Cao Hành Kiện - Gao Xingjian, sinh năm 1940 (1) Tiểu thuyết gia, nhà viết kịch, nhà phê bình, đạo diễn phim... người Trung Quốc, được trao giải Nobel Văn học năm 2.000 “vì một tác phẩm có giá trị phổ quát, những hiểu biết cay đắng và sự khéo léo về ngôn ngữ, đã mở ra những con đường mới cho tiểu thuyết và kịch Trung Quốc” (for an novel of universal validity, bitter insights and linguistic ingenuity, which has opened new paths for the Chinese novel and drama).
Gao Xingjian đã trình bày
bài diễn từ trong buổi lễ nhận giải Nobel tại Börssalen, Viện Hàn lâm Thụy Điển
ở Stockholm, ngày 7 tháng 12 năm 2000.
***
Bài phát biểu của ông có tựa “The Case for Literature” - Lý lẽ cho Văn học
Mộc Nhân dịch (2)
Tôi không thể biết liệu đó
có phải là định mệnh đã đưa tôi đến bục diễn thuyết này hay không, nhưng vì nhiều
sự trùng hợp may mắn đã tạo ra cơ hội này, tôi có thể coi đó là định mệnh. Tạm
gác lại việc bàn luận về sự tồn tại hay không tồn tại của Chúa, tôi muốn nói rằng,
mặc dù là người vô thần, tôi luôn thể hiện sự tôn kính đối với những điều không
thể biết.
Một người không thể là Chúa,
chắc chắn không thể thay thế Chúa, và cai trị thế giới như một Siêu nhân; người
đó chỉ thành công trong việc tạo ra nhiều hỗn loạn hơn và làm cho thế giới trở
nên tồi tệ hơn. Trong thế kỷ sau Nietzsche, những thảm họa do con người gây ra
đã để lại những dấu ấn đen tối nhất trong lịch sử nhân loại. Những Siêu nhân
thuộc mọi loại, được gọi là lãnh đạo của nhân dân, người đứng đầu quốc gia và
chỉ huy của chủng tộc, đã không ngần ngại sử dụng nhiều phương tiện bạo lực
khác nhau để gây ra những tội ác không hề giống với những lời lẽ cuồng loạn của
một triết gia rất tự cao tự đại. Tuy nhiên, tôi không muốn lãng phí bài nói
chuyện này về văn học bằng cách nói quá nhiều về chính trị và lịch sử, điều tôi
muốn làm là sử dụng cơ hội này để nói với tư cách là một nhà văn, bằng giọng
nói của một cá nhân.
Nhà văn là người
bình thường, có lẽ họ nhạy cảm hơn, nhưng những người quá nhạy cảm thường dễ bị
tổn thương hơn. Nhà văn không nói với tư cách người phát ngôn của nhân dân hay
hiện thân của lẽ phải. Giọng văn của họ chắc chắn yếu ớt, nhưng chính giọng văn
cá nhân ấy mới chân thực hơn.
Điều tôi muốn nói ở đây là
văn học chỉ có thể là tiếng nói của cá nhân, và điều này luôn luôn đúng. Một
khi văn học bị biến tướng thành bài ca của quốc gia, lá cờ của dân tộc, tiếng
nói của một đảng phái chính trị hay tiếng nói của một giai cấp hoặc một nhóm
người, nó có thể được sử dụng như một công cụ tuyên truyền mạnh mẽ và bao trùm
mọi thứ. Tuy nhiên, loại văn học như vậy sẽ đánh mất bản chất vốn có của văn học,
không còn là văn học nữa, mà trở thành sự thay thế cho quyền lực và lợi nhuận.
Trong thế kỷ vừa qua, văn học
đã phải đối mặt với chính bất hạnh này và bị chính trị và quyền lực làm tổn
thương sâu sắc hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây, và nhà văn cũng phải chịu đựng
sự áp bức chưa từng có.
Để văn học bảo vệ lý do tồn
tại của chính nó và không trở thành công cụ chính trị, nó phải quay trở lại tiếng
nói của cá nhân, bởi vì văn học chủ yếu bắt nguồn từ cảm xúc của cá nhân và là
kết quả của cảm xúc. Điều này không có nghĩa là văn học phải tách rời khỏi
chính trị hoặc nhất thiết phải tham gia vào chính trị. Những tranh cãi về xu hướng
văn học hay khuynh hướng chính trị của nhà văn là những tai họa nghiêm trọng đã
giày vò văn học trong thế kỷ trước. Hệ tư tưởng đã gây ra sự tàn phá bằng cách
biến những tranh cãi liên quan đến truyền thống và cải cách thành những tranh
cãi về cái gì là bảo thủ hay cách mạng, và do đó biến các vấn đề văn học thành
cuộc đấu tranh về cái gì là tiến bộ hay phản động. Nếu hệ tư tưởng kết hợp với
quyền lực và biến thành một thế lực thực sự thì cả văn học và cá nhân sẽ bị hủy
diệt.
Văn học Trung Quốc trong thế
kỷ XX hết lần này đến lần khác bị bào mòn và gần như nghẹt thở bởi vì chính trị
chi phối văn học: cả cuộc cách mạng trong văn học và văn học cách mạng đều
tuyên án tử hình đối với văn học và cá nhân. Cuộc tấn công vào văn hóa truyền
thống Trung Quốc nhân danh cách mạng đã dẫn đến việc cấm đoán và đốt sách công
khai. Trong suốt một trăm năm qua, vô số nhà văn đã bị bắn, bỏ tù, lưu đày hoặc
bị trừng phạt bằng lao động khổ sai. Điều này còn khắc nghiệt hơn bất kỳ thời kỳ
đế chế nào trong lịch sử Trung Quốc, tạo ra những khó khăn to lớn cho việc viết
văn bằng tiếng Trung và càng khó khăn hơn nữa cho bất kỳ cuộc thảo luận nào về
tự do sáng tạo.
Nếu nhà văn muốn giành được
tự do tư tưởng, lựa chọn duy nhất là im lặng hoặc bỏ trốn. Tuy nhiên, nhà văn dựa
vào ngôn ngữ và việc không lên tiếng trong một thời gian dài cũng giống như tự
sát. Nhà văn muốn tránh tự sát hoặc bịt miệng, và hơn nữa muốn bày tỏ tiếng nói
của mình, không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đi lưu vong. Nhìn vào lịch sử
văn học phương Đông và phương Tây, điều này luôn đúng: từ Khuất Nguyên đến
Dante, Joyce, Thomas Mann, Solzhenitsyn, và đến rất nhiều trí thức Trung Quốc
đã đi lưu vong sau vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989. Đây là số phận không thể
tránh khỏi của người viết và họ tiếp tục tìm cách bảo tồn tiếng nói của chính
mình.
Trong những năm Mao Trạch
Đông thực thi chế độ độc tài toàn trị, ngay cả việc bỏ trốn cũng không phải là
một lựa chọn. Các tu viện trên những ngọn núi xa xôi từng là nơi ẩn náu của các
học giả thời phong kiến đã bị tàn phá hoàn toàn, và việc viết lách ngay cả
trong bí mật cũng là mạo hiểm tính mạng. Để duy trì sự tự chủ về tư tưởng, người
ta chỉ có thể tự nói chuyện với chính mình, và điều đó phải được thực hiện
trong bí mật tuyệt đối. Tôi cần phải nói thêm rằng chỉ trong giai đoạn mà văn học
gần như không thể tồn tại, tôi mới hiểu tại sao nó lại quan trọng đến vậy: văn
học cho phép con người giữ gìn ý thức nhân sinh.
Có thể nói rằng việc tự nói
chuyện với chính mình là điểm khởi đầu của văn học, và việc sử dụng ngôn ngữ để
giao tiếp chỉ là thứ yếu. Một người trút hết cảm xúc và suy nghĩ của mình vào
ngôn ngữ, và khi được viết thành chữ, ngôn ngữ đó trở thành văn học. Vào thời
điểm đó, người ta không nghĩ đến tính hữu dụng hay việc tác phẩm có thể được xuất
bản vào một ngày nào đó, nhưng vẫn có sự thôi thúc phải viết bởi vì có sự đền
đáp và an ủi trong niềm vui khi viết. Tôi bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết
"Linh Sơn" để xua tan nỗi cô đơn trong lòng mình đúng vào thời điểm
những tác phẩm tôi viết với sự tự kiểm duyệt nghiêm ngặt bị cấm. "Linh Sơn"
được viết cho chính bản thân tôi mà không hề hy vọng nó sẽ được xuất bản.
Từ kinh nghiệm viết lách của
mình, tôi có thể nói rằng văn học vốn dĩ là sự khẳng định giá trị bản thân của
con người, và điều này được chứng thực trong quá trình sáng tác; văn học ra đời
chủ yếu từ nhu cầu tự hoàn thiện của người viết. Liệu một tác phẩm có ảnh hưởng
đến xã hội hay không chỉ được xác định sau khi tác phẩm hoàn thành, và ảnh hưởng
đó chắc chắn không phụ thuộc vào ý muốn của tác giả.
Trong lịch sử văn học, có rất
nhiều tác phẩm vĩ đại trường tồn mà không được xuất bản khi các tác giả còn sống.
Nếu các tác giả không tìm thấy sự tự khẳng định trong quá trình sáng tác, làm
sao họ có thể tiếp tục viết? Như trường hợp của Shakespeare, ngay cả bây giờ,
việc xác định chi tiết cuộc đời của bốn thiên tài đã viết nên những tiểu thuyết
vĩ đại nhất của Trung Quốc: Tây Du Ký, Thủy Hử, Kim Bình Mai và Hồng Lâu Mộng vẫn
rất khó khăn. Tất cả những gì còn lại chỉ là một bài luận tự truyện của Thạch
Nam An, và nếu như ông không tự an ủi mình bằng cách viết như lời ông nói, thì
làm sao ông có thể dành cả đời mình cho công trình đồ sộ mà ông không nhận được
bất kỳ sự đền đáp nào khi còn sống? Và chẳng phải trường hợp của Kafka, người
tiên phong của tiểu thuyết hiện đại, và của Fernando
Pessoa, nhà thơ sâu sắc nhất của thế kỷ XX cũng vậy sao? Việc họ hướng đến
ngôn ngữ không phải để cải cách thế giới, và dù nhận thức sâu sắc về sự bất lực
của cá nhân, họ vẫn lên tiếng, bởi đó chính là phép màu của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là sự kết
tinh tối thượng của nền văn minh nhân loại. Nó phức tạp, sắc bén và khó nắm bắt,
nhưng lại lan tỏa, thâm nhập vào nhận thức của con người và liên kết con người,
chủ thể nhận thức, với sự hiểu biết của chính họ về thế giới. Chữ viết cũng kỳ
diệu vì nó cho phép giao tiếp giữa các cá nhân riêng biệt, ngay cả khi họ thuộc
các chủng tộc và thời đại khác nhau. Cũng bằng cách này, thời điểm hiện tại được
chia sẻ trong việc viết và đọc văn học được kết nối với giá trị tinh thần vĩnh
cửu của nó.
Theo quan điểm của tôi, việc
một nhà văn đương đại cố gắng nhấn mạnh văn hóa dân tộc là điều khó khăn. Bởi
vì nơi tôi sinh ra và ngôn ngữ tôi sử dụng, các truyền thống văn hóa của Trung
Quốc tự nhiên nằm trong tôi. Văn hóa và ngôn ngữ luôn có mối liên hệ mật thiết
và do đó, các phương thức nhận thức, tư duy và diễn đạt đặc trưng và tương đối ổn
định được hình thành. Tuy nhiên, sự sáng tạo của một
nhà văn bắt đầu chính xác từ những gì đã được diễn đạt bằng ngôn ngữ của anh ta
và giải quyết những gì chưa được diễn đạt đầy đủ bằng ngôn ngữ đó. Là
người sáng tạo nghệ thuật ngôn ngữ, không cần thiết phải tự gán cho mình một
nhãn hiệu quốc gia dễ nhận biết.
Văn học vượt qua
biên giới quốc gia — thông qua các bản dịch, nó vượt qua ngôn ngữ và cả những
phong tục tập quán cụ thể cũng như các mối quan hệ giữa người với người được tạo
ra bởi vị trí địa lý và lịch sử — để mang đến những khám phá sâu sắc về tính phổ
quát của bản chất con người. Hơn nữa, nhà văn ngày nay tiếp nhận những ảnh hưởng
đa văn hóa từ bên ngoài nền văn hóa của dân tộc mình, vì vậy, trừ khi nhằm mục
đích quảng bá du lịch, việc nhấn mạnh các đặc điểm văn hóa của một dân tộc nào
đó chắc chắn sẽ gây nghi ngờ.
Văn học vượt lên trên hệ tư
tưởng, biên giới quốc gia và ý thức chủng tộc, cũng giống như sự tồn tại của cá
nhân về cơ bản vượt lên trên mọi chủ nghĩa. Điều này là bởi vì điều kiện tồn tại
của con người vượt trội hơn bất kỳ lý thuyết hay suy đoán nào về cuộc sống. Văn
học là một sự quan sát phổ quát về những vấn đề nan giải của sự tồn tại con người
và không có gì là cấm kỵ. Những hạn chế đối với văn học luôn được áp đặt từ bên
ngoài: chính trị, xã hội, đạo đức và phong tục tập quán đều cố gắng biến văn học
thành những vật trang trí cho các khuôn khổ khác nhau của chúng.
Tuy nhiên, văn học không phải
là một vật tô điểm cho quyền lực hay một món đồ thời thượng trong xã hội, nó có
tiêu chí đánh giá riêng: chất lượng thẩm mỹ. Một thẩm mỹ gắn liền mật thiết với
cảm xúc của con người là tiêu chí không thể thiếu duy nhất đối với các tác phẩm
văn học. Thật vậy, những đánh giá như vậy khác nhau ở mỗi người bởi vì cảm xúc
luôn là của những cá nhân khác nhau. Tuy nhiên, những đánh giá thẩm mỹ chủ quan
như vậy vẫn có những tiêu chuẩn được công nhận trên toàn cầu. Khả năng cảm thụ
phê bình được nuôi dưỡng bởi văn học cho phép người đọc cũng trải nghiệm được cảm
giác thi ca và vẻ đẹp, sự cao cả và lố bịch, nỗi buồn và sự phi lý, sự hài hước
và sự châm biếm mà tác giả đã đưa vào tác phẩm của mình.
Cảm xúc thi ca không chỉ đơn
thuần bắt nguồn từ việc biểu lộ cảm xúc; tuy nhiên, sự tự cao tự đại, một dạng ấu
trĩ, rất khó tránh khỏi trong giai đoạn đầu của sự nghiệp viết văn. Hơn nữa, có
rất nhiều tầng bậc biểu lộ cảm xúc và để đạt đến những tầng bậc cao hơn đòi hỏi
sự lạnh lùng, vô cảm. Thơ ca ẩn chứa trong cái nhìn xa cách. Thêm vào đó, nếu
cái nhìn này cũng xem xét cả con người của tác giả và bao quát cả các nhân vật
trong cuốn sách lẫn chính tác giả để trở thành con mắt thứ ba của tác giả, một
con mắt càng trung lập càng tốt, thì những thảm họa và cặn bã của thế giới loài
người đều đáng được xem xét kỹ lưỡng. Khi đó, cùng với cảm giác đau đớn, căm hận
và ghê tởm, thì cảm giác quan tâm và yêu thương cuộc sống cũng trỗi dậy.
Một thẩm mỹ dựa
trên cảm xúc con người không bao giờ lỗi thời ngay cả khi các xu hướng trong
văn học và nghệ thuật thay đổi liên tục (An aesthetic based on human emotions
does not become outdated even with the perennial changing of fashions in
literature and in art). Tuy nhiên, những đánh giá văn học thay đổi như thời trang lại dựa trên
cái mới nhất: nghĩa là, cái gì mới thì đều tốt (Tuy nhiên, những đánh giá văn học
thay đổi theo xu hướng thời trang lại dựa trên quan điểm cho rằng cái gì mới mẻ
thì đều tốt). Đây là cơ chế trong các biến động thị trường nói chung và thị trường
sách cũng không ngoại lệ, nhưng nếu phán đoán thẩm mỹ của nhà văn tuân theo các
biến động thị trường thì đó sẽ là sự tự hủy diệt của văn học. Đặc biệt trong
cái gọi là xã hội tiêu dùng hiện nay, tôi nghĩ người ta phải quay trở lại với
văn chương lạnh lùng.
Mười năm trước, sau khi hoàn
thành cuốn "Linh Sơn" mà tôi đã viết trong hơn bảy năm, tôi đã viết một
bài luận ngắn đề xuất loại hình văn học này: "Văn học không liên quan đến
chính trị mà hoàn toàn là vấn đề của cá nhân. Nó là sự thỏa mãn trí tuệ cùng với
sự quan sát, sự xem xét lại những gì đã trải nghiệm, những hồi ức và cảm xúc hoặc
sự miêu tả một trạng thái tâm trí."
“Cái gọi là nhà văn chẳng
hơn gì người nói hay người viết, và việc người ta có lắng nghe hay đọc tác phẩm
của họ là do người khác lựa chọn. Nhà văn không phải là anh hùng hành động theo
lệnh của nhân dân, cũng không đáng được tôn thờ như một thần tượng, và chắc chắn
không phải là tội phạm hay kẻ thù của nhân dân. Đôi khi, nhà văn cùng với tác
phẩm của mình bị lợi dụng chỉ vì nhu cầu của người khác. Khi chính quyền cần tạo
ra một vài kẻ thù để đánh lạc hướng sự chú ý của người dân, các nhà văn trở
thành vật tế thần, và tệ hơn nữa, những nhà văn bị lừa gạt lại nghĩ rằng việc bị
hy sinh là một vinh dự lớn.”
“Thực tế, mối quan
hệ giữa tác giả và người đọc luôn là mối quan hệ giao tiếp tinh thần, không cần
gặp gỡ hay tương tác xã hội, đó chỉ đơn giản là sự giao tiếp thông qua tác phẩm.
Văn học vẫn là một hình thức hoạt động không thể thiếu của con người, trong đó
cả người đọc và người viết đều tham gia một cách tự nguyện. Do đó, văn học không có
nghĩa vụ đối với quần chúng.”
“Loại văn học đã khôi phục lại
bản chất vốn có của nó có thể được gọi là văn học lạnh lùng. Nó tồn tại đơn giản
bởi vì nhân loại tìm kiếm một hoạt động thuần túy tinh thần vượt lên trên sự thỏa
mãn những ham muốn vật chất. Loại văn học này dĩ nhiên không xuất hiện ngày
nay. Tuy nhiên, trong khi trước đây nó chủ yếu phải đấu tranh chống lại các thế
lực chính trị áp bức và các phong tục xã hội, thì ngày nay nó phải chiến đấu với
các giá trị thương mại mang tính lật đổ của xã hội tiêu dùng. Để nó tồn tại, cần
phải có sự sẵn lòng chịu đựng nỗi cô đơn.”
“Nếu một nhà văn dốc hết tâm
huyết vào loại hình văn học này, anh ta sẽ khó mà kiếm sống được. Do đó, việc
viết loại văn học này phải được coi là một thứ xa xỉ, một hình thức thỏa mãn
tinh thần thuần túy. Nếu loại văn học này may mắn được xuất bản và lưu hành, đó
là nhờ nỗ lực của nhà văn và bạn bè của anh ta, Tào Xuân Ân và Kafka là những
ví dụ điển hình. Trong suốt cuộc đời của họ, tác phẩm của họ không được xuất bản,
vì vậy họ không thể tạo ra các phong trào văn học hay trở thành người nổi tiếng.
Những nhà văn này sống bên lề và rìa xã hội, cống hiến hết mình cho loại hình
hoạt động tinh thần này mà vào thời điểm đó họ không mong đợi bất kỳ sự đền đáp
nào. Họ không tìm kiếm sự chấp thuận của xã hội mà chỉ đơn giản là tìm thấy niềm
vui trong việc viết lách.”
“Văn học lạnh lùng là văn học
sẽ chạy trốn để tồn tại, đó là văn học từ chối bị xã hội bóp nghẹt trong hành
trình tìm kiếm sự cứu rỗi tinh thần. Nếu một chủng tộc không thể dung nạp loại
văn học phi thực dụng này, đó không chỉ là một bất hạnh đối với nhà văn mà còn
là một bi kịch đối với chủng tộc đó.”
Tôi vô cùng may mắn khi được
nhận vinh dự lớn lao này từ Viện Hàn lâm Thụy Điển trong suốt cuộc đời mình, và
trong việc này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều bạn bè trên khắp thế
giới. Nhiều năm qua, họ không màng đến phần thưởng và không hề né tránh khó
khăn, đã dịch, xuất bản, trình diễn và đánh giá các tác phẩm của tôi. Tuy
nhiên, tôi sẽ không cảm ơn từng người một vì danh sách tên rất dài.
Tôi cũng muốn cảm ơn nước
Pháp vì đã đón nhận tôi. Ở Pháp, nơi văn học và nghệ thuật được tôn kính, tôi
đã có được điều kiện để viết một cách tự do và tôi cũng có độc giả và khán giả.
May mắn thay, tôi không cô đơn mặc dù viết lách, công việc mà tôi đã dốc sức
theo đuổi, là một việc đơn độc.
Tôi cũng muốn nói rằng cuộc
sống không phải là một lễ hội và phần còn lại của thế giới không hòa bình như ở
Thụy Điển, nơi đã không có chiến tranh trong suốt một trăm tám mươi năm. Thế kỷ
mới này sẽ không tránh khỏi những thảm họa đơn giản vì đã có quá nhiều trong thế
kỷ trước, bởi vì ký ức không được truyền lại như gen. Con người có trí óc nhưng
không đủ thông minh để học hỏi từ quá khứ, và khi lòng thù hận bùng phát trong
tâm trí con người, nó có thể đe dọa đến sự sống còn của chính nhân loại.
Loài người không nhất thiết
phải tiến bộ theo từng giai đoạn, và ở đây tôi muốn đề cập đến lịch sử văn minh
nhân loại. Lịch sử và văn minh không cùng phát triển. Từ sự trì trệ của châu Âu
thời Trung cổ đến sự suy tàn và hỗn loạn trong thời gian gần đây ở lục địa châu
Á và đến những thảm họa của hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX, các
phương pháp giết người ngày càng trở nên tinh vi. Tiến bộ khoa học và công nghệ
chắc chắn không đồng nghĩa với việc nhân loại trở nên văn minh hơn.
Việc sử dụng một số chủ
nghĩa khoa học để giải thích lịch sử hoặc diễn giải nó bằng một quan điểm lịch
sử dựa trên phép biện chứng giả tạo đã không thể làm sáng tỏ hành vi của con
người. Giờ đây, khi sự nhiệt huyết không tưởng và cuộc cách mạng liên tục của
thế kỷ trước đã tan thành mây khói, không thể tránh khỏi cảm giác cay đắng
trong số những người còn sống sót.
Việc phủ nhận một điều phủ
nhận không nhất thiết dẫn đến một sự khẳng định. Cách mạng không chỉ mang lại
những điều mới mẻ bởi vì thế giới không tưởng mới được xây dựng trên cơ sở sự hủy
diệt của cái cũ. Lý thuyết về cuộc cách mạng xã hội này cũng được áp dụng tương
tự vào văn học, biến lĩnh vực sáng tạo một thời thành chiến trường nơi những
người đi trước bị lật đổ và các truyền thống văn hóa bị chà đạp. Mọi thứ phải bắt
đầu lại từ đầu, hiện đại hóa là điều tốt, và lịch sử văn học cũng được hiểu như
một cuộc biến động không ngừng.
Nhà văn không thể đóng vai
trò của Đấng Sáng Tạo nên không cần thiết phải thổi phồng cái tôi của mình bằng
cách nghĩ rằng mình là Thượng Đế. Điều này không chỉ dẫn đến rối loạn tâm lý và
biến anh ta thành kẻ điên mà còn biến thế giới thành một ảo giác, trong đó mọi
thứ bên ngoài cơ thể anh ta đều là địa ngục và đương nhiên anh ta không thể tiếp
tục sống. Những người khác rõ ràng là địa ngục: có lẽ đó là khi bản ngã mất kiểm
soát. Không cần phải nói, anh ta sẽ biến mình thành vật hi sinh cho tương lai
và cũng yêu cầu những người khác làm theo bằng cách hi sinh bản thân.
Không cần phải vội vàng hoàn
thành lịch sử thế kỷ XX. Nếu thế giới lại chìm vào đống đổ nát của một khuôn khổ
ý thức hệ nào đó, lịch sử này sẽ được viết ra một cách vô ích và sau này mọi
người sẽ tự sửa đổi nó.
Nhà văn cũng không
phải là nhà tiên tri. Điều quan trọng là sống trong hiện tại, ngừng bị lừa dối,
rũ bỏ ảo tưởng, nhìn rõ khoảnh khắc hiện tại và đồng thời soi xét bản thân. Bản
thân ta cũng là một mớ hỗn độn và trong khi đặt câu hỏi về thế giới và người
khác, người ta cũng nên nhìn lại chính mình. Tai họa và áp bức thường đến từ người khác, nhưng sự
hèn nhát và lo lắng của con người thường làm trầm trọng thêm nỗi đau khổ và hơn
nữa tạo ra bất hạnh cho người khác.
Đó là bản chất khó hiểu của
hành vi con người, và kiến thức của con người về chính mình thậm chí còn khó
nắm bắt hơn. Văn học đơn giản là con người tập trung ánh nhìn vào chính mình và
trong khi làm như vậy, một sợi dây ý thức soi sáng bản thân bắt đầu phát triển.
Mục đích của văn học không
phải là lật đổ, giá trị của nó nằm ở việc khám phá và tiết lộ những điều hiếm
khi được biết đến, ít được biết đến, được cho là đã biết nhưng thực tế lại
không được biết đến nhiều về sự thật của thế giới loài người. Có vẻ như sự thật
là phẩm chất bất khả xâm phạm và cơ bản nhất của văn học.
Thế kỷ mới đã đến rồi. Tôi sẽ
không bận tâm đến việc liệu điều đó có thực sự mới mẻ hay không, nhưng dường
như cuộc cách mạng trong văn học, văn học cách mạng, và thậm chí cả hệ tư tưởng,
có lẽ đã đi đến hồi kết. Ảo tưởng về một xã hội lý tưởng đã bao trùm hơn một thế
kỷ đã tan biến, và khi văn học rũ bỏ xiềng xích của chủ nghĩa này nọ, nó vẫn phải
quay trở lại với những vấn đề nan giải của sự tồn tại con người. Tuy nhiên, những
vấn đề nan giải của sự tồn tại con người hầu như không thay đổi và sẽ tiếp tục
là chủ đề muôn thuở của văn học.
Đây là thời đại không có lời
tiên tri và lời hứa hẹn, và tôi nghĩ đó là điều tốt. Vai trò của nhà văn vừa là
nhà tiên tri vừa là người phán xét cũng nên chấm dứt, vì nhiều lời tiên tri của
thế kỷ trước đều đã trở thành trò lừa bịp. Và không cần thiết phải tạo ra những
mê tín mới về tương lai, tốt hơn hết là nên chờ đợi và quan sát. Tốt nhất là nhà
văn nên trở lại vai trò người chứng kiến và nỗ lực trình bày sự thật.
Điều này không có nghĩa là
văn học giống như văn bản. Thực tế, có rất ít sự thật trong các tài liệu ghi
chép và lý do cũng như động cơ đằng sau các sự kiện thường bị che giấu. Tuy nhiên,
khi văn học đề cập đến sự thật, toàn bộ quá trình từ tâm trí của một người đến
sự kiện có thể được phơi bày mà không bỏ sót bất cứ điều gì. Sức mạnh này vốn
có trong văn học miễn là nhà văn hướng đến việc miêu tả hoàn cảnh thực tế của sự
tồn tại của con người chứ không chỉ là bịa đặt những điều vô nghĩa.
Chính sự thấu hiểu của nhà
văn trong việc nắm bắt sự thật quyết định chất lượng của một tác phẩm, và các
trò chơi chữ hay kỹ thuật viết không thể thay thế được điều đó. Thật vậy, có rất
nhiều định nghĩa về sự thật và cách thức xử lý nó khác nhau tùy người, nhưng chỉ
cần nhìn thoáng qua cũng có thể thấy liệu một nhà văn đang tô điểm các hiện tượng
của con người hay đang miêu tả một cách đầy đủ và trung thực. Phê bình văn học
của một hệ tư tưởng nhất định đã biến sự thật và sự giả dối thành phân tích ngữ
nghĩa, nhưng những nguyên tắc và giáo điều như vậy ít liên quan đến sáng tạo
văn học.
Tuy nhiên, việc nhà văn có đối
mặt với sự thật hay không không chỉ là vấn đề về phương pháp sáng tạo, mà còn
liên quan mật thiết đến thái độ của họ đối với việc viết lách. Sự thật được tìm
thấy khi người viết cầm bút lên, đồng thời cũng thể hiện sự chân thành ngay cả
khi người viết đã đặt bút xuống. Ở đây, sự thật không chỉ đơn thuần là sự đánh
giá văn học mà còn mang ý nghĩa đạo đức. Nhiệm vụ của nhà văn không phải là rao
giảng đạo đức, và trong khi cố gắng khắc họa nhiều con người trên thế giới, họ
cũng không ngần ngại phơi bày chính bản thân mình, thậm chí cả những bí mật thầm
kín nhất. Đối với nhà văn, sự thật trong văn học gần gũi với đạo đức, đó chính
là đạo đức tối thượng của văn học.
Trong tay một nhà văn có
thái độ nghiêm túc với nghề viết, ngay cả những tác phẩm hư cấu cũng dựa trên
việc khắc họa sự thật về cuộc sống con người, và đây chính là sức sống mãnh liệt
của những tác phẩm đã trường tồn từ thời cổ đại đến nay. Chính vì lý do này mà
bi kịch Hy Lạp và Shakespeare sẽ không bao giờ lỗi thời.
Văn học không chỉ đơn thuần
là bản sao của hiện thực mà còn xuyên thấu những lớp bề mặt và đi sâu vào những
hoạt động bên trong của hiện thực; nó loại bỏ những ảo tưởng sai lầm, nhìn xuống
những sự việc bình thường từ trên cao, và với một góc nhìn rộng lớn, nó hé lộ
toàn bộ sự việc.
Dĩ nhiên, văn học
cũng dựa vào trí tưởng tượng, nhưng cuộc hành trình trong tâm trí này không chỉ
đơn thuần là việc ghép nối một đống thứ vô nghĩa. Trí tưởng tượng tách rời khỏi
cảm xúc chân thực và những hư cấu tách rời khỏi nền tảng kinh nghiệm sống chỉ
có thể trở nên nhạt nhẽo và yếu đuối, và những tác phẩm không thuyết phục được
chính tác giả sẽ không thể lay động độc giả. Thật vậy, văn học không chỉ dựa vào kinh nghiệm sống
thường nhật, và người viết cũng không bị ràng buộc bởi những gì mình đã trải
nghiệm cá nhân. Những điều nghe và thấy thông qua ngôn ngữ, và những điều được
kể lại trong các tác phẩm văn học của các nhà văn đi trước, đều có thể được
chuyển hóa thành cảm xúc của chính mình. Đó cũng chính là điều kỳ diệu của ngôn
ngữ văn học.
Giống như một lời nguyền rủa
hay một lời chúc phúc, ngôn ngữ có sức mạnh khuấy động cả thể xác lẫn tâm trí.
Nghệ thuật ngôn ngữ nằm ở chỗ người trình bày có thể truyền đạt cảm xúc của
mình cho người khác, nó không phải là một hệ thống ký hiệu hay cấu trúc ngữ
nghĩa chỉ cần cấu trúc ngữ pháp. Nếu con người sống động đằng sau ngôn ngữ bị
lãng quên, những diễn giải ngữ nghĩa dễ dàng biến thành trò chơi trí tuệ.
Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần
là các khái niệm và phương tiện truyền tải các khái niệm, nó đồng thời kích hoạt
cảm xúc và các giác quan, và đó là lý do tại sao các dấu hiệu và tín hiệu không
thể thay thế ngôn ngữ của con người sống. Ý chí, động cơ, giọng điệu và cảm xúc
đằng sau những gì ai đó nói không thể được diễn đạt đầy đủ chỉ bằng ngữ nghĩa
và tu từ học. Ý nghĩa hàm chứa của ngôn ngữ văn học phải được cất lên, được nói
ra bởi những con người sống, để được thể hiện đầy đủ. Vì vậy, bên cạnh việc
đóng vai trò là phương tiện truyền tải tư tưởng, văn học cũng phải tác động đến
các giác quan thính giác. Nhu cầu ngôn ngữ của con người không chỉ đơn thuần là
để truyền đạt ý nghĩa, mà đồng thời còn là để lắng nghe và khẳng định sự tồn tại
của một người.
Mượn lời Descartes, có thể
nói về nhà văn: Tôi nói và do đó tôi tồn tại. Tuy nhiên, cái tôi của nhà văn có
thể là chính nhà văn, có thể được đồng nhất với người kể chuyện, hoặc trở thành
các nhân vật trong tác phẩm. Vì chủ thể người kể chuyện cũng có thể là anh ấy
và bạn, nên nó mang tính ba chiều. Việc xác định đại từ nhân xưng chủ đạo là điểm
khởi đầu để miêu tả nhận thức và từ đó các mô hình tự sự khác nhau được hình
thành. Chính trong quá trình tìm kiếm phương pháp tự sự của riêng mình mà nhà
văn cụ thể hóa nhận thức của mình.
Trong tác phẩm hư cấu của
tôi, tôi sử dụng đại từ thay vì các nhân vật thông thường và cũng sử dụng các đại
từ tôi, bạn và anh ấy để kể về hoặc tập trung vào nhân vật chính. Việc miêu tả
một nhân vật bằng cách sử dụng các đại từ khác nhau tạo ra cảm giác về khoảng
cách. Vì điều này cũng cung cấp cho các diễn viên trên sân khấu một không gian
tâm lý rộng hơn, tôi cũng đã đưa việc thay đổi đại từ vào kịch của mình.
Việc viết tiểu thuyết hay kịch
chưa và sẽ không bao giờ kết thúc và không có cơ sở nào cho những tuyên bố hời
hợt về sự diệt vong của một số thể loại văn học hay nghệ thuật nhất định.
Sinh ra từ buổi bình minh của
nền văn minh nhân loại, giống như sự sống, ngôn ngữ chứa đầy những điều kỳ diệu
và khả năng biểu đạt vô hạn. Nhiệm vụ của nhà văn là khám phá và phát triển tiềm
năng tiềm ẩn trong ngôn ngữ. Nhà văn không phải là Đấng Tạo Hóa và anh ta không
thể xóa sổ thế giới ngay cả khi nó quá cổ xưa. Anh ta cũng không thể thiết lập
một thế giới lý tưởng mới ngay cả khi thế giới hiện tại phi lý và vượt quá khả
năng hiểu biết của con người. Tuy nhiên, anh ta chắc chắn có thể đưa ra những
tuyên bố mang tính đột phá bằng cách bổ sung vào những gì người đi trước đã nói
hoặc bắt đầu từ nơi người đi trước đã dừng lại.
Việc lật đổ văn học là luận
điệu của Cách mạng Văn hóa. Văn học không chết và các nhà văn không bị tiêu diệt.
Mỗi nhà văn đều có vị trí của mình trên giá sách và họ
vẫn sống chừng nào còn có độc giả (Every writer has his place on the bookshelf
and he has life as long as he has readers). Không có niềm an ủi nào lớn
hơn đối với một nhà văn hơn là có thể để lại một cuốn sách trong kho tàng văn học
rộng lớn của nhân loại, cuốn sách sẽ tiếp tục được đọc trong tương lai.
Văn học chỉ được hiện thực
hóa và có giá trị vào thời điểm nhà văn viết ra và độc giả đọc nó. Trừ khi đó
là sự giả vờ, việc viết cho tương lai chỉ làm lừa dối chính mình và cả người
khác. Văn học dành cho người sống và hơn nữa, khẳng định sự hiện diện của người
sống. Chính sự hiện diện vĩnh hằng này và sự khẳng định cuộc sống cá nhân là lý
do tuyệt đối tại sao văn học lại là văn học, nếu người ta cứ khăng khăng tìm kiếm
lý do cho điều vĩ đại tồn tại một cách tự nhiên này.
Khi viết lách không còn là kế
sinh nhai hoặc khi người ta quá say mê viết đến nỗi quên mất lý do viết và viết
cho ai, nó trở thành một nhu cầu và người ta sẽ viết một cách cưỡng bức và sinh
ra văn học. Chính khía cạnh phi thực dụng này của văn học là nền tảng của văn học.
Việc viết văn trở thành một nghề nghiệp là một hệ quả xấu xí của sự phân công
lao động trong xã hội hiện đại và là một trái đắng đối với nhà văn.
Điều này đặc biệt đúng trong
thời đại hiện nay, khi nền kinh tế thị trường đã trở nên phổ biến và sách cũng
trở thành hàng hóa. Khắp nơi đều có những thị trường khổng lồ không phân biệt
và không chỉ các nhà văn cá nhân mà ngay cả các hội và phong trào của các trường
phái văn học trước đây cũng đã biến mất. Nếu nhà văn không khuất phục trước áp
lực thị trường và từ chối hạ mình sản xuất các sản phẩm văn hóa bằng cách viết
để thỏa mãn thị hiếu và xu hướng thời thượng, anh ta phải kiếm sống bằng cách
khác. Văn học không phải là một cuốn sách bán chạy nhất
hay một cuốn sách nằm trong danh sách xếp hạng, và các tác giả được quảng bá
trên truyền hình đang tham gia vào việc quảng cáo hơn là viết văn. Tự do
trong viết văn không được ban tặng và không thể mua được, mà đến từ nhu cầu nội
tâm của chính nhà văn.
Thay vì nói rằng Phật ở
trong trái tim, sẽ tốt hơn nếu nói rằng tự do ở trong trái tim và nó chỉ phụ
thuộc vào việc người ta có sử dụng nó hay không. Nếu người ta đánh đổi tự do lấy
thứ khác, thì con chim tượng trưng cho tự do sẽ bay đi, vì đó là cái giá của tự
do.
Nhà văn viết những gì anh ta
muốn mà không quan tâm đến thù lao, không chỉ để khẳng định bản thân mà còn để
thách thức xã hội. Sự thách thức này không phải là giả tạo, và nhà văn không cần
phải thổi phồng cái tôi của mình bằng cách trở thành anh hùng hay chiến binh.
Anh hùng và chiến binh đấu tranh để đạt được một thành tựu vĩ đại nào đó hoặc
thiết lập một việc làm đáng khen ngợi nào đó, và những điều này nằm ngoài phạm
vi của các tác phẩm văn học. Nếu nhà văn muốn thách thức xã hội, họ phải làm điều
đó thông qua ngôn ngữ và dựa vào các nhân vật và tình tiết trong tác phẩm của
mình, nếu không họ chỉ có thể làm hại văn học. Văn học không phải là tiếng la
hét giận dữ và hơn nữa không thể biến sự phẫn nộ của cá nhân thành lời buộc tội.
Chỉ khi cảm xúc của nhà văn với tư cách cá nhân được thể hiện trọn vẹn trong
tác phẩm, thì cảm xúc đó mới có thể vượt qua sự tàn phá của thời gian và tồn tại
lâu dài.
Do đó, thực chất đây không
phải là thách thức của nhà văn đối với xã hội mà là thách thức của chính tác phẩm
của ông. Một tác phẩm trường tồn dĩ nhiên là một phản ứng mạnh mẽ đối với thời
đại và xã hội của nhà văn. Tiếng nói và hành động của nhà văn có thể đã biến mất,
nhưng chừng nào còn độc giả, tiếng nói của ông trong các tác phẩm vẫn tiếp tục
vang vọng.
Thật vậy, một thách thức như
vậy không thể biến đổi xã hội. Nó chỉ đơn thuần là một cá nhân khao khát vượt
qua những giới hạn của hệ sinh thái xã hội và có một lập trường rất kín đáo.
Tuy nhiên, đây không phải là một lập trường bình thường, bởi vì đó là một lập
trường tự hào về bản chất con người. Thật đáng buồn nếu lịch sử loài người chỉ
bị thao túng bởi những quy luật không thể biết trước và mù quáng trôi theo dòng
chảy, khiến cho những tiếng nói khác nhau của các cá nhân không thể được lắng
nghe. Chính theo nghĩa này mà văn học lấp đầy những khoảng trống của lịch sử.
Khi những quy luật vĩ đại của lịch sử không được sử dụng để giải thích về loài
người, con người sẽ có thể để lại tiếng nói riêng của mình. Lịch sử không phải
là tất cả những gì loài người sở hữu, còn có cả di sản văn học. Trong văn học,
con người là những sáng tạo nhưng họ vẫn giữ một niềm tin thiết yếu vào giá trị
bản thân.
Kính thưa các thành viên
đáng kính của Viện Hàn lâm, tôi xin cảm ơn quý vị đã trao giải Nobel này cho
văn học, cho nền văn học kiên định với tính độc lập của mình, không né tránh nỗi
đau khổ của con người cũng như sự áp bức chính trị, và hơn nữa, không phục vụ
cho chính trị. Tôi xin cảm ơn tất cả quý vị đã trao giải thưởng danh giá này
cho những tác phẩm khác xa với những tác phẩm thương mại, những tác phẩm ít được
chú ý nhưng thực sự đáng đọc. Đồng thời, tôi cũng cảm ơn Viện Hàn lâm Thụy Điển
đã cho phép tôi bước lên bục này để phát biểu trước toàn thế giới. Một giọng
nói yếu ớt của một cá nhân mong manh, khó có thể được lắng nghe và thường không
được phát trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đã được phép lên tiếng
trước thế giới. Tuy nhiên, tôi tin rằng đây chính xác là ý nghĩa của giải Nobel
và tôi xin cảm ơn tất cả mọi người vì cơ hội được phát biểu này.
(Bản
dịch sang tiếng Anh của Mabel Lee)
-----------
Chú thích:
(1). Tiểu sử trên Wikipedia
(2). Nguồn Anh ngữ tại đây.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét