Mộc Nhân
Dường như càng ngày càng có nhiều người chọn/ xem việc đi bộ, chạy bộ là một cách để thư giãn và cải thiện sức khỏe. Vậy, riêng với các nhà văn, ngoài việc đi bộ để giữ gìn sức khoẻ thì liệu việc đi bộ có ảnh hưởng, tác động gì đến hoạt động sáng tác nói chung và chất lượng sáng tạo tác phẩm nói riêng hay không?
Đây có vẻ là một câu hỏi
hơi kỳ khôi nhưng lại khá thú vị bởi ít ai đặt ra, riêng các nhà văn thì có nói
đến. Chẳng hạn Friedrich Nietzsche: “Tất cả những suy nghĩ thực sự tuyệt vời đều
được hình thành khi đi bộ.”
Hãy thử điểm qua hành
trình đi bộ trong mối quan hệ với việc viết lách của các nhà văn nổi tiếng.
***
1. Trong cuốn “Triết lý
đi bộ” (A Philosophy of Walking) của
Frederic Gros (1), ông đã khám phá chân dung, tính cách và
cuộc sống của những con người nổi tiếng được hình thành và gắn với yêu thích đi
bộ. Có thể kể ra vài tên tuổi:
Henry David Thoreau (2) viết tác phẩm nổi tiếng “Walden” (Một mình sống trong rừng), trong đó ông đề cập đến việc bản thân
đã từng sống một cuộc sống đơn giản và gần gũi với thiên nhiên. Trong thời gian
này, ông dành nhiều thời gian cho việc đi bộ ở những nơi hoang dã, ít người qua
lại để viết nên nhiều tác phẩm về lịch sử, tự nhiên, xã hội học, lý luận về
sinh thái học, văn học… Phong cách văn chương của ông là sự kết hợp của đi bộ
quan sát thiên nhiên với việc tích lũy những kinh nghiệm cá nhân, sử dụng thành
thạo ngôn từ mang tính hình tượng cùng với vốn hiểu biết của bản thân: “Tôi
nghĩ rằng khoảnh khắc chân tôi bắt đầu cử động, thì suy nghĩ của tôi bắt đầu
tuôn chảy”.
Frederic Gros cũng giải
mã tính cách của Rimbaud (3), nhà thơ pháp, thường đi
bộ khi xung đột, thịnh nộ với bạn. Đó là cách để ông giải tỏa trạng thái tâm lý
và lấy cảm hứng để duy trì việc viết. Hành động này đã trở thành thói quen đi bộ
để thư thái và sáng tác.
Mặc dù sống một cuộc đời
ngắn chỉ 37 năm, thời gian sáng tác ngắn nhưng Arthur Rimbaud đã đánh dấu một cột
mới trong sự phát triển của thơ ca Pháp, trở thành một hiện tượng văn hóa đại
chúng tại Pháp.
Nerval (4) - nhà văn, nhà thơ, dịch giả - là một nhân vật quan trọng của
chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Thế giới tâm hồn của ông có thời kỳ rơi vào tình trạng
hỗn loạn khi ông bị suy nhược thần kinh. Ông tự nhận thức bệnh trạng của mình
và bắt đầu thực hiện việc đi bộ để chữa lành. Giai đoạn này ông viết cuốn “Les
Filles du feu” (Những cô con gái của lửa),
một tiểu thuyết về chủ đề bất ổn tinh thần và cuốn “The man who walked
lobsters” (Người đi bộ ngớ ngẩn); đó
là hai cuốn sách quan trọng gắn với câu chuyện đi bộ - sáng tác của ông.
2. Việc đi bộ mà chúng
ta đang nói ở đây không hẳn là một môn thể thao.
Thể thao là vấn đề của kỹ
thuật và quy tắc, điểm số và sự cạnh tranh, đòi hỏi phải luyện tập tư thế, động
tác phù hợp. Rồi rất lâu sau, sự ngẫu hứng và tài năng xuất hiện. Thể thao gắn
với tính điểm: thứ hạng, thời gian hoàn thành, vị trí trong bảng xếp hạng… và luôn
có kẻ thắng người thua.
Thể thao rõ ràng cũng có
nghĩa là rèn luyện sức bền, tinh thần nỗ lực và kỷ luật nhưng chắc chắn nó
không phải là trải nghiệm cho sáng tác. Khi những người đi bộ gặp nhau, họ cười
và chào, chia sẻ những con đường để ngắm cảnh, những gì có thể nhìn thấy từ mỏm
đất này hay mỏm đất kia.
Đi bộ là tự do. Đây là sự
tự do tâm lý, thậm chí là một cuộc tản bộ ngắn đơn giản: trút bỏ gánh nặng đang
đeo bám, quên đi công việc trong phút chốc để ra ngoài, dạo quanh, suy nghĩ về
những việc khác. Với một chuyến đi bộ thành nếp tâm lý, tính cách, quá trình tự
giải phóng được nhấn mạnh và những ý tưởng, cảm xúc mới được hình thành.
Bằng việc bước đi, bạn sẽ
thoát khỏi sự cám dỗ trở thành một ai đó, một cái tên, một lịch sử.
Trong thế giới tràn ngập
thông tin, nơi các giác quan bị kích thích gần 18 giờ mỗi ngày cùng nhiều áp lực
sống và công việc thì tự tại, tạm thời tách mình ra khỏi không gian sống cũng
là một cách để chữa lành, thanh thản tâm trí. Trong bối cảnh ấy, mỗi người có
cách chọn lựa để giải tỏa, tìm cảm hứng cho riêng mình.
Với các nhà văn, điều
này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng sáng tạo trong các tác phẩm.
Đi bộ cho phép chúng ta có thời gian để khám phá các ý tưởng, khám phá các khái
niệm và nhận ra những sai lầm.
Nietzsche (5) là một người đi bộ thực sự. Trong cuốn “The Wanderer and
His Shadow” (Kẻ lang thang và cái bóng),
ông viết: “Ngồi càng ít càng tốt; đừng tin bất kỳ ý tưởng nào không được sinh
ra trong không khí cởi mở và chuyển động tự do, say mê. Ngồi tại chỗ là thật sự
chống lại Đức Thánh Linh.”
Khi viết cuốn sách trên,
ông đã đi bộ một mình tám giờ một ngày. Nietzsche thường dừng lại để viết nguệch
ngoạc vào những cuốn sổ nhỏ bằng bút chì. Toàn bộ cuốn sách đã được sáng tác
trên đường đi.
Tất nhiên, đi bộ tạo ra
những điều khác nhau đối với những người khác nhau.
Đối với Nietzsche, đi bộ
không chỉ là thư giãn mà đó là nơi ông làm việc hiệu quả nhất. Còn Kant (6) thì đi bộ để trốn thoát khỏi công việc, để suy nghĩ về viết.
Nietzsche và Kant đều quan tâm đến đi bộ, đọc và viết nhưng phong cách của họ
hoàn toàn khác nhau.
Nietzsche là một người
đi bộ cừ khôi, không biết mệt mỏi, những chuyến đi bộ rất dài và nhọc. Ông thường
ăn uống tiết kiệm, giống như một ẩn sĩ, luôn thử những chế độ ăn kiêng, tìm kiếm
thứ ít gây khó chịu cho cái dạ dày mỏng manh của mình. Ngược lại, Kant ăn ngon
miệng, thích uống rượu và ngồi nhiều giờ bên bàn ăn. Dù nắng hay mưa Kant vẫn
đi bộ và luôn đi theo cùng một lộ trình, nhất quán đến mức hành trình xuyên
công viên của ông sau này được gọi là “Con đường đi bộ của triết gia”.
Về tốc độ, nhiều người
nghĩ rằng đi bộ nhanh là chìa khóa. Chúng ta được thúc đẩy để đến đích càng
nhanh càng tốt. Ảo tưởng về tốc độ là niềm tin rằng nó giúp tiết kiệm thời
gian. Tuy nhiên sự vội vàng và tốc độ làm cho thời gian trôi qua nhanh hơn. Từng
phút bị xé nát bởi sự chia cắt, nhồi nhét đến mức vỡ tung.
***
Nói đến triết gia đi bộ
phải nhắc đến J.J. Rousseau (7). Ông nổi tiếng với hai
tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội" và "Emile hay về giáo dục".
Nếu như “Bàn về khế ước xã hội” đã trở thành thánh kinh chính trị trong cuộc
Cách mạng Pháp thì cuốn “Emile hay về giáo dục” chính là "Tuyên ngôn giải
phóng tuổi trẻ". Trong cuốn này, Rousseau đề xướng tạo ra mẫu người công
dân tự do cho một xã hội dân chủ lý tưởng. Phương pháp giáo dục mà Rousseau đưa
ra là đặt trẻ em trong mối quan hệ với xã hội và tự nhiên theo từng giai đoạn,
giúp trẻ quen tự do, luôn tự chủ và hành động theo ý nó. Đặc biệt, trong một
chương của cuốn sách, ông nhấn mạnh vai trò của đi bộ trong việc giáo dục thể
chất và hình thành trí tuệ, nhân cách con người.
Nietzsche, Thoreau và
Rousseau cho rằng chúng ta nên đi bộ một mình bởi khi đi bộ, điều cần thiết là
tìm ra nhịp điệu cơ bản của riêng bạn và duy trì nó.
Murakami (8), nhà văn Nhật nổi tiếng, là người đam mê sáng tác nhưng ít
ai biết rằng ông là người thích đi bộ và là một vận đông viên Marathon trong thời
gian ông sống tại Mỹ, từng tham cuộc thi Marathon Thành phố New York năm 2005.
Tác phẩm ghi dấu lại điều
này là cuốn “What I Talk About When I Talk About Running” (Tôi nói gì khi bàn về chạy bộ) là một cuốn sách mang tính khám phá
vể những trải nghiệm chạy bộ và đi bộ dành cho cả những người hâm mộ cũng như
cho các vận động viên tìm thấy sự hài lòng tương tự.
Murakami đã chia sẻ
trong quyển sách rằng qua mỗi lần chạy hoặc đi bộ đường dài là mỗi lần ông có
thể quay lại và ngắm nhìn con người bên trong tâm hồn của mình, để từ đó hiểu
thêm về cuộc đời và mục đích sống thật sự của mình. Hành trình này song hành với
viết lách và cả hai đều đòi hỏi sự kiên trì, sức bền và duy trì nhịp độ của người
chạy - người cầm bút.
Tất cả những quan sát
trên hành trình đó đã trở thành những chất liệu văn học vô cùng quý giá trong
các tác phẩm của ông bởi ông chạy hay đi vì muốn cảm nhận từng bước chân, từng cơn
gió, khoảnh khắc tâm trí mở ra đón nhận mọi thứ từ bên trong lẫn bên ngoài. “Bạn
đi bộ/ chạy bộ không phải để ai đó công nhận, mà cho chính mình, với tôi, cho cả
việc viết lách nữa.”
Trong cuốn “The Art of
Wandering” (Nghệ thuật lang thang),
Merlin Coverly (9) nhìn vào lịch sử lâu dài của những nhà
văn cũng là những người đam mê đi bộ, với ý tưởng rằng cả hai là một và giống
nhau - một chuyến đi bộ vào nội tâm. Họ bỏ lại thế giới bên ngoài ở phía sau, để
điều hướng trí tưởng tượng tốt hơn và từ từ dỗ dành tiềm thức tiết lộ một số bí
mật của nó.
Tiểu thuyết gia Orson
Scott Card (10) đã gợi ý rằng “nên dành thời gian đi bộ một
giờ trước khi viết. Bạn có thể viết ít hơn một chút trong thời gian đã bỏ ra,
nhưng bạn có thể thấy rằng mình viết tốt hơn.”
Nhiều nghiên cứu đều cho
thấy sức mạnh não bộ thực sự tăng lên khi đi bộ - sáng tác, bản thân hoạt động
này là một cách để tăng cường khả năng suy nghĩ của bạn về một vấn đề trong cốt
truyện hoặc khám phá những bí mật sâu kín của nhân vật từ việc giải phóng tâm trí
để tiếp cận những ý tưởng mới được chôn giấu trong tiềm thức.
Hemingway (11) thích đi bộ như một cách giải quyết các vấn đề trong bài
viết của mình. Ông viết trong cuốn “A Moveable Feast” (Hội hè miên man): “Tôi thường đi bộ dọc theo bến cảng khi làm việc
xong hoặc khi tôi đang cố gắng nghĩ ra điều gì đó. Sẽ dễ dàng hơn để suy nghĩ nếu
tôi đang đi bộ và làm điều gì đó hoặc nhìn thấy mọi người làm điều gì đó mà họ
hiểu.”
Ông cũng xác nhận rằng hầu
hết việc viết lách hoặc ý tưởng viết được thực hiện ở xa máy đánh chữ, khỏi bàn
làm việc. “Tôi cho rằng nó xảy ra trong những khoảnh khắc yên tĩnh, tĩnh lặng,
khi bạn đang đi bộ, cạo râu hay chơi game hay bất cứ điều gì, kể cả việc dắt
chó đi dạo… mọi thứ đều tốt.”
Cadogan (12), trong bài tiểu luận “Walking While Black” viết; “Khi đi
bộ, chúng ta thu hút thế giới và bản thân mình lại với nhau. Bằng cách này hay
cách khác, tất cả các nhà văn đang đi bộ đều cố gắng đạt được sự hòa nhập giữa
bản thân, kinh nghiệm và thế giới… Họ bước đi giữa ký ức và sự lãng quên, giữa
ký ức và sự tha thứ trong những căng thẳng và giải tỏa khi viết lách cũng như
khi sống.”
Vì vậy, sức khỏe thể chất
của bạn không phải là điều duy nhất mà việc đi bộ mang lại. Bộ não của bạn cũng
được tăng cường để giải quyết các vấn đề khó khăn hay khơi gợi các ý tưởng mới.
Nói một cách khôi hài
theo kiểu Mark Twain (13): “Đi bộ cũng có thể
làm cho con chó của bạn hạnh phúc.”
--------------------------------
Chú thích:
(1). Frédéric Gros (1965) là một triết
gia đương đại người Pháp. Ông chuyên nghiên cứu về Michel Foucault. Cuốn sách nổi
tiếng của ông có tựa đề “A Philosophy of Walking” (Triết lý đi bộ) - 2014.
(2). Henry David Thoreau (1817 - 1862),
là nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học người Mỹ. Ông là một trong những
người đi tiên phong theo thuyết “Tiên nghiệm”
(transcendental). Tác phẩm của
ông gồm hơn 20 tập sách về nhiều đề tài lịch sử, tự nhiên, xã hội học, lý luận
về sinh thái học, văn chương.
(3). Arthur Rimbaud (1854 - 1891) là nhà
thơ Pháp, một trong những người sáng lập trường phái phái thơ tượng trưng
(Symbolisme), là nhà thơ có ảnh hưởng lớn tới văn học và nghệ thuật hiện đại.
(4). Gérard de Nerval (1808 - 1855), nhà
văn, nhà thơ, dịch giả người Pháp, là một nhân vật quan trọng trong thời kỳ chủ
nghĩa lãng mạn Pháp.
(5). Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844 -
1900) là triết gia Đức. Ông bắt đầu sự nghiệp là một nhà văn nhưng về sau đi
sâu vào phê bình, tôn giáo, đạo đức, văn hóa đương thời và triết học. Nietzsche được xem là một nhân vật quan trọng
có ảnh hưởng lớn trong triết học hiện đại với các thuyết hiện sinh
(existentialism), chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism), phân tâm học (psychoanalysis)
và nhiều tư tưởng khác.
(6). Immanuel Kant (1724 - 1804) là triết
gia Đức có ảnh hưởng lớn đến Kỷ nguyên Khai sáng. Ông được cho là một trong những
nhà triết học có ảnh hưởng nhất từ trước đến nay. Quan điểm của Kant ảnh hưởng
lớn đến triết học hiện đại, đặc biệt là đối với các lĩnh vực như nhận thức luận,
đạo đức, lý luận chính trị và mỹ học hậu hiện đại.
(7). Jean-Jacques Rousseau (1712 -
1778), triết gia thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp
1789, sự phát triển của lý thuyết xã hội, và sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc.
(8). Murakami Haruki (1949) là một trong
những tiểu thuyết gia, dịch giả văn học người Nhật Bản được biết đến nhiều nhất
hiện nay cả trong lẫn ngoài nước Nhật. Tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng
50 thứ tiếng trên thế giới. Murakami đã trở thành hiện tượng trong văn học Nhật
Bản đương đại.
(9). Merlin Coverly (1967) là nhà văn,
nhà nghiên cứu người Anh, là tác giả của bảy cuốn sách nghiên cứu về văn hóa,
văn học, nghiên cứu tác giả. Hiện đang sống tại London.
(10). Orson Scott Card (1951) là nhà văn
người Mỹ nổi tiếng với các tác phẩm khoa học viễn tưởng như “Ender's Game” (Trò
chơi của Ender), “Speaker for the Dead” (Người nói cho người chết). Tiểu thuyết
của Card thường kể về những nhân vật có năng khiếu đặc biệt, những người đưa ra
những lựa chọn khó khăn. Card đã xuất bản hơn 50 tiểu thuyết và 45 truyện ngắn.
(11). Ernest Hemingway (1899 - 1961) là một
tiểu thuyết gia người Mỹ, nhà văn viết truyện ngắn và là một nhà báo. Ông từng
tham gia Chiến tranh thế giới I, sau đó được biết đến qua cụm từ "Thế hệ
đã mất". Ông đoạt giải Nobel Văn học năm 1954.
(12). Cadogan (1965) nhà văn đương đại
người Mỹ gốc Jamaica.
(13). Mark Twain (1835 - 1910) là tiểu
thuyết gia và là nhà diễn thuyết nổi tiếng, sống và viết vào thời kỳ Nội chiến
Hoa Kỳ. Ông được mệnh danh là “nhà văn khôi hài” bởi bút pháp trào phúng nổi tiếng.
Tác phẩm của ông có tính chất châm biếm sâu sắc, miêu tả tâm lý khéo léo.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét