Mộc Nhân dịch (1)
Bài diễn từ này có tựa “In
Search of the Present” (Đi tìm hiện hữu) - Octavio Paz đọc tại lễ nhận giải
Nobel Văn học tại Viện Hàn lâm Thụy Điển vào ngày 8 tháng 12 năm 1990.
Giải Nobel Văn học năm 1990 được trao cho Octavio Paz (1914 - 1998), nhà văn Mexico "vì lối viết đầy nhiệt huyết với tầm nhìn rộng lớn, đặc trưng bởi trí tuệ tinh tế và tính chính trực nhân văn" (for impassioned writing with wide horizons, characterized by sensuous intelligence and humanistic integrity).
Ông là một nhà triết học,
nhà thơ và nhà ngoại giao người Mexico. Với những đóng góp của mình, ông đã được
trao tặng Giải thưởng Jerusalem năm 1977, Giải thưởng Miguel de Cervantes năm
1981, Giải thưởng Văn học Quốc tế Neustadt năm 1982 và Giải Nobel Văn học năm
1990. (2)
ĐI TÌM HIỆN HỮU
Tôi
bắt đầu với hai từ mà tất cả mọi người đã thốt lên kể từ buổi bình minh của
nhân loại: cảm ơn. Từ "lòng biết ơn" có những từ tương đương trong mọi
ngôn ngữ và trong mỗi ngôn ngữ, phạm vi ý nghĩa rất phong phú. Trong các ngôn
ngữ Romance, phạm vi này trải rộng cả về tinh thần và thể chất, từ ân sủng
thiêng liêng ban cho con người để cứu họ khỏi sai lầm và cái chết, đến vẻ duyên
dáng của vũ nữ hay con mèo nhảy qua bụi rậm. Ân sủng có nghĩa là sự tha thứ, sự
ưu ái, ân huệ, nguồn cảm hứng; đó là một hình thức xưng hô, một phong cách nói
hoặc vẽ dễ chịu, một cử chỉ thể hiện sự lịch sự, và tóm lại, một hành động thể
hiện lòng tốt về mặt tinh thần. Ân sủng là vô điều kiện; đó là một món quà. Người
được nhận, người được ưu ái, sẽ biết ơn; nếu người đó không thấp hèn, người đó
sẽ bày tỏ lòng biết ơn. Đó là điều tôi đang làm ngay lúc này với những lời lẽ
nhẹ nhàng này. Tôi hy vọng cảm xúc của tôi sẽ bù đắp cho sự nhẹ nhàng ấy. Nếu mỗi
từ của tôi là một giọt nước, bạn sẽ nhìn xuyên qua chúng và thoáng thấy những
gì tôi cảm nhận: lòng biết ơn, sự ghi nhận. Và cả một sự pha trộn khó tả giữa nỗi
sợ hãi, sự tôn trọng và sự ngạc nhiên khi thấy mình ở đây trước mặt bạn, tại
nơi này, nơi vừa là quê hương của nền học thuật Thụy Điển vừa là quê hương của
văn học thế giới.
Ngôn ngữ là những thực
thể rộng lớn vượt lên trên những thực thể chính trị và lịch sử mà chúng ta gọi
là quốc gia. Các ngôn ngữ châu Âu mà chúng ta nói ở châu Mỹ minh họa điều này.
Vị thế đặc biệt của nền văn học chúng ta so với văn học Anh, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha và Pháp phụ thuộc chính xác vào thực tế cơ bản này: đó là những nền văn
học được viết bằng những ngôn ngữ được du nhập. Ngôn ngữ
được sinh ra và phát triển từ mảnh đất bản địa, được nuôi dưỡng bởi một lịch sử
chung. Các ngôn ngữ châu Âu bị nhổ tận gốc khỏi mảnh đất quê hương và truyền thống
riêng của chúng, rồi được gieo trồng trên một thế giới xa lạ và chưa được đặt
tên: chúng bén rễ ở những vùng đất mới và, khi phát triển trong xã hội châu Mỹ,
chúng đã được biến đổi. Chúng vẫn là cùng một loài cây nhưng cũng là một loài
cây khác. Nền văn học của chúng ta không thụ động chấp nhận sự thay đổi
của các ngôn ngữ được du nhập: chúng tham gia vào quá trình này và thậm chí còn
thúc đẩy nó. Chúng rất nhanh chóng không còn chỉ là những phản ánh xuyên Đại
Tây Dương đơn thuần: đôi khi chúng là sự phủ nhận nền văn học châu Âu; thường
thì, chúng là một lời đáp trả.
Bất chấp những dao động
này, mối liên hệ chưa bao giờ bị phá vỡ. Các tác phẩm kinh điển của tôi là những
tác phẩm của ngôn ngữ tôi và tôi tự coi mình là hậu duệ của Lope và Quevedo,
như bất kỳ nhà văn Tây Ban Nha nào cũng vậy… nhưng tôi không phải là người Tây
Ban Nha. Tôi nghĩ rằng hầu hết các nhà văn ở châu Mỹ Latinh, cũng như những người
đến từ Hoa Kỳ, Brazil và Canada, đều sẽ nói điều tương tự về truyền thống văn học
Anh, Bồ Đào Nha và Pháp. Để hiểu rõ hơn vị trí đặc biệt của các nhà văn ở châu
Mỹ, chúng ta nên nghĩ đến cuộc đối thoại được duy trì bởi các nhà văn Nhật Bản,
Trung Quốc hoặc Ả Rập với các nền văn học khác nhau của châu Âu. Đó là một cuộc
đối thoại vượt qua nhiều ngôn ngữ và nền văn minh. Mặt khác, cuộc đối thoại của
chúng ta diễn ra trong cùng một ngôn ngữ. Chúng ta gốc châu Âu nhưng chúng ta
không phải là người châu Âu. Vậy chúng ta là gì? Thật khó để định nghĩa chúng
ta là gì, nhưng các tác phẩm của chúng ta nói lên điều đó.
Trong lĩnh vực văn học,
sự mới mẻ lớn nhất của thế kỷ này là sự xuất hiện của các nền văn học Mỹ. Nền
văn học xuất hiện đầu tiên là của khu vực nói tiếng Anh, và sau đó, vào nửa sau
thế kỷ 20, là của khu vực Mỹ Latinh với hai nhánh lớn: Mỹ Latinh và Brazil. Mặc
dù rất khác nhau, ba nền văn học này có một đặc điểm chung: sự xung đột, mang
tính ý thức hệ nhiều hơn là văn chương, giữa khuynh hướng quốc tế và bản địa,
giữa chủ nghĩa Âu hóa và chủ nghĩa Mỹ. Di sản của cuộc tranh luận này là gì? Những
cuộc tranh luận đã biến mất; những gì còn lại là các tác phẩm. Bên cạnh sự
tương đồng chung này, sự khác biệt giữa ba nền văn học rất nhiều và sâu sắc. Một
trong số đó thuộc về lịch sử nhiều hơn là văn học: sự phát triển của văn học
Anh-Mỹ trùng với sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới, trong khi
sự trỗi dậy của văn học Mỹ Latinh lại trùng với những bất hạnh và biến động
chính trị, xã hội của các quốc gia. Điều này một lần nữa chứng minh những hạn
chế của thuyết định mệnh xã hội và lịch sử: sự suy tàn của các đế chế và những
biến động xã hội đôi khi trùng với những thời điểm huy hoàng của nghệ thuật và
văn chương.
Lý Bạch (Li-Po) và Đỗ Phủ
(Tu-Pu) đã chứng kiến sự sụp đổ của triều đại nhà Đường; Velázquez vẽ tranh
cho Felipe IV; Seneca và Lucan là những người cùng thời và cũng là nạn nhân của
Nero. Những khác biệt khác mang tính chất văn học và áp dụng nhiều hơn cho các
tác phẩm cụ thể hơn là đặc điểm của từng nền văn học. Nhưng liệu chúng ta có thể
nói rằng các nền văn học có một đặc điểm riêng? Liệu chúng có sở hữu một tập hợp
các đặc điểm chung để phân biệt chúng với các nền văn học khác? Tôi nghi ngờ điều
đó. Một nền văn học không được định nghĩa bởi một đặc
điểm trừu tượng, khó nắm bắt nào đó; nó là một cộng đồng các tác phẩm độc đáo
được thống nhất bởi các mối quan hệ đối lập và tương đồng.
Sự
khác biệt cơ bản đầu tiên giữa văn học Mỹ Latinh và văn học Anh-Mỹ nằm ở sự đa
dạng về nguồn gốc của chúng. Cả hai đều bắt đầu như những sự phản ánh của châu
Âu. Sự phản ánh của một hòn đảo trong trường hợp Bắc Mỹ; đó là một bán đảo
trong trường hợp của chúng ta. Hai khu vực có sự khác biệt về địa lý, lịch sử
và văn hóa. Nguồn gốc của Bắc Mỹ là ở Anh và Cải cách; nguồn gốc của chúng ta
là ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Phản Cải cách. Đối với trường hợp của châu Mỹ
Latinh, tôi nên đề cập ngắn gọn đến những gì phân biệt Tây Ban Nha với các quốc
gia châu Âu khác, mang lại cho nó một bản sắc lịch sử đặc biệt độc đáo. Tây Ban
Nha cũng không kém phần kỳ quặc so với Anh, nhưng sự kỳ quặc của nó lại khác. Sự
kỳ quặc của người Anh mang tính biệt lập và đặc trưng bởi sự cô lập: một sự kỳ
quặc loại trừ. Sự kỳ quặc của người Tây Ban Nha mang tính bán đảo và bao gồm sự
cùng tồn tại của các nền văn minh và quá khứ khác nhau: một sự kỳ quặc bao
dung. Ở vùng đất sau này trở thành Tây Ban Nha Công giáo, người Visigoth theo
tà giáo Arian, và chúng ta cũng có thể nói về hàng thế kỷ thống trị của nền văn
minh Ả Rập, ảnh hưởng của tư tưởng Do Thái, cuộc tái chinh phục, và những đặc
điểm đặc trưng khác.
Sự
kỳ quặc của người Tây Ban Nha được tái hiện và nhân lên ở châu Mỹ, đặc biệt là ở
những quốc gia như Mexico và Peru, nơi từng tồn tại những nền văn minh cổ đại
và huy hoàng. Ở Mexico, người Tây Ban Nha không chỉ gặp gỡ lịch sử mà còn cả địa
lý. Lịch sử đó vẫn còn sống động: nó là hiện tại chứ không phải quá khứ. Các đền
thờ và thần linh của Mexico thời tiền Columbus chỉ còn là một đống đổ nát,
nhưng tinh thần đã thổi hồn vào thế giới đó vẫn chưa biến mất; Nó nói với chúng ta bằng ngôn ngữ bí truyền của thần thoại,
truyền thuyết, các hình thức chung sống xã hội, nghệ thuật dân gian, phong tục
tập quán. Là một nhà văn Mexico có nghĩa là lắng nghe tiếng nói của hiện tại
đó, của sự hiện diện đó. Lắng nghe nó, trò chuyện với nó, giải mã nó: thể hiện
nó… Sau đoạn lạc đề ngắn này, chúng ta có thể
nhận thấy mối quan hệ đặc biệt vừa ràng buộc chúng ta vừa tách biệt chúng ta khỏi
truyền thống châu Âu.
Ý thức về sự tách biệt
này là một đặc điểm không đổi trong lịch sử tâm linh của chúng ta. Sự tách biệt
đôi khi được trải nghiệm như một vết thương đánh dấu sự chia rẽ nội tâm, một nhận
thức đau đớn mời gọi sự tự vấn; những lúc khác, nó xuất hiện như một thách thức,
một động lực thúc đẩy chúng ta hành động, tiến lên và gặp gỡ người khác và thế
giới bên ngoài. Thật vậy, cảm giác tách biệt là phổ quát và không chỉ riêng người
Mỹ Latinh. Nó được sinh ra ngay từ khoảnh khắc chúng ta chào đời: khi bị tách rời
khỏi Toàn thể, chúng ta rơi vào một vùng đất xa lạ. Trải nghiệm này trở thành một
vết thương không bao giờ lành. Đó là chiều sâu không thể dò tìm của mỗi con người;
tất cả những nỗ lực và thành tựu của chúng ta, tất cả những hành động và ước mơ
của chúng ta, đều là những cây cầu được thiết kế để vượt qua sự tách biệt và
đoàn tụ chúng ta với thế giới và đồng loại. Cuộc đời của mỗi người và lịch sử tập
thể của nhân loại do đó có thể được xem như những nỗ lực để tái tạo lại tình trạng
ban đầu. Một phương thuốc chưa hoàn thiện và vô tận cho tình trạng chia rẽ của
chúng ta. Nhưng tôi không có ý định đưa ra một mô tả khác về cảm giác này. Tôi
chỉ đơn giản nhấn mạnh thực tế rằng đối với chúng ta, tình trạng hiện sinh này
thể hiện chính nó bằng các thuật ngữ lịch sử. Như vậy, nó trở thành nhận thức về
lịch sử của chúng ta. Cảm giác này xuất hiện như thế nào và khi nào, và làm thế
nào nó được chuyển hóa thành ý thức? Câu trả lời cho câu hỏi hai mặt này có thể
được đưa ra dưới dạng một lý thuyết hoặc một lời chứng cá nhân. Tôi thích lời
chứng cá nhân hơn: có rất nhiều lý thuyết và không có lý thuyết nào hoàn toàn
thuyết phục.
Cảm
giác chia ly gắn liền với những ký ức cổ xưa và mơ hồ nhất của tôi: tiếng khóc
đầu tiên, nỗi sợ hãi đầu tiên. Giống như mọi đứa trẻ, tôi đã xây dựng những cây
cầu cảm xúc trong trí tưởng tượng để kết nối mình với thế giới và với những người
khác. Tôi sống trong một thị trấn ngoại ô Thành phố Mexico, trong một ngôi nhà
cũ nát có một khu vườn giống như rừng rậm và một căn phòng lớn đầy sách. Những
trò chơi đầu tiên và những bài học đầu tiên. Khu vườn nhanh chóng trở thành
trung tâm thế giới của tôi; thư viện, một hang động kỳ diệu. Tôi thường đọc
sách và chơi với các anh chị em họ và bạn bè cùng lớp. Có một cây sung, như một
ngôi đền của thực vật, bốn cây thông, ba cây tần bì, một cây cà độc dược, một
cây lựu, cỏ dại và những cây gai tạo ra những bông hoa màu tím. Những bức tường
bằng đất sét. Thời gian như co giãn; không gian như một bánh xe quay. Mọi thời
gian, quá khứ hay tương lai, hiện thực hay tưởng tượng, đều là sự hiện diện thuần
túy. Không gian không ngừng biến đổi. Cái xa xôi ở ngay đây, tất cả đều ở đây:
một thung lũng, một ngọn núi, một đất nước xa xôi, sân nhà hàng xóm. Những cuốn
sách có tranh minh họa, đặc biệt là sách lịch sử, được lật giở một cách háo hức,
cung cấp hình ảnh về sa mạc và rừng rậm, cung điện và túp lều, chiến binh và
công chúa, người ăn xin và vua chúa. Chúng ta đã cùng Sinbad và Robinson
vượt biển, chiến đấu cùng d'Artagnan, chiếm Valencia cùng Cid. Tôi ước gì mình
có thể ở lại đảo Calypso mãi mãi! Vào mùa hè, những cành xanh của cây sung đung
đưa như những cánh buồm của một chiếc thuyền buồm hay tàu cướp biển. Trên cao cột
buồm, bị gió cuốn đi, tôi có thể nhìn thấy những hòn đảo và lục địa, những vùng
đất biến mất ngay khi chúng trở nên hữu hình. Thế giới vô tận nhưng luôn trong
tầm tay; thời gian là một chất liệu dễ uốn nắn, dệt nên một hiện tại không gián
đoạn.
Khi nào thì phép màu bị
phá vỡ? Dần dần chứ không phải đột ngột. Thật khó chấp nhận việc bị bạn bè phản
bội, bị người mình yêu lừa dối, hay nhận ra rằng ý niệm về tự do chỉ là vỏ bọc
của một bạo chúa. Cái mà chúng ta gọi là “phát hiện ra sự thật” là một quá
trình chậm chạp và khó khăn bởi vì chính chúng ta cũng là đồng phạm trong những
sai lầm và sự lừa dối của mình. Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ khá rõ một sự việc là dấu
hiệu đầu tiên, mặc dù nó nhanh chóng bị lãng quên. Lúc đó tôi khoảng sáu tuổi
khi một người chị họ lớn hơn tôi một chút cho tôi xem một tạp chí Bắc Mỹ có ảnh
những người lính đang diễu hành dọc theo một đại lộ rộng lớn, có lẽ ở New York.
“Họ đã trở về từ chiến tranh”, chị ấy nói. Vài từ đó làm tôi băn khoăn, như thể
chúng báo trước ngày tận thế hoặc sự Tái Lâm của Chúa Kitô. Tôi mơ hồ biết rằng
ở đâu đó rất xa, một cuộc chiến đã kết thúc vài năm trước đó và những người
lính đang diễu hành để ăn mừng chiến thắng của họ. Đối với tôi, cuộc chiến đó
đã diễn ra ở một thời điểm khác, không phải ở đây và bây giờ. Bức ảnh đã bác bỏ
suy nghĩ của tôi. Tôi cảm thấy mình thực sự bị tách rời khỏi hiện tại.
Từ khoảnh khắc đó, thời
gian bắt đầu vỡ vụn ngày càng nhiều. Và có vô số không gian khác nhau. Trải
nghiệm ấy lặp đi lặp lại ngày càng thường xuyên. Bất kỳ mẩu tin nào, một câu
nói vô hại, dòng tiêu đề trên tờ báo: tất cả đều chứng minh sự tồn tại của thế
giới bên ngoài và sự phi thực tại của chính tôi. Tôi cảm thấy thế giới đang
tách rời và tôi không sống trong hiện tại. Hiện tại của tôi đang tan rã: thời
gian thực sự ở một nơi khác. Thời gian của tôi, thời gian của khu vườn, cây
sung, những trò chơi với bạn bè, cơn buồn ngủ giữa những hàng cây lúc ba giờ
chiều dưới ánh mặt trời, một quả sung bị bổ đôi (đen đỏ như than hồng nhưng ngọt
ngào và tươi mát): đó là một thời gian hư cấu. Bất chấp những gì giác quan tôi
mách bảo, thời gian ở phía bên kia, thuộc về những người khác, mới là thời gian
thực, thời gian của hiện tại thực sự. Tôi chấp nhận điều không thể tránh khỏi:
tôi đã trưởng thành. Đó là cách sự trục xuất khỏi hiện tại của tôi bắt đầu.
Có vẻ nghịch lý khi nói
rằng chúng ta đã bị trục xuất khỏi hiện tại, nhưng đó là một cảm giác mà tất cả
chúng ta đều đã từng trải qua. Một số người trong chúng tôi trải nghiệm nó lần
đầu tiên như một sự lên án, sau đó biến thành nhận thức và hành động. Việc tìm
kiếm hiện tại không phải là theo đuổi một thiên đường trần gian hay một sự vĩnh
hằng bất tận: đó là tìm kiếm một thực tại đích thực. Đối với chúng tôi, những
người Mỹ gốc Tây Ban Nha, hiện tại đích thực không nằm ở đất nước mình: đó là
thời gian mà người khác đang sống, của người Anh, người Pháp và người Đức. Đó
là thời gian của New York, Paris, London. Chúng tôi phải đi tìm nó và mang nó về
nhà. Những năm tháng đó cũng là những năm tháng tôi khám phá ra văn học.
Tôi bắt đầu viết thơ.
Tôi không biết điều gì đã khiến tôi viết chúng: tôi bị thôi thúc bởi một nhu cầu
nội tâm khó định nghĩa. Chỉ đến bây giờ tôi mới hiểu rằng có một mối liên hệ bí
mật giữa điều mà tôi gọi là sự bị trục xuất khỏi hiện tại và việc viết thơ. Thơ ca yêu khoảnh khắc và tìm cách sống lại nó trong bài thơ,
do đó tách nó khỏi dòng thời gian tuần tự và biến nó thành một hiện tại ổn định.
Nhưng vào thời điểm đó, tôi viết mà không tự hỏi tại sao mình lại làm vậy. Tôi
đã tìm kiếm cánh cửa dẫn đến hiện tại: Tôi muốn thuộc về thời đại và thế kỷ của
mình. Một thời gian sau, nỗi ám ảnh này trở thành một ý niệm cố định: Tôi muốn
trở thành một nhà thơ hiện đại. Cuộc tìm kiếm sự hiện đại của tôi đã bắt đầu.
Hiện
đại là gì? Trước hết, đó là một thuật ngữ mơ hồ: có nhiều loại hiện đại như có
nhiều xã hội. Mỗi xã hội lại có đặc điểm riêng. Ý nghĩa của từ này không chắc
chắn và tùy tiện, giống như tên gọi của thời kỳ trước đó, thời Trung Cổ. Nếu
chúng ta hiện đại hơn so với thời Trung Cổ, thì có lẽ chúng ta chính là thời
Trung Cổ của một nền hiện đại tương lai? Một cái tên thay đổi theo thời gian có
phải là một cái tên thực sự? Hiện đại là một từ đang tìm kiếm ý nghĩa của nó.
Nó là một ý tưởng, một ảo ảnh hay một khoảnh khắc lịch sử? Chúng ta là
con cái của hiện đại hay là những người tạo ra nó? Không ai biết chắc chắn. Điều
đó không quan trọng lắm: chúng ta theo đuổi nó, chúng ta dõi theo nó. Đối với
tôi vào thời điểm đó, hiện đại hòa quyện với hiện tại, hay đúng hơn là tạo ra
nó: hiện tại là bông hoa cuối cùng và tuyệt vời nhất của nó. Trường hợp của tôi
không phải là độc nhất vô nhị hay ngoại lệ: từ thời kỳ Biểu tượng, tất cả các
nhà thơ hiện đại đều theo đuổi hình tượng đầy sức hút và khó nắm bắt ấy.
Baudelaire là người đầu tiên. Ông cũng là người đầu tiên chạm vào nàng và khám
phá ra rằng nàng chẳng là gì ngoài thời gian đang tan vỡ trong tay ta. Tôi sẽ
không kể lại những cuộc phiêu lưu của mình trong hành trình tìm kiếm hiện đại:
chúng không khác mấy so với những nhà thơ thế kỷ 20 khác. Hiện đại là một niềm
đam mê phổ quát. Từ năm 1850, nàng vừa là nữ thần vừa là ác quỷ của chúng ta. Những năm gần đây, người ta đã cố gắng xua đuổi nàng và bàn
luận nhiều về "hậu hiện đại". Nhưng hậu hiện đại là gì nếu không phải
là một hiện đại còn hiện đại hơn nữa?
Đối
với chúng tôi, những người Mỹ Latinh, việc tìm kiếm sự hiện đại mang tính thơ
ca song hành với những nỗ lực hiện đại hóa đất nước chúng tôi trong suốt chiều
dài lịch sử. Xu hướng này bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 và bao gồm cả chính Tây Ban
Nha. Hoa Kỳ ra đời trong thời kỳ hiện đại và đến năm 1830, như de Tocqueville
đã nhận xét, là cái nôi của tương lai; chúng tôi ra đời vào thời điểm Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha đang dần rời xa sự hiện đại. Đó là lý do tại sao người ta thường
xuyên nói về việc "Âu hóa" đất nước chúng tôi: sự hiện đại nằm ở bên
ngoài và phải được nhập khẩu. Trong lịch sử Mexico, quá trình này bắt đầu ngay
trước Chiến tranh giành độc lập. Sau đó, nó trở thành một cuộc tranh luận tư tưởng
và chính trị lớn, chia rẽ sâu sắc xã hội Mexico trong suốt thế kỷ 19. Một sự kiện
đã đặt ra câu hỏi không phải về tính hợp pháp của phong trào cải cách mà là về
cách thức thực hiện nó: Cách mạng Mexico. Không giống như các cuộc cách mạng thế
kỷ 20, Cách mạng Mexico không thực sự là sự thể hiện của một hệ tư tưởng không
tưởng mơ hồ mà là sự bùng nổ của một thực tế đã bị kìm nén về mặt lịch sử và
tâm lý. Đó không phải là công việc của một nhóm các nhà tư tưởng muốn áp đặt những
nguyên tắc bắt nguồn từ một lý thuyết chính trị; đó là một cuộc nổi dậy của quần
chúng đã vạch trần những gì bị che giấu. Chính vì lý do này, nó giống một sự mặc
khải hơn là một cuộc cách mạng. Mexico đã tìm kiếm hiện tại ở bên ngoài chỉ để
tìm thấy nó ở bên trong, bị chôn vùi nhưng vẫn sống động.
Cuộc tìm kiếm sự hiện đại
đã dẫn chúng ta đến việc khám phá ra quá khứ cổ xưa, bộ mặt ẩn giấu của dân tộc.
Tôi không chắc liệu tất cả mọi người đã học được bài học
lịch sử bất ngờ này hay chưa: giữa truyền thống và hiện đại có một cây cầu. Khi
chúng bị cô lập lẫn nhau, truyền thống trì trệ và hiện đại tan biến; khi kết hợp,
hiện đại thổi sức sống vào truyền thống, trong khi truyền thống đáp lại bằng
chiều sâu và sự trang trọng.
Cuộc tìm kiếm sự hiện đại
mang tính thơ ca là một Cuộc truy tìm. Bởi lẽ, chủ
nghĩa hiện đại không phải là một trường phái thơ ca mà là một dòng dõi, một gia
đình trải rộng khắp nhiều châu lục và đã tồn tại qua hai thế kỷ với nhiều biến
đổi và bất hạnh bất ngờ: sự thờ ơ của công chúng, sự cô lập, và các phiên tòa
nhân danh sự chính thống về tôn giáo, chính trị, học thuật và tình dục. Vì nó
là một truyền thống chứ không phải một học thuyết, nên nó đã có thể tồn tại và
thay đổi cùng một lúc. Đó cũng là lý do tại sao nó lại đa dạng đến vậy:
mỗi cuộc phiêu lưu thơ ca đều khác biệt và mỗi nhà thơ đã gieo một loài cây
khác nhau trong khu rừng kỳ diệu của những cây biết nói. Tuy nhiên, nếu các tác
phẩm đa dạng và mỗi con đường đều khác biệt, thì điều gì đã gắn kết tất cả những
nhà thơ này? Không phải là một thẩm mỹ mà là một sự tìm kiếm. Sự tìm kiếm của
tôi không phải là viển vông, mặc dù ý niệm về chủ nghĩa hiện đại là một ảo ảnh,
một bó những suy ngẫm. Một ngày nọ, tôi nhận ra mình đang quay trở lại điểm xuất
phát thay vì tiến về phía trước: sự tìm kiếm chủ nghĩa hiện đại là một cuộc
hành trình trở về nguồn gốc. Chủ nghĩa hiện đại đã dẫn tôi đến nguồn gốc của sự
khởi đầu, đến sự cổ xưa của tôi. Sự chia ly giờ đây đã trở thành sự hòa giải. Như vậy, tôi nhận ra rằng nhà thơ là một nhịp đập trong dòng
chảy nhịp nhàng của các thế hệ.
Ý niệm về hiện đại là sản
phẩm phụ của quan niệm lịch sử như một quá trình kế thừa duy nhất và tuyến
tính. Mặc dù nguồn gốc của nó nằm trong Do Thái giáo-Kitô giáo, nhưng nó lại đoạn
tuyệt với giáo lý Kitô giáo. Trong Kitô giáo, thời gian tuần hoàn của các nền
văn hóa ngoại giáo được thay thế bằng lịch sử không thể lặp lại, một thứ có khởi
đầu và sẽ có kết thúc. Thời gian tuần tự là thời gian trần tục của lịch sử, một
đấu trường cho hành động của con người sa ngã, nhưng vẫn bị chi phối bởi một thời
gian thiêng liêng không có khởi đầu cũng không có kết thúc. Sau Ngày Phán Xét,
sẽ không có tương lai nào, cả ở thiên đường hay địa ngục. Trong cõi vĩnh hằng,
không có sự kế thừa vì mọi thứ đều đã tồn tại. Sự hiện hữu chiến thắng sự hình
thành. Thời gian hiện tại, khái niệm về thời gian của chúng ta, là tuyến tính
giống như của Kitô giáo nhưng mở ra vô tận mà không có sự liên hệ nào với Vĩnh
Hằng. Thời đại của chúng ta là thời gian của lịch sử trần tục, một thời gian
không thể đảo ngược và luôn luôn chưa hoàn thành, tiến về phía tương lai chứ
không phải hướng tới kết thúc của nó. Mặt trời của lịch sử là tương lai và Tiến
Bộ là tên gọi của phong trào hướng tới tương lai này.
(…) Chúng ta đang chứng
kiến hoàng hôn của tương lai. Sự suy giảm của ý niệm về hiện đại và sự phổ biến
của một khái niệm đáng ngờ như "hậu hiện đại" là những hiện tượng
không chỉ ảnh hưởng đến văn học và nghệ thuật: chúng ta đang trải qua cuộc khủng
hoảng của những ý tưởng và niềm tin thiết yếu đã dẫn dắt nhân loại trong hơn
hai thế kỷ. Tôi đã đề cập đến vấn đề này một cách chi tiết ở nơi khác. Ở đây,
tôi chỉ có thể đưa ra một bản tóm tắt ngắn gọn.
Trước hết, khái niệm về
một quá trình mở ra vô tận và đồng nghĩa với sự tiến bộ không ngừng đã bị đặt dấu
hỏi. Tôi hầu như không cần phải nói điều mà ai cũng biết: tài nguyên thiên
nhiên là hữu hạn và sẽ cạn kiệt một ngày nào đó. Thêm vào đó, chúng ta đã gây
ra những thiệt hại có thể không thể khắc phục được đối với môi trường tự nhiên
và chính loài người chúng ta đang bị đe dọa.
Đối với ông bà và cha mẹ
chúng ta, những tàn tích của lịch sử (xác chết, chiến trường hoang tàn, thành
phố bị tàn phá) không làm mất đi giá trị tốt đẹp tiềm ẩn của quá trình lịch sử.
Ngày nay, chúng ta đã chứng
kiến chúng sụp đổ, bị lật đổ không phải bởi kẻ thù về mặt tư tưởng mà bởi sự
thiếu kiên nhẫn và khát vọng tự do của các thế hệ mới… Lịch sử khó đoán trước bởi
vì tác nhân của nó, loài người, là hiện thân của chủ nghĩa bất định.
Bài đánh giá ngắn này
cho thấy rất có thể chúng ta đang ở cuối một thời kỳ lịch sử và bắt đầu một thời
kỳ khác. Kết thúc của Thời đại Hiện đại hay chỉ là một sự biến đổi? Thật khó để
nói. Dù sao đi nữa, sự sụp đổ của các kế hoạch không tưởng đã để lại một khoảng
trống lớn, không phải ở những quốc gia nơi hệ tư tưởng này đã chứng tỏ sự thất
bại mà ở những quốc gia nơi nhiều người đã đón nhận nó với sự nhiệt tình và hy
vọng. Lần đầu tiên trong lịch sử, loài người sống trong một kiểu hoang dã tinh
thần chứ không phải, như trước đây, dưới bóng tối của những hệ thống tôn giáo
và chính trị vừa an ủi chúng ta vừa áp bức chúng ta. Thời đại của chúng ta là
thời đại đầu tiên sẵn sàng sống mà không cần một học thuyết siêu lịch sử; cho
dù đó là tôn giáo hay triết học, đạo đức hay thẩm mỹ, những giá trị tuyệt đối của
chúng ta không phải là tập thể mà là cá nhân. Đó là một trải nghiệm nguy hiểm.
Cũng không thể biết được liệu những căng thẳng và xung đột nảy sinh từ việc tư
nhân hóa các ý tưởng, tập quán và tín ngưỡng vốn thuộc về phạm vi công cộng
truyền thống có dẫn đến việc phá hủy cấu trúc xã hội hay không. Khi đó, con người
có thể một lần nữa bị chi phối bởi sự cuồng tín tôn giáo cổ xưa hoặc chủ nghĩa
dân tộc cực đoan. Đáng buồn thay, những dấu hiệu hiện tại rất đáng lo ngại.
Không có xã hội nào tạo
ra nhiều chất thải như xã hội của chúng ta. Chất thải vật chất và đạo đức (No other society has produced so much waste
as ours has. Material and moral waste).
Suy ngẫm về hiện tại
không có nghĩa là từ bỏ tương lai hay quên đi quá khứ: hiện tại là nơi gặp gỡ của
ba chiều thời gian. Nó cũng không thể bị nhầm lẫn với chủ nghĩa khoái lạc dễ
dãi. Cây khoái lạc không mọc trong quá khứ hay tương lai mà mọc ngay trong khoảnh
khắc này. Tuy nhiên, cái chết cũng là một kết quả của hiện tại. Nó không thể bị
chối bỏ, vì nó là một phần của cuộc sống. Sống tốt có nghĩa là chết tốt (Living well implies dying well). Chúng
ta phải học cách đối mặt với cái chết. Hiện tại lúc thì rực rỡ, lúc thì u ám,
giống như một quả cầu kết nối hai nửa hành động và chiêm nghiệm. Như vậy, cũng
như chúng ta đã có những triết lý về quá khứ và tương lai, về vĩnh hằng và hư
vô, ngày mai chúng ta sẽ có một triết lý về hiện tại. Trải nghiệm thơ ca có thể
là một trong những nền tảng của nó. Chúng ta biết gì về hiện tại? Không có gì
hoặc gần như không có gì. Tuy nhiên, các nhà thơ biết một điều: hiện tại là nguồn
gốc của sự hiện diện.
Trong
cuộc hành trình tìm kiếm hiện đại này, tôi đã lạc lối ở nhiều điểm chỉ để tìm lại
chính mình. Tôi trở về nguồn cội và khám phá ra rằng hiện đại không nằm bên
ngoài mà nằm bên trong chúng ta. Hiện tại nguyên vẹn này, vừa được khai
quật, rũ bỏ bụi bặm của nhiều thế kỷ, mỉm cười và đột nhiên bắt đầu bay lên, biến
mất qua khung cửa sổ. Một sự đa dạng đồng thời của thời gian và hiện tại: hiện
đại đoạn tuyệt với quá khứ gần đây chỉ để khôi phục một quá khứ cổ xưa và biến
đổi một hình tượng sinh sản nhỏ bé từ thời kỳ đồ đá mới thành hiện thực đương đại
của chúng ta. Chúng ta theo đuổi hiện đại trong những
biến đổi không ngừng của nó, nhưng chúng ta không bao giờ nắm bắt được nó. Nó
luôn trốn thoát: mỗi cuộc gặp gỡ đều kết thúc bằng sự bay lượn. Chúng ta ôm lấy
nó và nó biến mất ngay lập tức: chỉ là một chút không khí. Đó là khoảnh khắc,
con chim ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả. Chúng ta muốn bắt sống nó nhưng nó vỗ
cánh và biến mất trong hình dạng của một nắm âm tiết. Chúng ta bị bỏ lại tay
không. Rồi cánh cửa tri giác hé mở và thời gian khác xuất hiện, thời gian thực
mà chúng ta đã tìm kiếm mà không hề hay biết: hiện tại, sự hiện diện.
(1). Nguồn: NobelPrize.org/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét