụ và trong xã hội hiện đại, đồng thời đại diện cho sự đổi mới vĩ đại của truyền thống thơ ca Tây Ban Nha giữa hai cuộc chiến tranh” (for a creative poetic writing which illuminates man's condition in the cosmos and in present-day society, at the same time representing the great renewal of the traditions of Spanish poetry between the wars).


75. Năm 1978, Isaac Bashevis Singer (1902 – 1991) - Nhà văn Mỹ gốc Do Thái, được trao giải Nobel Văn học “Vì nghệ thuật tự sự đầy nhiệt huyết của ông, bắt nguồn từ truyền thống văn hóa Do Thái-Ba Lan, đã làm sống động những điều kiện phổ quát của con người” (for his impassioned narrative art which, with roots in a Polish-Jewish cultural tradition, brings universal human conditions to life).


76. Năm 1979, Odysseus Elytis (1911 – 1996) - Nhà thơ Hy Lạp, được trao giải Nobel Văn học “Vì thơ ca của ông, trên nền tảng truyền thống Hy Lạp, miêu tả bằng sức mạnh cảm xúc và sự sáng suốt trí tuệ cuộc đấu tranh giành tự do và sáng tạo của con người hiện đại” (for his poetry, which, against the background of Greek tradition, depicts with sensuous strength and intellectual clear-sightedness modern man's struggle for freedom and creativeness).


77. Năm 1980, Czesław Miłosz (1911 - 2004) - Nhà văn, nhà thơ Ba Lan, được trao giải Nobel Văn học vì ông là người “với tầm nhìn sáng suốt không khoan nhượng đã lên tiếng về thân phận dễ bị tổn thương của con người trong một thế giới đầy xung đột gay gắt.” (who with uncompromising clear-sightedness voices man's exposed condition in a world of severe conflicts).


78. Năm 1981, Elias Canetti (1905 – 1994) - Nhà văn Áo, được trao giải Nobel Văn học “vì những tác phẩm được đánh dấu bởi tầm nhìn rộng, sự giàu có về ý tưởng và sức mạnh nghệ thuật.” (for writings marked by a broad outlook, a wealth of ideas and artistic power).


79. Năm 1982, Gabriel García Márquez (1927 – 2014) - Nhà văn, nhà báo nhà hoạt động chính trị Colombia, được trao giải Nobel Văn học “vì những tiểu thuyết và truyện ngắn của ông, trong đó yếu tố kỳ ảo và hiện thực được kết hợp trong một thế giới tưởng tượng phong phú, phản ánh cuộc sống và xung đột của một lục địa.” (for his novels and short stories, in which the fantastic and the realistic are combined in a richly composed world of imagination, reflecting a continent's life and conflicts).


80. Năm 1983, William Golding (1911 – 1993) - Tiểu thuyết gia, nhà viết kịch và nhà thơ Anh, được trao giải Nobel Văn học “vì những tiểu thuyết của ông, với sự sáng suốt của nghệ thuật tự sự hiện thực và sự đa dạng, tính phổ quát của thần thoại, đã soi sáng thân phận con người trong thế giới ngày nay.” (for his novels which, with the perspicuity of realistic narrative art and the diversity and universality of myth, illuminate the human condition in the world of today).


81. Năm 1984, Jaroslav Seifert (1901 - 1986) - Nhà văn, nhà thơ nhà báo Tiệp Khắc, được trao giải Nobel Văn học “vì Thơ của ông, được phú cho sự tươi mới, gợi cảm và giàu tính sáng tạo, mang đến một hình ảnh giải phóng về tinh thần bất khuất và sự đa dạng của con người.” (for his poetry which endowed with freshness, sensuality and rich inventiveness provides a liberating image of the indomitable spirit and versatility of man).


82. Năm 1985, Claude Simon (1913 - 2005) - Nhà văn Pháp, được trao giải Nobel Văn học vì “trong tiểu thuyết của mình đã kết hợp sự sáng tạo của nhà thơ và họa sĩ với nhận thức sâu sắc hơn về thời gian trong việc miêu tả thân phận con người” (who in his novel combines the poet's and the painter's creativeness with a deepened awareness of time in the depiction of the human condition).

 

(Xem tiếp P5)

Không có nhận xét nào: