Harold Pinter, kịch tác gia người Anh - Nobel Văn học 2005 - ra mắt với tư cách nhà viết kịch vào năm 1957 với vở: The Room, được trình diễn tại Bristol. Những vở kịch đầu tiên khác bao gồm The Birthday Party (1957), sau này trở thành một trong những vở kịch được trình diễn nhiều nhất của ông, và The Dumb Waiter (1957). Bước đột phá thực sự của ông đến với The Caretaker (1959), tiếp theo là The Homecoming (1964) và các vở kịch khác... Dưới đây là một số câu trích từ các tác phẩm của ông.
1. “Một cách nhìn nhận về
lời nói là nó luôn mưu mẹo để che đậy sự trần trụi.” (One way of looking at speech is to say that it is a constant stratagem
to cover nakedness.)
2. “Có một số điều người
ta nhớ ngay cả khi chúng chưa từng xảy ra.” (There
are some things one remembers even though they may never have happened.)
3. “Tôi ghét rượu
brandy... nó bốc mùi văn học hiện đại.” (There
are some things one remembers even though they may never have happened.)
4. “Không có sự phân biệt
rõ ràng giữa cái gì là thật và cái gì là không thật, cũng như giữa cái gì là
đúng và cái gì là sai. Một điều không nhất thiết phải đúng hoặc sai; nó có thể
vừa đúng vừa sai.” (There are no hard
distinctions between what is real and what is unreal, nor between what is true
and what is false. A thing is not necessarily either true or false; it can be
both true and false.)
5. “Tôi nghĩ chúng ta
giao tiếp quá tốt, trong sự im lặng của mình, trong những điều không được nói
ra, và điều diễn ra là sự né tránh liên tục, những nỗ lực phòng thủ tuyệt vọng
để giữ mình cho riêng mình. Giao tiếp quá đáng sợ. Bước vào cuộc sống của người
khác quá đáng sợ. Tiết lộ cho người khác thấy sự nghèo nàn bên trong chúng ta
là một khả năng quá đáng sợ.” (I think we
communicate only too well, in our silence, in what is unsaid, and that what
takes place is a continual evasion, desperate rearguard attempts to keep
ourselves to ourselves. Communication is too alarming. To enter into someone
else's life is too frightening. To disclose to others the poverty within us is
too fearsome a possibility.)
6. “Rất khó để cảm thấy
khinh miệt người khác khi bạn nhìn thấy chính mình trong gương.” (It’s very difficult to feel contempt for
others when you see yourself in the mirror.)
7. “Quá khứ là những gì
bạn nhớ, tưởng tượng mình nhớ, tự thuyết phục mình nhớ, hoặc giả vờ nhớ.” (The past is what you remember, imagine you
remember, convince yourself you remember, or pretend you remember.)
8. “Khi cơn bão qua đi,
màn đêm buông xuống, mặt trăng tỏa sáng rực rỡ và tất cả những gì còn lại là nhịp
điệu của biển cả, của những con sóng, bạn biết Chúa đã định gì cho loài người,
bạn biết thiên đường là gì.” (When the
storm is over and night falls and the moon is out in all its glory and all
you're left with is the rhythm of the sea, of the waves, you know what God
intended for the human race, you know what paradise is.)
9. “Trải nghiệm càng
mãnh liệt, biểu hiện càng khó diễn đạt.” (The
more acute the experience, the less articulate its expression.)
10. “Những lời nói chúng
ta nghe được là dấu hiệu của những gì chúng ta không nghe thấy. Đó là một sự né
tránh cần thiết, một màn khói bạo lực, xảo quyệt, đau khổ hoặc chế giễu, giữ
cho người khác ở đúng vị trí của họ. Khi sự im lặng thực sự bao trùm, ta chỉ
còn lại tiếng vọng nhưng lại gần hơn với sự trần trụi. Một cách nhìn nhận về
ngôn từ là nó luôn là một chiến lược để che đậy sự trần trụi.” (The speech we hear is an indication of that
which we don't hear. It is a necessary avoidance, a violent, sly, and anguished
or mocking smoke screen which keeps the other in its true place. When true
silence falls we are left with echo but are nearer nakedness. One way of
looking at speech is to say that it is a constant stratagem to cover nakedness.)
11. “Dù nhìn nhận thế
nào đi nữa, tất cả những cảm xúc liên quan đến tình yêu đều không thực sự bất tử;
giống như mọi đam mê khác trong cuộc sống, chúng đều sẽ phai nhạt vào một lúc
nào đó. Bí quyết là biến tình yêu thành một tình bạn bền vững, vượt qua được sự
phai nhạt của đam mê.” (No matter how you
look at it, all the emotions connected with love are not really immortal; like
all other passions in life, they are bound to fade at some point. The trick is
to convert love into some lasting friendship that overcomes the fading passion.)
12. “Ngôn ngữ trong nghệ
thuật vẫn là một sự giao dịch đầy mơ hồ, một bãi cát lún, một tấm bạt nhún, một
hồ nước đóng băng có thể sụp đổ dưới chân bạn… bất cứ lúc nào.” (Language in art remains a highly ambiguous
transaction, a quicksand, a trampoline, a frozen pool which might give way
under you ... at any time.)
13. “Trong nghệ thuật kịch,
không bao giờ có một chân lý duy nhất. Có rất nhiều chân lý. Những chân lý này
thách thức lẫn nhau, phản chiếu lẫn nhau, phớt lờ lẫn nhau, trêu chọc lẫn nhau,
và mù quáng trước nhau. Đôi khi bạn cảm thấy mình nắm giữ chân lý của một khoảnh
khắc trong tay, rồi nó lại tuột khỏi tay và biến mất.” (There never is any such thing as one truth to be found in dramatic
art. There are many. These truths challenge each other, recoil from each other,
reflect each other, ignore each other, tease each other, are blind to each
other. Sometimes you feel you have the truth of a moment in your hand, then it
slips through your fingers and is lost.)
14. “Tôi không bao giờ
nghĩ mình là người khôn ngoan. Tôi nghĩ mình sở hữu một trí tuệ phê phán mà tôi
muốn cho phép nó hoạt động.” (I never
think of myself as wise. I think of myself as possessing a critical
intelligence which I intend to allow to operate.)
15. “Những tác phẩm hay
làm tôi hứng thú và khiến cuộc sống đáng sống hơn.” (Good writing excites me, and makes life worth living.)
16. “Đôi khi bạn cảm thấy
mình nắm giữ chân lý của một khoảnh khắc trong tay, rồi nó lại tuột khỏi tay và
biến mất.” (Sometimes you feel you have
the truth of a moment in your hand, then it slips through your fingers and is
lost.)
17. “Tôi không nên nói về
người chết vì người chết ở khắp mọi nơi.” (I
ought not to speak about the dead because the dead are all over the place.)
18. “Hãy cẩn thận khi bạn
nói về Chúa. Ngài là vị Chúa duy nhất mà chúng ta có. Nếu bạn để Ngài ra đi,
Ngài sẽ không quay lại. Ngài thậm chí sẽ không ngoái đầu nhìn lại. Và rồi bạn sẽ
làm gì?” (Be careful how you talk about
God. He's the only God we have. If you let him go he won't come back. He won't
even look back over his shoulder. And then what will you do?)
19. “Có những nơi trong
trái tim tôi...mà không một linh hồn sống nào...đã...hoặc có thể...xâm phạm.” (There are places in my heart...where no
living soul...has...or can ever...trespass.)
20. “Làm thế nào mà điều
chưa biết lại đáng được tôn kính? Nói cách khác, làm sao bạn có thể tôn kính thứ
mà bạn không biết? Đồng thời, thật nực cười khi cho rằng những gì chúng ta biết
đáng được tôn kính. Những gì chúng ta biết đáng được tôn kính ở nhiều khía cạnh
khác nhau, nhưng rõ ràng là sự tôn kính không phải là một trong số đó. Nói cách
khác, ngoài những điều đã biết và chưa biết, còn gì khác nữa?” (How can the unknown merit reverence? In
other words how can you revere that of which you are ignorant? At the same
time, it would be ridiculous to propose that what we know merits reverence.
What we know merits any one of a number of things, but it stands to reason
reverence isn't one of them. In other words, apart from the known and the
unknown, what else is there?)
21. “Một y tá đã nói rằng,
tế bào ung thư là những tế bào đã quên cách chết. Tôi đã rất ấn tượng với câu
nói này.” (This particular nurse said,
Cancer cells are those which have forgotten how to die. I was so struck by this
statement.)
22. “Tôi không quan tâm
người khác nghĩ gì. Đó hoàn toàn là việc riêng của họ. Tôi không viết cho người
khác.” (I don't give a damn what other
people think. It's entirely their own business. I'm not writing for other
people.)
23. “Mọi việc chúng ta
làm đều sửa chữa khoảng cách giữa cái chết và tôi và bạn.” (Everything we do Corrects the space Between death and me And you.)
24. “Là một nhà văn, bạn
đang giữ một con chó. Bạn để con chó chạy lung tung. Nhưng cuối cùng bạn có thể
kéo nó lại. Cuối cùng, tôi nắm quyền kiểm soát. Nhưng điều thú vị nhất là xem
điều gì sẽ xảy ra nếu bạn để mọi thứ tự do. Và con chó hoặc nhân vật thực sự chạy
lung tung, cắn tất cả mọi người trong tầm mắt, nhảy lên cây, rơi xuống hồ, bị ướt,
và bạn để điều đó xảy ra. Đó là sự thú vị của việc viết kịch - cho phép mọi thứ
được tự do nhưng vẫn giữ được sợi dây xích cuối cùng.” (As a writer you're holding a dog. You let the dog run about. But you
finally can pull him back. Finally, I'm in control. But the great excitement is
to see what happens if you let the whole thing go. And the dog or the character
really runs about, bites everyone in sight, jumps up trees, falls into lakes,
gets wet, and you let that happen. That's the excitement of writing plays-to
allow the thing to be free but still hold the final leash.)
25. “Trọng tài là luật
pháp. Họ có một cái còi. Họ thổi nó. Và tiếng còi đó là sự thể hiện công lý của
Chúa.” (Referees are the law. They have a
whistle. They blow it. And that whistle is the articulation of God's justice.)
26. “Tôi không viết với
bất kỳ khán giả nào trong tâm trí. Tôi chỉ viết thôi. Tôi mạo hiểm với khán giả.
Đó là điều tôi đã làm ban đầu, và tôi nghĩ nó đã hiệu quả - theo nghĩa là tôi
nhận thấy có một lượng khán giả nhất định.” (I
don't write with any audience in mind. I just write. I take a chance on the
audience. That's what I did originally, and I think it's worked--in the sense
that I find there is an audience.)
27. “Một cách nhìn nhận về ngôn từ là coi nó như một chiến lược liên tục để che đậy sự trần trụi.” (One way of looking at speech is to say it is a constant stratagem to cover nakedness.)
28. “Lý trí đã biến mất
từ lâu và không còn được nhìn thấy kể từ đó.” (Rationality went down the drain donkey's years ago and hasn't been
seen since.)
29. “Có những quy tắc tốt
và có những quy tắc tồi tệ.” (There are
some good rules and there are some lousy rules.)
30. “Tôi không có ý định
chỉ đơn giản là rút lui và viết kịch rồi trở thành một người ngoan ngoãn. Tôi
muốn duy trì tư duy chính trị độc lập của riêng mình.”
31. “Ý tôi là, nếu một
điều gì đó hiệu quả, nếu một điều gì đó đúng đắn, hãy tôn trọng điều đó, thừa
nhận nó, tôn trọng nó và giữ vững nó.” (I
mean, if a thing works, if a thing is right, respect that, acknowledge it,
respect it and hold to it.)
32. “Thỉnh thoảng, những
từ ngữ trên trang giấy vẫn tác động đến tôi. Và tôi vẫn yêu thích công việc đó,
như tôi đã làm trong 60 năm qua.” (Occasionally
it does hit me, the words on a page. And I still love doing that, as I have for
the last 60 years.)
33. “Khi bạn sống một cuộc
đời nghiên cứu, bạn không thể bận tâm đến những thực tế hài hước, bạn biết đấy,
những chuyện tầm phào, đại loại vậy.” (When
you lead a life of scholarship you can't be bothered with the humorous
realities, you know, tits, that kind of thing.)
34. “Một tác phẩm ngắn
cũng có ý nghĩa với tôi như một tác phẩm dài.” (A short piece of work means as much to me as a long piece of work.
* Mộc Nhân tuyển dịch từ nhiều nguồn


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét