Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác “The best books on Aphorisms” recommended by Andrew
Hui
Một số người cho rằng bạn không thể gán bất kỳ ý nghĩa nào cho nó. Vẫn có những giới hạn, nhưng tác phẩm của ông ấy cởi mở hơn nhiều so với hầu hết các nhà triết học khác. Điều tương tự cũng có thể nói về các tác phẩm của Ludwig Wittgenstein - thực tế, có rất nhiều trường phái diễn giải về Wittgenstein, một nhà văn viết theo lối châm ngôn, theo nhiều cách.
Mặc dù, xét về tổng thể, người ta cho rằng có những lập luận
kinh điển - như cái gọi là lập luận về ngôn ngữ riêng tư - xuất hiện từ một loạt
các mảnh vụn. Nhưng vẫn còn rất nhiều việc để người đọc phải làm. Có nhiều cách
khác nhau để xây dựng lập luận – và có thể tạo dựng sự nghiệp học thuật bằng
cách làm điều đó.
Có lẽ bạn hiểu
Wittgenstein hơn tôi, nhưng điều thú vị là hình thức châm ngôn xuất hiện cả
trong giai đoạn đầu và cuối sự nghiệp của ông. Trong Tractatus Logico-Philosophicus, có logic của sự sắp xếp, nhưng cũng
có nhiều đoạn mà những nhận xét của ông hoàn toàn không liên quan đến nhau. Nó
không hoàn toàn mang tính diễn ngôn. Trong Philosophical
Investigations (Nghiên cứu triết học), ông suy ngẫm: “Tôi đã viết ra tất cả
những suy nghĩ này dưới dạng những nhận xét, những đoạn văn ngắn, đôi khi có một
chuỗi khá dài về cùng một chủ đề, trong khi đôi khi tôi lại thay đổi đột ngột,
nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác”.
Tôi đọc một cuộc phỏng vấn
gần đây với một người đã đến thăm Elizabeth Anscombe sau khi Wittgenstein qua đời.
Họ lên lầu và bà ấy có rất nhiều chồng giấy trên sàn nhà, và đó chính là Philosophical Investigations. Bà ấy đang
trong quá trình sắp xếp các suy nghĩ theo một trật tự nào đó. Cũng giống như Pensées của Pascal, có cảm giác rằng
cách bạn nhóm các suy nghĩ lại với nhau sẽ quyết định nội dung của chúng, trong
một số trường hợp. Việc sắp xếp các tác phẩm của ông trong cuốn sách, nay đã trở
thành kinh điển, phần nào được quyết định bởi những gì còn sót lại trong vali.
Nó không nhất thiết phải hoàn toàn giống với ý tưởng ban đầu, bởi vì đó chưa phải
là một tác phẩm hoàn chỉnh.
Chính xác. Pascal nói: “Những từ được sắp xếp khác nhau sẽ có những ý
nghĩa khác nhau. Và những ý nghĩa được sắp xếp khác nhau sẽ tạo ra những hiệu ứng
khác nhau.” Cách bạn sắp xếp chúng sẽ định hình cách bạn diễn giải
Wittgenstein, Pascal hay Nietzsche.
* Quay trở lại với
Nietzsche, câu châm ngôn nào của ông mà bạn thích nhất?
Câu này trích từ cuốn
Khoa học Vui vẻ: “Một cuốn sách mà thậm chí không đưa chúng ta vượt ra ngoài tất
cả các cuốn sách thì có ích gì?”
Điều này cũng áp dụng
cho chính cuốn sách của ông. Hãy ngừng đọc và bắt đầu sống. Trong “Chúng ta là
những nhà ngữ văn học”, tác phẩm lên án toàn bộ ngành nghiên cứu cổ điển, ông
đang nói đại ý rằng: “Vậy thì căn bệnh của văn hóa châu Âu ngày nay là gì? Tại
sao lại có sự suy tàn của văn hóa phương Tây?” Ồ, đó là vì các học giả đang cắm
cúi trong thư viện, biên tập lại những mảnh vụn của các tác phẩm cổ đại. Ông ấy
nói rằng nó trở thành một nền văn hóa chỉ mang tính chất lưu giữ, thay vì một nền
văn hóa năng suất hay sáng tạo.
“Những cái đầu hói quên
đi tội lỗi của mình”, như WB Yeats đã nói. Bài thơ đó, ‘Những Học Giả’, kết
thúc bằng câu “Liệu Catullus của họ có đi theo con đường đó không?”. Bài thơ
nói về những học giả này chú thích văn bản và ho sặc mực, nhưng thực sự không
làm gì nhiều khác trong cuộc sống của họ. Vâng, hoàn toàn đúng. Tôi không biết
bài thơ của Yeats – tôi rất thích nó!
Lựa chọn cuối cùng của bạn
là một cuốn sách mà tôi không biết, 300
Arguments của Sarah Manguso. Sarah Manguso là một tác giả người Mỹ đương đại,
và tôi nghĩ bà ấy chính là La Rochefoucauld của thế kỷ 21!
* Chúng ta đang sống
trong thời kỳ hoàng kim của những người viết châm ngôn: chúng ta còn có Where Epics Fail (2018) của Yahia
Lababidi, Little Labors (2016) của
Rivka Galchen, Matches: A Light Book
(2015) của S.D. Chrostowska; Sidewalks
(2010) của Valeria Luiselli, Bluets
(2009) của Maggie Nelson, Best Thought,
Worst Thought (2008) của Don Paterson, và Vectors (2001) của James Richardson. Tôi phải thừa nhận rằng tất cả
những người viết châm ngôn trong cuốn sách của tôi và tất cả những người viết
châm ngôn nổi tiếng trong lịch sử triết học truyền thống đều là nam giới.
Trong giới thượng lưu
tinh hoa của các salon Pháp có rất nhiều phụ nữ – Marquise de Rambouillet,
Marquise de Sablière và Marquise de Sablé - tất cả họ đều viết những câu châm
ngôn cùng với La Rochefoucauld. Dù tài giỏi đến đâu, những nữ nhà văn viết châm
ngôn ở Paris và Versailles vẫn bị lu mờ bởi các nam nhà văn.
Đây là một câu rất hay của
Manguso mà tôi nghĩ sẽ gây được tiếng vang với các giáo viên ở khắp mọi nơi:
“Khi một học sinh vượt quá mong đợi của tôi, tôi cảm thấy tự hào và bị phản bội.”
Đây là một câu khác:
“Tôi chưa bao giờ tham gia Facebook vì tôi muốn giữ lại nỗi khát khao cũ của
mình và cả của bạn nữa.”
Nghịch lý thay, có lẽ điều
đó lại cho thấy sự hiểu biết sâu sắc về Facebook, tôi e là vậy.
Chính xác. Tôi nghĩ bà ấy
là một người quan sát sắc sảo và sâu sắc về cuộc sống kỹ thuật số của chúng ta
ngày nay, và mức độ cuộc sống của chúng ta được trung gian hóa dưới các hình thức
điện tử. Tôi nghĩ Manguso đã nắm bắt được nhiều nỗi lo lắng của chúng ta trong
thời đại internet chỉ thông qua câu châm ngôn ngắn gọn này.
Bạn có biết tuyển tập
châm ngôn nào hay không? Bạn đã từng gặp những tuyển tập nào thực sự hiệu quả,
hay chính điều gì đó trong tuyển tập khiến các châm ngôn trở nên rời rạc, tách
rời khỏi nguồn gốc của chúng khi đặt ngoài ngữ cảnh?
4. Sức mạnh của châm ngôn nằm ở tính độc đáo:
Sức mạnh của châm ngôn nằm
ở tính độc đáo của nó. Tuy nhiên, châm ngôn luôn có chức năng bầy đàn. Chúng có
rất nhiều bạn bè và giao lưu khá nhiều. Xét cho cùng, chúng sống trong các tuyển
tập. Và nhà văn châm ngôn vĩ đại không bao giờ chỉ viết một châm ngôn, mà luôn
luôn là sự lan tỏa. Nietzsche không thể dừng lại; Wittgenstein cũng vậy. Pascal
cũng thế. Vì vậy, đó là nghịch lý lớn của châm ngôn: chúng hướng tới sự độc đáo
nhưng dường như luôn sa vào sự đa dạng.
Nhưng điều đó có nghĩa
gì đối với các tuyển tập chứa những câu châm ngôn của các tác giả khác nhau? Liệu
có cuốn nào hữu ích không?
Có cuốn "The Oxford
Book of Aphorisms" do John Gross biên soạn. James Geary có hai tuyển tập
cũng bao gồm cả phần bình luận của ông: "Geary’s Guide to the World’s
Great Aphorists" và "The World in a Phrase: A Brief History of the
Aphorism". Gợi ý của tôi là mọi người chỉ cần chọn một cuốn sách như
"Gay Science" của Nietzsche và bắt đầu đọc.
Một câu hỏi cuối cùng.
Thực ra là hai câu hỏi. Thứ nhất, tôi không biết cuốn sách nào khác về châm
ngôn. Cuốn sách của bạn dường như khá đặc biệt khi tập trung vào châm ngôn. Thứ
hai, khi chúng ta nhìn vào các nhà tư tưởng vĩ đại và tần suất họ sử dụng châm
ngôn trong lịch sử tư tưởng, thật kỳ lạ là người ta lại không viết nhiều hơn về
châm ngôn.
May mắn cho tôi, phải
không? Tôi thực sự không hiểu tại sao lại như vậy, bởi vì có vô số lý thuyết về
tiểu thuyết, thơ ca hay kịch. Tôi có thể kể cho bạn nghe về lý do tại sao tôi lại
viết về châm ngôn. Như tôi đã đề cập, cuốn sách đầu tiên của tôi viết về các
nhà thơ của những tàn tích trong văn học thời Phục Hưng. Vì vậy, tôi quan tâm đến
những tàn tích kiến trúc. Ở đó, tôi được suy nghĩ về những mảnh vụn vật chất
và những hình thức kiến trúc. Từ những mảnh vụn vật chất, điều đó dẫn tôi đến
những mảnh vụn văn bản, và rồi dẫn tôi đến với châm ngôn.
Hai lý do thực tế khác
khiến tôi viết về châm ngôn là, thứ nhất, vì đang ở Singapore, tôi ở khá xa các
thư viện lớn của phương Tây. Chúng tôi thiếu các ấn bản phê bình học thuật cơ bản
và các tác phẩm tham khảo trong lĩnh vực nhân văn. Nhưng châm ngôn thì dễ mang
theo. Bạn có thể tìm thấy chúng trên Amazon, và chúng không đòi hỏi một bộ máy
học thuật đồ sộ. Và thứ hai, vì không có nhiều sách khác viết về châm ngôn, nên
tôi không cần phải nghiên cứu quá nhiều trước khi bắt đầu viết cuốn sách của
mình. Đôi khi, khi bạn ở bên lề quá trình sản xuất tri thức, điều đó mang lại
cho bạn những chân trời mới, những hiểu biết mới và những cơ hội mới để suy
nghĩ về một điều gì đó rất cũ nhưng lại rất phổ biến.
(Hết)
-------------
Chú thích:
(1). Nguồn: fivebooks.com
(2). Andrew Hui là Phó Giáo sư Nhân văn tại Đại học Yale và NUS (National University of Singapore). Ông nhận bằng Tiến sĩ Văn học so sánh tại Princeton năm 2009 và là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Stanford trước khi gia nhập đội ngũ giảng viên đầu tiên của trường đại học nhân văn đầu tiên của Singapore vào năm 2012. Ông là tác giả của cuốn sách "The Poetics of Ruins in Renaissance Literature" (Thi pháp văn học thời Hậu Phục Hưng) – 2016.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét