2/5/26

3.861. TÁC GIẢ NOBEL VĂN HỌC - 1

      Từ năm 1901 đến năm 2025, Giải Nobel Văn học đã trao 118 lần cho 122 tác giả, trong loạt 5 Entry tiếp nối sau đây, tôi sẽ lần lượt giới thiệu tóm tắt 122 tác giả trên. Nguồn tư liệu lấy từ trang Nobelprize.org

P.1: Giới thiệu tóm tắt các tác giả đoạt giải Nobel Văn học từ 1901 đến 1921.

***

1. Năm 1901, Sully Prudhomme (1839 – 1907) - Nhà thơ, nhà tiểu luận Pháp được trao giải Nobel Văn học vì: “để ghi nhận đặc biệt về sáng tác thơ của ông, thể hiện chủ nghĩa lý tưởng cao cả, sự hoàn hảo về nghệ thuật và sự kết hợp hiếm có giữa phẩm chất của cả tâm hồn và trí tuệ” (in special recognition of his poetic composition, which gives evidence of lofty idealism, artistic perfection and a rare combination of the qualities of both heart and intellect).


2. Năm 1902, Theodor Mommsen (1817 – 1903) - Nhà sử học, nhà văn Đức, được trao giải Nobel Văn học vì ông là: “bậc thầy vĩ đại nhất còn sống của nghệ thuật viết sử, đặc biệt là tác phẩm đồ sộ của ông, Lịch sử La Mã” (the greatest living master of the art of historical writing, with special reference to his monumental work, A history of Rome).


3. Năm 1903, Bjørnstjerne Bjørnson (1832–1910) - Nhà văn, nhà viết kịch Na Uy, được trao giải Nobel Văn học: “như một sự tôn vinh dành cho thơ ca cao quý, tráng lệ và đa tài của ông, luôn được đánh dấu bởi sự tươi mới trong nguồn cảm hứng và sự thuần khiết hiếm có trong tinh thần” (as a tribute to his noble, magnificent and versatile poetry, which has always been distinguished by both the freshness of its inspiration and the rare purity of its spirit).

 

* Năm 1904, có hai tác giả được trao giải Nobel Văn học:

4. Frédéric Mistral (1830 - 1914) - Nhà thơ Pháp: “để ghi nhận sự mới mẻ, độc đáo và nguồn cảm hứng đích thực trong các tác phẩm thơ ca của ông, phản ánh chân thực phong cảnh thiên nhiên và tinh thần dân tộc của ông, và ngoài ra, công trình nghiên cứu quan trọng của ông với tư cách là một nhà ngữ văn học vùng Provence” (in recognition of the fresh originality and true inspiration of his poetic production, which faithfully reflects the natural scenery and native spirit of his people, and, in addition, his significant work as a Provençal philologist).


5. José Echegaray (1832 – 1916) - Nhà viết kịch Tây Ban Nha: “để ghi nhận nhiều tác phẩm xuất sắc, đã hồi sinh một cách độc đáo và riêng biệt những truyền thống vĩ đại của kịch Tây Ban Nha” (in recognition of the numerous and brilliant compositions which, in an individual and original manner, have revived the great traditions of the Spanish drama).


6. Năm 1905, Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916) - Nhà văn Ba Lan được trao giải Nobel Văn học “vì những đóng góp xuất sắc của ông với tư cách là một nhà văn viết sử thi” (because of his outstanding merits as an epic writer).


7. Năm 1906, Giosuè Carducci (1835 - 1907) - Nhà thơ, nhà văn Ý, được trao giải Nobel Văn học vì: “Không chỉ để ghi nhận kiến ​​thức uyên bác và nghiên cứu phê bình sâu rộng của ông, mà trên hết là để tôn vinh năng lượng sáng tạo, sự tươi mới trong phong cách và sức mạnh trữ tình đặc trưng cho những kiệt tác thơ ca của ông” (not only in consideration of his deep learning and critical research, but above all as a tribute to the creative energy, freshness of style, and lyrical force which characterize his poetic masterpieces).


8. Năm 1907, Rudyard Kipling (1865 – 1936) - Tiểu thuyết gia Anh, được trao giải Nobel Văn học: “Để ghi nhận khả năng quan sát, tính độc đáo của trí tưởng tượng, sự mạnh mẽ của ý tưởng và tài năng kể chuyện xuất sắc đặc trưng cho các tác phẩm của tác giả nổi tiếng thế giới này” (in consideration of the power of observation, originality of imagination, virility of ideas and remarkable talent for narration which characterize the creations of this world-famous author).


9. Năm 1908, Rudolf Eucken (1846 - 1926) - Nhà văn, triết gia Đức, được trao giải Nobel Văn học: “Để ghi nhận sự tìm tòi chân thành về chân lý, sức mạnh tư duy sâu sắc, tầm nhìn rộng lớn, và sự ấm áp, mạnh mẽ trong cách trình bày mà ông đã dùng trong nhiều tác phẩm của mình để khẳng định và phát triển một triết lý sống lý tưởng” (in recognition of his earnest search for truth, his penetrating power of thought, his wide range of vision, and the warmth and strength in presentation with which in his numerous works he has vindicated and developed an idealistic philosophy of life).


10. Năm 1909, Selma Lagerlöf (1858 – 1940) - Nữ nhà văn Thụy Điển, được trao giải Nobel Văn học “Để ghi nhận chủ nghĩa lý tưởng cao cả, trí tưởng tượng sống động và nhận thức tâm linh đặc trưng cho các tác phẩm của bà” (in appreciation of the lofty idealism, vivid imagination and spiritual perception that characterize her writings).


11. Năm 1910, Paul Heyse (1830 – 1914) - Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch Đức, được trao giải Nobel Văn học “như một sự tôn vinh nghệ thuật bậc thầy, thấm đẫm chủ nghĩa lý tưởng, mà ông đã thể hiện trong suốt sự nghiệp lâu dài và hiệu quả của mình với tư cách là một nhà thơ trữ tình, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia và nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng thế giới” (as a tribute to the consummate artistry, permeated with idealism, which he has demonstrated during his long productive career as a lyric poet, dramatist, novelist and writer of world-renowned short stories).


12. Năm 1911, Maurice Maeterlinck (1862 - 1949) - Nhà viết kịch, nhà thơ, triết gia Bỉ được trao giải Nobel Văn học: “để đánh giá cao các hoạt động văn học đa diện của ông, đặc biệt là các tác phẩm kịch, nổi bật bởi trí tưởng tượng phong phú và sự tinh tế thi ca, đôi khi được thể hiện dưới hình thức truyện cổ tích, hé lộ một nguồn cảm hứng sâu sắc, đồng thời một cách bí ẩn, chúng khơi gợi cảm xúc và kích thích trí tưởng tượng của người đọc” (in appreciation of his many-sided literary activities, and especially of his dramatic works, which are distinguished by a wealth of imagination and by a poetic fancy, which reveals, sometimes in the guise of a fairy tale, a deep inspiration, while in a mysterious way they appeal to the readers' own feelings and stimulate their imaginations).


13. Năm 1912, Gerhart Hauptmann (1862 – 1946) -  Nhà văn, nhà viết kịch Đức, được trao giải Nobel Văn học: “chủ yếu để ghi nhận những tác phẩm đồ sộ, đa dạng và xuất sắc của ông trong lĩnh vực nghệ thuật kịch” (primarily in recognition of his fruitful, varied and outstanding production in the realm of dramatic art).


14. Năm 1913, Rabindranath Tagore (1861 - 1941) - Nhà văn, nhà thơ người Ấn Độ, được trao giải Nobel Văn học: “vì những vần thơ sâu sắc, tươi mới và đẹp đẽ của ông, nhờ đó, với kỹ năng bậc thầy, ông đã biến tư tưởng thơ ca của mình, được thể hiện bằng chính ngôn từ tiếng Anh của mình, trở thành một phần của Văn học phương Tây” (because of his profoundly sensitive, fresh and beautiful verse, by which, with consummate skill, he has made his poetic thought, expressed in his own English words, a part of the literature of the West).


* Năm 1914, Không có giải Nobel nào được trao.


15. Năm 1915, Romain Rolland (1866 – 1944) - Nhà văn, nhà viết kịch Pháp, được trao giải Nobel Văn học: “như một sự tôn vinh chủ nghĩa lý tưởng cao cả trong các tác phẩm văn học của ông và lòng cảm thông, tình yêu chân lý mà ông đã dùng để miêu tả các kiểu người khác nhau” (as a tribute to the lofty idealism of his literary production and to the sympathy and love of truth with which he has described different types of human beings).


16. Năm 1916, Verner von Heidenstam (1859 – 1940) - Nhà thơ, nhà văn Thụy Điển, được trao giải Nobel Văn học: “để ghi nhận tầm quan trọng của ông với tư cách là đại diện hàng đầu của một kỷ nguyên mới trong nền văn học của chúng ta” (in recognition of his significance as the leading representative of a new era in our literature).

 

Năm 1917, có hai tác giả người Đan Mạch cùng được trao giải Nobel Văn học:


17. Karl Gjellerup, (1857 –1919) - Nhà văn, nhà thơ, được trao giải Nobel Văn học 1917 “vì thơ ca đa dạng và phong phú của ông, được truyền cảm hứng từ những lý tưởng cao cả” (for his varied and rich poetry, which is inspired by lofty ideals).


18. Henrik Pontoppidan (1857 – 1943)nhà văn, được trao giải Nobel Văn học 1917 “vì những miêu tả chân thực về cuộc sống hiện đại ở Đan Mạch” (for his authentic descriptions of present-day life in Denmark).

 

Năm 1918, Không có giải Nobel nào được trao


19. Năm 1919, Carl Spitteler (1845 – 1924) -  Nhà thơ, nhà văn Thụy Sĩ, được trao giải Nobel Văn học: “để đặc biệt ghi nhận sử thi của ông, Mùa xuân Olympian” (in special appreciation of his epic, Olympian Spring).


20. Năm 1920, Knut Hamsun (1859 – 1952) - Nhà văn Na Uy, được trao giải Nobel Văn học: “vì tác phẩm đồ sộ của ông, Sự sinh sôi của đất đai” (for his monumental work, Growth of the Soil).


21. Năm 1921, Anatole France (1844 – 1924) - Nhà văn Pháp, được trao giải Nobel Văn học: “để ghi nhận những thành tựu văn học xuất sắc của ông, được đặc trưng bởi phong cách cao quý, lòng cảm thông sâu sắc với con người, sự duyên dáng và một khí chất Pháp đích thực” (in recognition of his brilliant literary achievements, characterized as they are by a nobility of style, a profound human sympathy, grace, and a true Gallic temperament).

(Xem tiếp P2)

Không có nhận xét nào: