2/5/26

3.862. TÁC GIẢ NOBEL VĂN HỌC - 2

    (Tiếp theo P.1)

P.2: Giới thiệu tóm tắt các tác giả đoạt giải Nobel Văn học từ 1922 đến 1943.

 

George Bernard Shaw
Nobel VH 1925

***

22. Năm 1922, Jacinto Benavente (1866 – 1954) - Nhà thơ, nhà viết kịch Tây Ban Nha, được trao giải Nobel Văn học: “vì cách thức tuyệt vời mà ông đã tiếp nối truyền thống lừng lẫy của kịch Tây Ban Nha” (for the happy manner in which he has continued the illustrious traditions of the Spanish drama).


23. Năm 1923, William Butler Yeats (1865 - 1939) - Nhà thơ, nhà soạn kịch Ireland, được trao giải Nobel Văn học: “vì thơ ca luôn tràn đầy cảm hứng của ông, thể hiện tinh thần của cả một dân tộc bằng hình thức nghệ thuật cao độ” (for his always inspired poetry, which in a highly artistic form gives expression to the spirit of a whole nation).


24. Năm 1924, Władysław Reymont (1867 – 1925) - Nhà văn Ba Lan, được trao giải Nobel Văn học: “vì sử thi quốc gia vĩ đại của ông, Những người nông dân” (for his great national epic, The Peasants).


25. Năm 1925, George Bernard Shaw (1856 – 1950) - Nhà viết kịch, nhà phê bình Ireland, được trao giải Nobel Văn học: “vì tác phẩm của ông, vừa mang tính lý tưởng vừa mang tính nhân văn, sự châm biếm đầy sức kích thích thường được thấm đẫm vẻ đẹp thơ mộng độc đáo” (for his work which is marked by both idealism and humanity, its stimulating satire often being infused with a singular poetic beauty).


26. Năm 1926, Grazia Deledda (1871 – 1936) -  Nữ nhà văn Ý, được trao giải Nobel Văn học: “vì những tác phẩm đầy cảm hứng lý tưởng, khắc họa cuộc sống trên hòn đảo quê hương bà một cách rõ nét và sâu sắc, giàu lòng cảm thông, đồng thời đề cập đến các vấn đề của con người nói chung” (for her idealistically inspired writings which with plastic clarity picture the life on her native island and with depth and sympathy deal with human problems in general).


27. Năm 1927, Henri Bergson (1859 – 1941) - Triết gia, nhà văn Pháp, được trao giải Nobel Văn học: “để ghi nhận những ý tưởng phong phú và đầy sức sống cùng kỹ năng trình bày xuất sắc của ông” (in recognition of his rich and vitalizing ideas and the brilliant skill with which they have been presented).


28. Năm 1928, Sigrid Undset (1882 – 1949) - Nhà văn nữ Na Uy, được trao giải Nobel Văn học: “chủ yếu vì những miêu tả mạnh mẽ về cuộc sống ở miền Bắc trong thời Trung cổ” (principally for her powerful descriptions of Northern life during the Middle Ages).


29. Năm 1929, Thomas Mann (1875 – 1955) - Tiểu thuyết gia, nhà phê bình xã hội Đức, được trao giải Nobel Văn học: “chủ yếu vì cuốn tiểu thuyết vĩ đại của ông, Buddenbrooks, tác phẩm ngày càng được công nhận là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học đương đại” (principally for his great novel, Buddenbrooks, which has won steadily increased recognition as one of the classic works of contemporary literature).


30. Năm 1930, Sinclair Lewis (1885 – 1951) - Nhà văn, nhà viết kịch Mỹ, được trao giải Nobel Văn học: “vì nghệ thuật miêu tả mạnh mẽ và sống động cùng khả nă ng sáng tạo, với sự dí dỏm và hài hước, những kiểu nhân vật mới” (for his vigorous and graphic art of description and his ability to create, with wit and humour, new types of characters).


31. Năm 1931,  Erik Axel Karlfeldt (1864 – 1931) - Nhà thơ Thụy Điển, được trao giải Nobel Văn học vì: “Thơ của Erik Axel Karlfeldt” (The poetry of Erik Axel Karlfeldt).


32. Năm  1932, John Galsworthy (1867 – 1933) - Nhà văn, nhà viết kịch Anh, được trao giải Nobel Văn học: “vì nghệ thuật kể chuyện xuất sắc của ông, đạt đến đỉnh cao trong tác phẩm The Forsyte Saga” (for his distinguished art of narration which takes its highest form in The Forsyte Saga).


33. Năm 1933, Ivan Bunin (1870 - 1953) - Nhà văn, nhà thơ Nga, được trao giải Nobel Văn học: “vì tính nghệ thuật nghiêm túc mà ông đã tiếp nối truyền thống văn xuôi cổ điển của Nga” (for the strict artistry with which he has carried on the classical Russian traditions in prose writing).


34. Năm 1934, Luigi Pirandello (1867 – 1936) - Nhà văn, nhà viết kịch Ý, được trao giải Nobel Văn học: “vì sự hồi sinh táo bạo và khéo léo của ông đối với nghệ thuật kịch và sân khấu” (for his bold and ingenious revival of dramatic and scenic art).


Năm  1935 không có giải Nobel nào được trao


35. Năm  1936, Eugene O'Neill (1888 – 1953) - Nhà viết kịch Mỹ, được trao giải Nobel Văn học: “vì sức mạnh, sự chân thành và cảm xúc sâu sắc trong các tác phẩm kịch của ông, thể hiện một khái niệm độc đáo về bi kịch” (for the power, honesty and deep-felt emotions of his dramatic works, which embody an original concept of tragedy).


36. Năm  1937, Roger Martin du Gard (1881 –1958) - Nhà văn, nhà viết kịch Pháp, được trao giải Nobel Văn học: “vì sức mạnh nghệ thuật và sự chân thực mà ông đã thể hiện trong việc miêu tả xung đột của con người cũng như một số khía cạnh cơ bản của cuộc sống đương đại trong chuỗi tiểu thuyết Les Thibault của mình” (for the artistic power and truth with which he has depicted human conflict as well as some fundamental aspects of contemporary life in his novel-cycle Les Thibault).


37. Năm  1938, Pearl Buck (1892 – 1973) - Nữ nhà văn, nhà hoạt động nhân đạo Mỹ, được trao giải Nobel Văn học: “vì những miêu tả phong phú và thực sự hoành tráng về cuộc sống nông dân ở Trung Quốc và vì những kiệt tác tiểu sử của bà” (for her rich and truly epic descriptions of peasant life in China and for her biographical masterpieces).


38. Năm  1939, Frans Eemil Sillanpää (1888 – 1964) -  Nhà văn Phần Lan, được trao giải Nobel Văn học: “vì sự hiểu biết sâu sắc về tầng lớp nông dân của đất nước ông và nghệ thuật tinh tế mà ông đã sử dụng để miêu tả lối sống của họ và mối quan hệ của họ với thiên nhiên” (for his deep understanding of his country's peasantry and the exquisite art with which he has portrayed their way of life and their relationship with Nature).


Năm 1940 không có giải Nobel nào được trao.

Năm 1941 không có giải Nobel nào được trao.

Năm 1942 không có giải Nobel nào được trao.

Năm 1943 không có giải Nobel nào được trao.

 (Xem tiếp P3)

Không có nhận xét nào: