6/7/26

3.926. HAROLD PINTER – Quotes

 


Harold Pinter, kịch tác gia người Anh - Nobel Văn học 2005 - ra mắt với tư cách nhà viết kịch vào năm 1957 với vở: The Room, được trình diễn tại Bristol. Những vở kịch đầu tiên khác bao gồm The Birthday Party (1957), sau này trở thành một trong những vở kịch được trình diễn nhiều nhất của ông, và The Dumb Waiter (1957). Bước đột phá thực sự của ông đến với The Caretaker (1959), tiếp theo là The Homecoming (1964) và các vở kịch khác... Dưới đây là một số câu trích từ các tác phẩm của ông.

 

1. “Một cách nhìn nhận về lời nói là nó luôn mưu mẹo để che đậy sự trần trụi.” (One way of looking at speech is to say that it is a constant stratagem to cover nakedness.)

 

2. “Có một số điều người ta nhớ ngay cả khi chúng chưa từng xảy ra.” (There are some things one remembers even though they may never have happened.)

 

3. “Tôi ghét rượu brandy... nó bốc mùi văn học hiện đại.” (There are some things one remembers even though they may never have happened.)

 

4. “Không có sự phân biệt rõ ràng giữa cái gì là thật và cái gì là không thật, cũng như giữa cái gì là đúng và cái gì là sai. Một điều không nhất thiết phải đúng hoặc sai; nó có thể vừa đúng vừa sai.” (There are no hard distinctions between what is real and what is unreal, nor between what is true and what is false. A thing is not necessarily either true or false; it can be both true and false.)

 

5. “Tôi nghĩ chúng ta giao tiếp quá tốt, trong sự im lặng của mình, trong những điều không được nói ra, và điều diễn ra là sự né tránh liên tục, những nỗ lực phòng thủ tuyệt vọng để giữ mình cho riêng mình. Giao tiếp quá đáng sợ. Bước vào cuộc sống của người khác quá đáng sợ. Tiết lộ cho người khác thấy sự nghèo nàn bên trong chúng ta là một khả năng quá đáng sợ.” (I think we communicate only too well, in our silence, in what is unsaid, and that what takes place is a continual evasion, desperate rearguard attempts to keep ourselves to ourselves. Communication is too alarming. To enter into someone else's life is too frightening. To disclose to others the poverty within us is too fearsome a possibility.)

 

6. “Rất khó để cảm thấy khinh miệt người khác khi bạn nhìn thấy chính mình trong gương.” (It’s very difficult to feel contempt for others when you see yourself in the mirror.)

 

7. “Quá khứ là những gì bạn nhớ, tưởng tượng mình nhớ, tự thuyết phục mình nhớ, hoặc giả vờ nhớ.” (The past is what you remember, imagine you remember, convince yourself you remember, or pretend you remember.)

 

8. “Khi cơn bão qua đi, màn đêm buông xuống, mặt trăng tỏa sáng rực rỡ và tất cả những gì còn lại là nhịp điệu của biển cả, của những con sóng, bạn biết Chúa đã định gì cho loài người, bạn biết thiên đường là gì.” (When the storm is over and night falls and the moon is out in all its glory and all you're left with is the rhythm of the sea, of the waves, you know what God intended for the human race, you know what paradise is.)

 

9. “Trải nghiệm càng mãnh liệt, biểu hiện càng khó diễn đạt.” (The more acute the experience, the less articulate its expression.)

 

10. “Những lời nói chúng ta nghe được là dấu hiệu của những gì chúng ta không nghe thấy. Đó là một sự né tránh cần thiết, một màn khói bạo lực, xảo quyệt, đau khổ hoặc chế giễu, giữ cho người khác ở đúng vị trí của họ. Khi sự im lặng thực sự bao trùm, ta chỉ còn lại tiếng vọng nhưng lại gần hơn với sự trần trụi. Một cách nhìn nhận về ngôn từ là nó luôn là một chiến lược để che đậy sự trần trụi.” (The speech we hear is an indication of that which we don't hear. It is a necessary avoidance, a violent, sly, and anguished or mocking smoke screen which keeps the other in its true place. When true silence falls we are left with echo but are nearer nakedness. One way of looking at speech is to say that it is a constant stratagem to cover nakedness.)

 

11. “Dù nhìn nhận thế nào đi nữa, tất cả những cảm xúc liên quan đến tình yêu đều không thực sự bất tử; giống như mọi đam mê khác trong cuộc sống, chúng đều sẽ phai nhạt vào một lúc nào đó. Bí quyết là biến tình yêu thành một tình bạn bền vững, vượt qua được sự phai nhạt của đam mê.” (No matter how you look at it, all the emotions connected with love are not really immortal; like all other passions in life, they are bound to fade at some point. The trick is to convert love into some lasting friendship that overcomes the fading passion.)

 

12. “Ngôn ngữ trong nghệ thuật vẫn là một sự giao dịch đầy mơ hồ, một bãi cát lún, một tấm bạt nhún, một hồ nước đóng băng có thể sụp đổ dưới chân bạn… bất cứ lúc nào.” (Language in art remains a highly ambiguous transaction, a quicksand, a trampoline, a frozen pool which might give way under you ... at any time.)

 

13. “Trong nghệ thuật kịch, không bao giờ có một chân lý duy nhất. Có rất nhiều chân lý. Những chân lý này thách thức lẫn nhau, phản chiếu lẫn nhau, phớt lờ lẫn nhau, trêu chọc lẫn nhau, và mù quáng trước nhau. Đôi khi bạn cảm thấy mình nắm giữ chân lý của một khoảnh khắc trong tay, rồi nó lại tuột khỏi tay và biến mất.” (There never is any such thing as one truth to be found in dramatic art. There are many. These truths challenge each other, recoil from each other, reflect each other, ignore each other, tease each other, are blind to each other. Sometimes you feel you have the truth of a moment in your hand, then it slips through your fingers and is lost.)

 

14. “Tôi không bao giờ nghĩ mình là người khôn ngoan. Tôi nghĩ mình sở hữu một trí tuệ phê phán mà tôi muốn cho phép nó hoạt động.” (I never think of myself as wise. I think of myself as possessing a critical intelligence which I intend to allow to operate.)

 

15. “Những tác phẩm hay làm tôi hứng thú và khiến cuộc sống đáng sống hơn.” (Good writing excites me, and makes life worth living.)

 

16. “Đôi khi bạn cảm thấy mình nắm giữ chân lý của một khoảnh khắc trong tay, rồi nó lại tuột khỏi tay và biến mất.” (Sometimes you feel you have the truth of a moment in your hand, then it slips through your fingers and is lost.)

 

17. “Tôi không nên nói về người chết vì người chết ở khắp mọi nơi.” (I ought not to speak about the dead because the dead are all over the place.)

 

18. “Hãy cẩn thận khi bạn nói về Chúa. Ngài là vị Chúa duy nhất mà chúng ta có. Nếu bạn để Ngài ra đi, Ngài sẽ không quay lại. Ngài thậm chí sẽ không ngoái đầu nhìn lại. Và rồi bạn sẽ làm gì?” (Be careful how you talk about God. He's the only God we have. If you let him go he won't come back. He won't even look back over his shoulder. And then what will you do?)

 

19. “Có những nơi trong trái tim tôi...mà không một linh hồn sống nào...đã...hoặc có thể...xâm phạm.” (There are places in my heart...where no living soul...has...or can ever...trespass.)

 

20. “Làm thế nào mà điều chưa biết lại đáng được tôn kính? Nói cách khác, làm sao bạn có thể tôn kính thứ mà bạn không biết? Đồng thời, thật nực cười khi cho rằng những gì chúng ta biết đáng được tôn kính. Những gì chúng ta biết đáng được tôn kính ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng rõ ràng là sự tôn kính không phải là một trong số đó. Nói cách khác, ngoài những điều đã biết và chưa biết, còn gì khác nữa?” (How can the unknown merit reverence? In other words how can you revere that of which you are ignorant? At the same time, it would be ridiculous to propose that what we know merits reverence. What we know merits any one of a number of things, but it stands to reason reverence isn't one of them. In other words, apart from the known and the unknown, what else is there?)

 

21. “Một y tá đã nói rằng, tế bào ung thư là những tế bào đã quên cách chết. Tôi đã rất ấn tượng với câu nói này.” (This particular nurse said, Cancer cells are those which have forgotten how to die. I was so struck by this statement.)

 

22. “Tôi không quan tâm người khác nghĩ gì. Đó hoàn toàn là việc riêng của họ. Tôi không viết cho người khác.” (I don't give a damn what other people think. It's entirely their own business. I'm not writing for other people.)

 

23. “Mọi việc chúng ta làm đều sửa chữa khoảng cách giữa cái chết và tôi và bạn.” (Everything we do Corrects the space Between death and me And you.)

 

24. “Là một nhà văn, bạn đang giữ một con chó. Bạn để con chó chạy lung tung. Nhưng cuối cùng bạn có thể kéo nó lại. Cuối cùng, tôi nắm quyền kiểm soát. Nhưng điều thú vị nhất là xem điều gì sẽ xảy ra nếu bạn để mọi thứ tự do. Và con chó hoặc nhân vật thực sự chạy lung tung, cắn tất cả mọi người trong tầm mắt, nhảy lên cây, rơi xuống hồ, bị ướt, và bạn để điều đó xảy ra. Đó là sự thú vị của việc viết kịch - cho phép mọi thứ được tự do nhưng vẫn giữ được sợi dây xích cuối cùng.” (As a writer you're holding a dog. You let the dog run about. But you finally can pull him back. Finally, I'm in control. But the great excitement is to see what happens if you let the whole thing go. And the dog or the character really runs about, bites everyone in sight, jumps up trees, falls into lakes, gets wet, and you let that happen. That's the excitement of writing plays-to allow the thing to be free but still hold the final leash.)

25. “Trọng tài là luật pháp. Họ có một cái còi. Họ thổi nó. Và tiếng còi đó là sự thể hiện công lý của Chúa.” (Referees are the law. They have a whistle. They blow it. And that whistle is the articulation of God's justice.)

 

26. “Tôi không viết với bất kỳ khán giả nào trong tâm trí. Tôi chỉ viết thôi. Tôi mạo hiểm với khán giả. Đó là điều tôi đã làm ban đầu, và tôi nghĩ nó đã hiệu quả - theo nghĩa là tôi nhận thấy có một lượng khán giả nhất định.” (I don't write with any audience in mind. I just write. I take a chance on the audience. That's what I did originally, and I think it's worked--in the sense that I find there is an audience.)

 

27. “Một cách nhìn nhận về ngôn từ là coi nó như một chiến lược liên tục để che đậy sự trần trụi.” (One way of looking at speech is to say it is a constant stratagem to cover nakedness.) 

 

28. “Lý trí đã biến mất từ ​​lâu và không còn được nhìn thấy kể từ đó.” (Rationality went down the drain donkey's years ago and hasn't been seen since.)

 

29. “Có những quy tắc tốt và có những quy tắc tồi tệ.” (There are some good rules and there are some lousy rules.)

 

30. “Tôi không có ý định chỉ đơn giản là rút lui và viết kịch rồi trở thành một người ngoan ngoãn. Tôi muốn duy trì tư duy chính trị độc lập của riêng mình.”

 

31. “Ý tôi là, nếu một điều gì đó hiệu quả, nếu một điều gì đó đúng đắn, hãy tôn trọng điều đó, thừa nhận nó, tôn trọng nó và giữ vững nó.” (I mean, if a thing works, if a thing is right, respect that, acknowledge it, respect it and hold to it.)

 

32. “Thỉnh thoảng, những từ ngữ trên trang giấy vẫn tác động đến tôi. Và tôi vẫn yêu thích công việc đó, như tôi đã làm trong 60 năm qua.” (Occasionally it does hit me, the words on a page. And I still love doing that, as I have for the last 60 years.)

 

33. “Khi bạn sống một cuộc đời nghiên cứu, bạn không thể bận tâm đến những thực tế hài hước, bạn biết đấy, những chuyện tầm phào, đại loại vậy.” (When you lead a life of scholarship you can't be bothered with the humorous realities, you know, tits, that kind of thing.)

 

34. “Một tác phẩm ngắn cũng có ý nghĩa với tôi như một tác phẩm dài.” (A short piece of work means as much to me as a long piece of work.


* Mộc Nhân tuyển dịch từ nhiều nguồn



Không có nhận xét nào: