P.2: Giới thiệu tóm tắt các tác giả đoạt giải Nobel Văn học từ 1922 đến 1943.
![]() |
| George Bernard Shaw Nobel VH 1925 |
22. Năm 1922, Jacinto Benavente (1866 – 1954) - Nhà thơ, nhà viết kịch
Tây Ban Nha, được trao giải Nobel Văn học: “vì cách thức tuyệt vời mà ông đã tiếp
nối truyền thống lừng lẫy của kịch Tây Ban Nha” (for the happy manner in which he has continued the illustrious traditions
of the Spanish drama).
23. Năm 1923, William Butler Yeats (1865 - 1939) - Nhà thơ, nhà soạn kịch
Ireland, được trao giải Nobel Văn học: “vì thơ ca luôn tràn đầy cảm hứng của
ông, thể hiện tinh thần của cả một dân tộc bằng hình thức nghệ thuật cao độ” (for his always inspired poetry, which in a
highly artistic form gives expression to the spirit of a whole nation).
24. Năm 1924, Władysław Reymont (1867 – 1925) - Nhà văn Ba Lan, được
trao giải Nobel Văn học: “vì sử thi quốc gia vĩ đại của ông, Những người nông
dân” (for his great national epic, The
Peasants).
25. Năm 1925, George Bernard Shaw (1856 – 1950) - Nhà viết kịch, nhà phê
bình Ireland, được trao giải Nobel Văn học: “vì tác phẩm của ông, vừa mang tính
lý tưởng vừa mang tính nhân văn, sự châm biếm đầy sức kích thích thường được thấm
đẫm vẻ đẹp thơ mộng độc đáo” (for his
work which is marked by both idealism and humanity, its stimulating satire
often being infused with a singular poetic beauty).
26. Năm 1926, Grazia Deledda (1871 – 1936) - Nữ nhà văn Ý, được trao giải Nobel Văn học:
“vì những tác phẩm đầy cảm hứng lý tưởng, khắc họa cuộc sống trên hòn đảo quê
hương bà một cách rõ nét và sâu sắc, giàu lòng cảm thông, đồng thời đề cập đến
các vấn đề của con người nói chung” (for
her idealistically inspired writings which with plastic clarity picture the
life on her native island and with depth and sympathy deal with human problems
in general).
27. Năm 1927, Henri Bergson (1859 – 1941) - Triết gia, nhà văn Pháp,
được trao giải Nobel Văn học: “để ghi nhận những ý tưởng phong phú và đầy sức sống
cùng kỹ năng trình bày xuất sắc của ông” (in
recognition of his rich and vitalizing ideas and the brilliant skill with which
they have been presented).
28. Năm 1928, Sigrid Undset (1882 – 1949) - Nhà văn nữ Na Uy, được
trao giải Nobel Văn học: “chủ yếu vì những miêu tả mạnh mẽ về cuộc sống ở miền
Bắc trong thời Trung cổ” (principally for
her powerful descriptions of Northern life during the Middle Ages).
29. Năm 1929, Thomas Mann (1875 – 1955) - Tiểu thuyết gia, nhà phê
bình xã hội Đức, được trao giải Nobel Văn học: “chủ yếu vì cuốn tiểu thuyết vĩ
đại của ông, Buddenbrooks, tác phẩm
ngày càng được công nhận là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học
đương đại” (principally for his great
novel, Buddenbrooks, which has won steadily increased recognition as one of the
classic works of contemporary literature).
30. Năm 1930, Sinclair Lewis (1885 – 1951) - Nhà văn, nhà viết kịch Mỹ,
được trao giải Nobel Văn học: “vì nghệ thuật miêu tả mạnh mẽ và sống động cùng
khả nă ng sáng tạo, với sự dí dỏm và hài hước, những kiểu nhân vật mới” (for his vigorous and graphic art of
description and his ability to create, with wit and humour, new types of
characters).
31. Năm 1931, Erik Axel Karlfeldt (1864 – 1931) - Nhà thơ Thụy Điển, được trao giải Nobel Văn học vì:
“Thơ của Erik Axel Karlfeldt” (The poetry
of Erik Axel Karlfeldt).
32. Năm
1932, John Galsworthy (1867 –
1933) - Nhà văn, nhà viết kịch Anh, được trao giải Nobel Văn học: “vì nghệ
thuật kể chuyện xuất sắc của ông, đạt đến đỉnh cao trong tác phẩm The Forsyte
Saga” (for his distinguished art of
narration which takes its highest form in The Forsyte Saga).
33. Năm 1933, Ivan Bunin (1870 - 1953) - Nhà văn, nhà thơ Nga, được
trao giải Nobel Văn học: “vì tính nghệ thuật nghiêm túc mà ông đã tiếp nối truyền
thống văn xuôi cổ điển của Nga” (for the
strict artistry with which he has carried on the classical Russian traditions
in prose writing).
34. Năm 1934, Luigi Pirandello (1867 – 1936) - Nhà văn, nhà viết kịch Ý,
được trao giải Nobel Văn học: “vì sự hồi sinh táo bạo và khéo léo của ông đối với
nghệ thuật kịch và sân khấu” (for his
bold and ingenious revival of dramatic and scenic art).
Năm
1935 không có giải Nobel nào được trao
35. Năm
1936, Eugene O'Neill (1888 –
1953) - Nhà viết kịch Mỹ, được trao giải Nobel Văn học: “vì sức mạnh, sự
chân thành và cảm xúc sâu sắc trong các tác phẩm kịch của ông, thể hiện một
khái niệm độc đáo về bi kịch” (for the
power, honesty and deep-felt emotions of his dramatic works, which embody an
original concept of tragedy).
36. Năm
1937, Roger Martin du Gard (1881
–1958) - Nhà văn, nhà viết kịch Pháp, được trao giải Nobel Văn học: “vì sức
mạnh nghệ thuật và sự chân thực mà ông đã thể hiện trong việc miêu tả xung đột
của con người cũng như một số khía cạnh cơ bản của cuộc sống đương đại trong
chuỗi tiểu thuyết Les Thibault của mình” (for
the artistic power and truth with which he has depicted human conflict as well
as some fundamental aspects of contemporary life in his novel-cycle Les
Thibault).
37. Năm
1938, Pearl Buck (1892 – 1973)
- Nữ nhà văn, nhà hoạt động nhân đạo Mỹ, được trao giải Nobel Văn học: “vì
những miêu tả phong phú và thực sự hoành tráng về cuộc sống nông dân ở Trung Quốc
và vì những kiệt tác tiểu sử của bà” (for
her rich and truly epic descriptions of peasant life in China and for her
biographical masterpieces).
38. Năm
1939, Frans Eemil Sillanpää (1888
– 1964) - Nhà văn Phần Lan, được
trao giải Nobel Văn học: “vì sự hiểu biết sâu sắc về tầng lớp nông dân của đất
nước ông và nghệ thuật tinh tế mà ông đã sử dụng để miêu tả lối sống của họ và
mối quan hệ của họ với thiên nhiên” (for
his deep understanding of his country's peasantry and the exquisite art with
which he has portrayed their way of life and their relationship with Nature).
Năm 1940 không có giải Nobel nào được trao.
Năm 1941 không có giải Nobel nào được
trao.
Năm 1942 không có giải Nobel nào được
trao.
Năm 1943 không có giải Nobel nào được
trao.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét