24/4/12

153. TẢN MẠN BOLÉRO

Lê Đức Thịnh

          Boléro là một điệu nhạc dân gian của Tây Ban Nha được du nhập vào Việt nam từ khá lâu (khoảng đầu thế kỉ XX).
          Ở VN chưa biết ai là người sáng tác nhạc Boléro đầu tiên nhưng kể từ khi xuất hiện trong dòng chảy tân nhạc đến nay, nhạc Boléro đã có một chỗ đứng riêng trong lòng người yêu nhạc mà không lẫn lộn, không tranh hơn thua với bất kì điệu nhạc nào khác.

23/4/12

152. TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA ĐỌC


Lê Đức Thịnh

Trong kỳ họp lần thứ 28 của Đại hội đồng Liên hợp quốc , UNESCO đã quyết định chọn ngày 23-4 hàng năm làm “Ngày sách và bản quyền Thế giới” (World Book and Copyright Day). Điều đó nói lên tầm quan trọng của văn hóa đọc trong cộng đồng.
Ngày này được tổ chức hàng năm tại mỗi quốc gia nhằm bảo đảm cho mọi người khám phá và thỏa mãn sở thích đọc của mình, đồng thời là dịp để tôn vinh những tác giả đã có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ văn hóa, văn minh xã hội của nhân loại.
***

13/4/12

151. ÁNH TRĂNG VÀ MÙA XUÂN TRONG BÀI THƠ TANKA NHẬT BẢN

Yasunari Kawabata - Nguyễn Văn Nho biên dịch

Phần trích dịch dưới đây nằm trong đoạn đầu của bài  diễn  văn  nhận  giải  Nobel  văn  chương  của  Yasunari Kawabata, đọc tại Hàn Lâm viện Thụy Điển vào tháng 12 năm 1968, với nhan đề “Japan, the Beautiful  and Myself”.(1) Tanka  (đoản  ca),  là  thể  loại  thơ  độc đáo  của  Nhật  Bản,  gồm  31  âm  tiết. Kawabata  muốn  giới thiệu những bài thơ này để nêu bật tinh thần Nhật Bản về thơ ca trong bài diễn văn của mình. Người dịch những bài thơ này đã phóng tác thành những câu thơ mang hơi thở Việt Nam. Rõ ràng đó là việc làm dễ mắc phải sai lầm, một phần, vì qua ngôn ngữ thơ ca, dịch phẩm phải giống như việc tái tạo một sản phẩm mà điều may mắn hy vọng đạt được là tinh thần cốt tủy của sản phẩm cũ không sai lệch là bao, phần khác, người dịch đã chuyển từ bản dịch Anh ngữ chứ không phải từ nguyên ngữ Nhật Bản. Đó là lý do người dịch viết những lời này, với niềm mong mỏi bạn đọc bỏ qua cho những sai lầm lệch lạc, và đón nhận bài viết này nhẹ nhàng như cơn gió nhẹ thoảng qua, không ảnh hưởng gì đến ai cả.  
***

12/4/12

150. GẶP NGUYỄN QUANG THIỀU Ở LÀNG CHÙA

Nguyễn Giúp
Kính tặng NQT và những người bạn thơ  ở làng Chùa



Men theo sông Đáy tôi về quê ông
Mặt đê cỏ đã chết
Phù du bay trong chiều phù du cán dập phù du khuất tầm nhìn người lái xe
Chiếc gạt nước đánh thức tôi cơn mê sảng
Ông cười và nói về con người về xứ sở những nông dân
Chỉ mỗi phiên chợ mẹt rồi chạy đi chạy đi trước lúc mặt trời thức dậy
Râu bạc như mây như sương vỡ tung chiều những câu chuyện bại liệt
Tiếng côn trùng hốt hoảng bóng đêm tượng Phật ngả nhào…

Đêm nay hoa bưởi thơm như yếm
Cá hoa bay đầy sân
Đêm tràn ra sân đình đón gió mộc lan thở kí ức buồn khốn và những con chó không thèm tru trăng
Cơn ho người đàn bà kéo dài khúc ru thác đổ
Tôi thấy bóng mẹ tôi đổ theo con đường này con đường của giấc mơ đích
Thương câu chèo: Đất thấp, đất thấp, ông trời cao … í .. a ..” lỗi nhịp sương

Tháng ba, mưa xuân và nồm nhón chân bên cửa sổ đứng nhìn bầu trời mọc gió cây lộc vừng trồi lộc dăm ba câu thơ chín đỏ mặt ao
Từng cốc rượu trườn qua kẻ họng cũng không thể nào dịu đi cơn khát cố xứ
Và tôi đã bật khóc với mớ ngôn ngữ loài chim mộng du đuối những ý nghĩ xuyên sâu ngõ hẻm hun hút mở ra một cánh đồng đầy nắng đầy lúa

Phía ngoài đêm hết thảy giác quan kịch liệt bới tìm tiếng mõ thóat lên từ đáy sông mang hơi thở bất an giấc mơ vô thần em đến. Liệu những bóng ma leo lắt có soi đường chúng ta tìm ra những vệt xanh của giấc mơ kia?

Buổi sáng tiếng chim thức dậy sau tiếng ho khan của người đàn bà. Tôi đã tỉnh thức và ồn ào cùng tiếng chim trong vườn nhà
Sương bay rơi hạt
Câu thơ nhô lên nhìn mặt trời chìa nụ cười chìa bàn tay về phía những người bạn ấm áp mọc ra bên cạnh thế giới hoang lạnh và ghẻ ruồi

Trong ngôi nhà cổ tôi đã nhìn thấy một Nguyễn Quang Thiều xếp hình người số 4 không chăn màn gối gắm. Chỉ nghe tiếng ngáy kéo dài vội vã chảy ngược… chảy ngược tuổi thơ tôi về phía cố hương ông.

       Quảng nam, tháng 3/ 2012

9/4/12

149. ĐỌC TÂY TIẾN, NHỚ QUANG DŨNG

Đinh Công Tôn
(Tác giả hiện đang công tác tại
Trường THPT Lương Thúc Kỳ - Đại Lộc, Q.Nam)


Làm quan gặp phải thời binh lửa
Chỉ biết xông pha với chiến trường
Dẫu không còn ở cùng đồng đội
Tây Tiến còn đây khúc yêu thương.

Cheo leo trên vách chân đạp đỉnh
Đùa cợt với nhau chuyện ngửi trời
Mà không ! Ngửi má nàng tiên nữ
Cấy mộng vào đêm dáng kiều ơi !

Biên cương dầu một đi không lại
Chiến trường chẳng tiếc cả đời xanh
Đuốc hoa cười cợt chàng trai trẻ
Tuổi xuân vẫn trọn khúc quân hành.

Năm tháng đi qua hơn sáu chục
Đoàn binh vẫn sáng những chiều sương
Đất nước vào xuân tròn hẹn ước
Bút hoa ngày ấy mãi còn vương!

                             
ĐCT / 12-2011
                                 

* Mộc Nhân và bạn đọc chân thành cảm ơn tác giả đã gởi bài chia sẻ trên trang

4/4/12

148. LÀM CHỦ THỜI GIAN

SÁU THỦ THUẬT LÀM CHỦ THỜI GIAN THEO LỜI PHẬT DẠY
Lama Surya Das - Minh Phú dịch (giacngo)


Trong số tất cả những thứ mà chúng ta sử dụng không hợp lý và lạm dụng thì thời gian là thứ đáng kể nhất. Thời gian là cuộc sống, chúng ta lãng phí thời gian thì sẽ gây nguy hiểm cho bản thân. Giết thời gian có nghĩa là chúng ta đang giảm dần mạng sống của chính mình.
Hầu như tất cả mọi người đều than phiền là họ không có đủ thời gian. Nhưng tất cả thời gian đã tiêu tốn vào đâu? Tại sao những công cụ tiết kiệm sức lao động và các phương tiện đi lại, truyền thông nhanh hơn của nhân loại không giải phóng chúng ta? Hoặc ít nhất là cung cấp cho chúng ta khoảng thời gian rảnh rỗi để thực hiện những điều mà chúng ta muốn và cần phải làm, hoặc chỉ đơn giản là làm chậm lại và tận hưởng những gì chúng ta đã làm việc rất khó khăn để tạo ra chúng, tại sao lại không được? 
Thực ra, không phải chúng ta thiếu thời gian, mà là thiếu sự tập trung, sự tỉnh giác và không biết thiết lập tính ưu tiên. Chúng ta phải thay đổi không gian trong nhịp sống của mình - đánh thức mình bằng cách chuyển sang một cách tồn tại khác. Chúng ta có tất cả các thời gian trên thế giới. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, tùy vào cách chúng ta chọn để sử dụng nó ra sao.

1/4/12

147. THƠ THẨN VỚI NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN

                         Mộc Nhân Lê Đức Thịnh

                                                       (Để nhớ về TCS nhân ngày mất của ông)

Còn hai con mắt khóc người một con...

        1. PHÚC

            Ru em từng ngón xuân nồng
            Ru đời đã mất
            Mưa hồng
            Phôi pha
            Người về bỗng nhớ
            Nguyệt ca
            Rừng xưa đã khép
            Ru ta ngậm ngùi .

         2. ÂM

            Em đi bỏ lại con đường
            Bên đời hiu quạnh
            Quỳnh hương
            Ru Tình
            Tuổi đá buồn
            Nắng thuỷ tinh
            Cuối cùng cho một cuộc tình
            Ướt mi.

        3. BUỒN

           Ngẫu nhiên
           Nghe những tàn phai
           Tình sầu
           Còn có bao ngày
           Tình xa
           Phúc âm buồn
           Từng ngày qua
           Lời thiên thu gọi
           Có ta trong đời.


                           MN- LĐT 

146. ĐỜI VÀ NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN


Đặng Tiến

Trịnh Công Sơn chánh quán Huế, làng Minh Hương, tổ tiên gốcTrung Hoa. Làng Minh Hương nay sát nhập vào Bao Vinh thành xã Hương Vinh. Bao Vinh là thương cảng của Huế ngày xưa.
Anh sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Lạc Giao, tỉnh Ðắc Lắc, lớn lên trong một gia đình buôn bán giữa trung tâm thành phố Huế. Nhà đông anh chị em, ba trai năm gái, mà anh là con trưởng. Tuy có thăng trầm, nhưng nói chung là khá giả. 
Trịnh Công Sơn theo học chương trình Pháp, tại Trung học Pháp tại Huế, đến hết cấp 2. Năm ấy, 1955, cùng lớp có ca sĩ Kim Tước (Giáo sư Decoux, dạy khoa học, thỉnh thoảng mang đàn vĩ cầm vào lớp, đàn đệm cho học sinh hát). Lúc này Trịnh Công Sơn chơi guitare đã hay. Trường giải thể, dời vào Ðà Nẵng, Trịnh Công Sơn có lúc theo học trường Thiên Hựu, Providence ở Huế. Rồi chuyển vào Sài Gòn, học tại trường  Taberd,  hay Jean Jacques Rousseau.. gì đó. Sau đó vào học trường Sư Phạm Quy Nhơn, rồi đi dạy học vài năm tại Lâm Ðồng.

31/3/12

145. MỖI NĂM CHỈ MỘT NGÀY CÁ THÁNG TƯ

Nguyễn Hoàng  Đức

Có thể nói mọi bất hạnh xảy ra trên đời rồi dẫn đến bi kịch khủng khiếp là do nói dối hoặc bất tín. Tại sao vậy? Chúng ta vẫn thường nói đến ba chìa khóa căn bản để xây dựng cuộc đời tốt đẹp là CHÂN – THIỆN – MỸ. Chân – đứng đầu bảng, cũng là chân thật, chân tình. Vậy thì nói dối tức là ngược với CHÂN, làm sao chẳng dẫn đến đổ vỡ bất hạnh? Triết gia Hegel một bậc thầy của người Đức và thế giới đã lý giải thế này: một chiếc cột bị dựng nghiêng, người ta sẽ phải dựng cho tới khi nào nó đứng thẳng trên mặt đất, có như vậy nó mới không đổ. Một chiếc cột dựng nghiêng sẽ đố kéo theo cả tòa nhà đổ. Vậy thì khi chiếc cột đứng thẳng, đó chính là giá trị CHÂN LÝ của nó rằng: nó buộc phải đứng thẳng mới đứng vững và chống đỡ vòm mái hay thứ khác. 

27/3/12

144. TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRÃI NHẬN HUÂN CHƯƠNG LĐ HẠNG III

TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRÃI – ĐẠI LỘC 
ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG III
MN ghi chép
            Trường Trung học Đại Lộc sau năm 1975 tách ra thành trường cấp 1& 2 Đại Phước, Khu 7 Thị trấn Ái Nghĩa- Đại Lộc. Đến năm 1991, do nhu cầu phát triển của giáo dục huyện nhà và thực hiện đề án trường Liên xã, trường THCS Nguyễn Trãi được thành lập  theo QĐ số 816/ QĐ-UB ngày 01 tháng 8 năm 1991 của Ủy ban nhân dân Huyện Đại Lộc. Địa điểm trường đặt tại Khu 4 Thị trấn Ái Nghĩa.
Đến năm 1997 do sự phát triển về số lượng HS nên phải chia tách số HS về các xã Đại Hiệp, Đại Nghĩa về trường mới. Từ đó đến nay nhà trường chỉ còn HS của thị trấn Ái Nghĩa và một bộ phận HS của xã Đại Nghĩa. Trong nhiều năm qua trường đã tự khẳng định mình là một trong những địa điểm tin cậy về chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện Đại Lộc. Đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển chính trị, kinh tế xã hội của địa phương, xu thế hội nhập và phát triển hiện nay đòi hỏi sự nghiệp giáo dục cần quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục thế hệ trẻ thành những con người có đủ các phẩm chất đạo đức, năng lực sáng tạo để đáp ứng được công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
         Từ năm 1991 CSVC của trường được xây dựng mới, tương đối khang trang, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của việc đổi mới giáo dục.
Được sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam, Phòng GD&ĐT huyện Đại lộc, của chính quyền các cấp cùng với sự cố gắng phấn đấu của đội ngũ cán bộ, giáo viên, cha mẹ học sinh … trường THCS Nguyễn Trãi đã đủ tiêu chuẩn và được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia vào tháng  11 năm 2003.
Trong những năm qua, nhà trường đã từng bước khẳng định được uy tín, chất lượng của trường so với các trường trong địa bàn huyện. Nhà trường đã xây dựng được đội ngũ GV tương đối đồng đều về chuyên môn, nghiệp vụ và luôn đạt được những thành tích cao trong các hoạt động phong trào cũng như chất lượng giáo dục, chuyên môn.
       Từ khi thành lập đến nay, nhà trường liên tục nhiều năm đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc. Đã được 2 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 3 bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2 bằng khen của UBND Tỉnh và nhiều bằng khen của giám đốc Sở  GD&ĐT và UBND huyện.  
Với những thành tích xuất sắc đạt được từ năm học 2006-2007 đến năm học 2010-2011 nhà trường đã được Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba (QĐ số 2548/QĐ-CTN ngày 29 tháng 12 năm 2011).

143. THƠ , CUỘC LO TOAN ĐỔI MỚI

Nguyễn Hữu Quí

Thơ tồn tại như sự minh chứng cho sức sống của ngôn ngữ dân tộc. Chưa có dân tộc nào chối bỏ hay hạ thấp các nhà thơ chân chính, những người biết tôn vinh và chia sẻ với Tổ quốc mình bằng thi ca. Cũng không ai đánh giá, ghi nhận, xếp hạng nhà thơ chính xác, công bằng và sòng phẳng như đông đảo quần chúng nhân dân.

Thơ không chỉ có nghĩa mà chủ yếu phải là tình, là hồn, những khái niệm ai cũng biết nhưng lý giải một cách thấu triệt và sâu sắc là vô cùng khó. Trong thơ có hơi thở, hồn vía của dân tộc mình, đồng bào mình. Nó chính là cái thấm sâu nhất, lâu nhất và đương nhiên chi phối nhiều hơn cả trong hành trình sáng tạo của người cầm bút. Các nhà thơ đích thực ít ai không khởi đầu và đề cao chất truyền thống trong sáng tác thi ca. Bập vào những trào lưu, trường phái ngoại lai một cách vội vã, thiếu chọn lọc dường như làm cho người ta dễ quên điều đó. Hệ quả của sự tiếp nhận đó không mấy tích cực và sự thành công của nó cho đến hôm nay theo nhìn nhận của tôi là rất ít ỏi. Quá chuộng hình thức trong khi nội dung không mang được những phát hiện mới về cuộc sống, lạ xa với thế thái nhân tình, lợt lạt cảm xúc và cuối cùng là sự trắng tay của người cầm bút.

25/3/12

142. HÙNG VƯƠNG VỚI Ý THỨC DÂN TỘC

Nguyễn Đăng Thục

Hàng năm, đến ngày mồng 10 tháng 3, nhân dân Việt Nam trước đây từ cấp lãnh đạo cho đến nông dân các cấp xã hội, kéo nhau đến trước đền thờ vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ làm lễ tế nơi cố đô Phong Châu của nòi giống Việt. Đấy thật là một vị trí hùng vĩ của giang sơn khi mới mở, phía đông là núi Tam Đảo, phía nam là núi Tản Viên, ở giữa nhìn xuống hai giòng Lô giang và Thao giang, gặp nhau ở Bạch Hạc.
Giữa đền trên, một bức hoành phi với bốn chữ đại tự:
VIỆT NAM TRIỆU TỔ
(Việt Nam thuỷ tổ dựng nước).
Trên bàn thờ có mười ba chữ bài vị:
ĐỘT NGỘT CAO SƠN CỔ VIỆT HÙNG THỊ THẬP BÁT THÁNH VƯƠNG VỊ
(Vòi vọi núi cao họ Hùng nước Việt xưa 18 bài vị vua thánh.)
Chúng ta không biết Việt Nam là một nước Văn hiến kể từ bao giờ, chỉ biết trên đất Giao Chỉ gồm Quảng Đông, Bắc Việt và phía bắc Trung Việt ngày nay vốn là nơi gặp gỡ của hai chủng tộc, một thuộc về văn minh Đông Sơn mà di tích tiêu biểu trống đồng hiện thấy rải rác từ phía nam Dương Tử cho đến Nam Dương quần đảo, và một thuộc về văn minh Lạch Trường mà di tích tiêu biểu là Cổ mộ thiên động rải rác từ Tứ Xuyên xuống đến Thanh Hóa. Có lẽ vì sự gặp gỡ hai chủng tộc thuộc hai tinh thần văn hóa, một chủng tộc từ lục địa phương Bắc xuống với một chủng tộc từ hải đảo phương Nam lên, cho nên dân Việt ta đã lý tưởng hóa thành dòng dõi Rồng Tiên. Nhưng đấy là tín ngưỡng truyền thống dân tộc và đã là tín ngưỡng thì nó có một giá trị thiêng liêng ở đức tin tập thể.

22/3/12

141. CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG TRONG GIÁO DỤC và PHƯƠNG THỨC TƯ DUY TOÀN DIỆN

John Dewey


Là một nước chỉ hơn 200 tuổi, nếu so với các nước cổ đại thì Mỹ còn non trẻ; thế nhưng Mỹ lại là nước văn minh nhất, tiến bộ nhất trên thế giới. Điều gì khiến cho Mỹ đạt được vị trí như ngày nay? Nước Mỹ giàu tài nguyên thiên nhiên, hiển nhiên rồi, nhưng cũng có bao nhiêu quốc gia ngồi trên "mỏ vàng" mà nào biết sử dụng.
Nếu không do tài nguyên thiên nhiên, ắt hẳn phải do con người. Thế thì người Mỹ có gì khác biệt so với các giống dân trên thế giới? Người Mỹ quả có to con hơn, béo hơn các sắc dân da trắng thật, nhưng chắc hẳn bạn đọc cũng đồng ý rằng to xác chưa chắc đã làm cho đất nước tiến bộ. Vậy điều gì khiến cho Mỹ trở thành một nước hùng mạnh nhất trên thế giới? Nếu chúng ta cùng đồng ý với John Locke rằng: "Chín mươi phần trăm những người ta gặp, tốt hay xấu, hữu dụng hay vô tích sự, đều do giáo dục mà ra," thì chắc ta cũng phải đồng ý rằng sự hùng mạnh của một nước cũng do giáo dục tạo nên.
Như vậy, nền giáo dục của Mỹ có gì đặc biệt hoặc hay hơn nền giáo dục của các nước khác? Xin thưa, đó chính là nhờ ở Chủ nghĩa Thực Dụng và Phương pháp Tư duy Toàn diện do John Dewey, nhà giáo dục và triết gia hàng đầu của Mỹ xướng xuất từ cuối thế kỷ 19.

19/3/12

TỨ NHIẾP PHÁP và GIÁO DỤC

Lê Đức Thịnh

          Trong Bộ Kinh Duy-ma-cật của Nhà Phật ( Quyển thượng - Phẩm thứ nhất ) có nói đến  TỨ NHIẾP PHÁP. Đó là bốn phương pháp mà Bồ Tát dùng để nhiếp phục chúng sanh về với Phật pháp:
1. Bố thí nhiếp : Dùng việc bố thí để nhiếp phục. Ðạo Phật là đạo từ bi, cứu khổ. Mà những nỗi khổ lớn của con người là gì? Ðó là sự thiếu thốn về vật chất, sự mê mờ về tinh thần, và lòng lo sợ về đủ mọi thứ
Vậy người có lòng từ bi, muốn cứu khổ thì trước tiên phải xả bỏ tánh ích kỷ, phải cho mọi người những gì mình có, phải cho những gì người khác mong muốn. Nghĩa là phải làm hạnh bố thí. Do sự bố thí ấy mà mình cảm phục được người chung quanh, mà người chung quanh mới gần gũi thân mến mình và mong cầu học đạo.
2. Ái ngữ nhiếp : Dùng lời hay, ý đẹp để nhiếp phục. Tùy theo căn tánh chúng sanh mà khôn khéo nói năng, an ủi, khuyên lơn, khiến cho họ sinh lòng thân mến, cảm phục, rồi từ đó họ mới theo ta mà học đạo.
3. Lợi hành nhiếp : Dùng hành động vị tha hoặc lấy ích lợi để nhiếp phục khiến cho người ta sinh lòng thân mến mà theo ta học đạo. Bất luận việc lớn nhỏ, miễn giúp ích được cho người là không bao giờ từ nan, không cần phải đợi có dủ phương tiện mới làm lợi ích cho người được.
4. Đồng sự nhiếp : cùng hoà nhập, chan hoà, chia sẻ, cộng tác với người, không phân biệt để một mặt hướng dẫn, giúp đỡ họ trong nghề nghiệp, một mặt nêu cao gương lành, làm cho họ cảm mến mà theo.
Học Phật là để sống chứ không phải để thoát li cuộc sống. Thiết nghĩ lời dạy của Ngài không chỉ để tu tập và hành đạo mà còn để vận dụng cho cuộc sống trần thế. Tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà mỗi người có thể nhận thức và rút ra bài học “nhiếp phục” cho riêng mình.

Người làm công tác giáo dục cũng có thể vận dụng TỨ NHIẾP PHÁP trong việc giáo dục học sinh:

17/3/12

140. “LỜI RU LÁ CỎ” TRONG DÒNG CHẢY ĐỒNG QUÊ

Mộc Nhân - Lê Đức Thịnh

Kính tặng anh Nguyễn Hải Triều nhân đọc tập thơ “Lời ru lá cỏ” (Nxb ĐN, tháng 3-2012)


Nguyễn Hải Triều  quê Đại Lộc, Quảng Nam - Hội viên Hội Nhà văn QN
Sách đã in : Đại Lộc một vùng văn hóa (Biên khảo- 1995)
                     Rơm rạ mùa (Thơ - 2007), Lời ru lá cỏ (Thơ- 2012)
Sắp in : Vết rạn (Kịch bản sân khấu), Mùa sim (Truyện ngắn).

Nghe anh Nguyễn Hải Triều ra tập thơ mới, vui quá nên mới nhắn tin : “Đừng quên tặng thơ MN nghe, đừng quên đấy!”
Thực ra là nhắn tin thay cho lời chia vui cùng anh chứ biết NHT sao có thể quên bạn thơ. Đôi khi viết được mấy bài hay, anh còn dúi cho đọc lại còn hỏi chừng: “Mi thấy răng, mi thấy răng”.
Cũng có lúc bận quá chưa để mắt tới nhưng cứ trả lời anh : “Thấy đã, thấy sướng”. Chỉ cần thế, sự sướng hiện lên trên mắt anh, thế là tiếp: “Chúc anh sướng” và thấy anh sướng thật sự.
Dường như cái sự chia sẻ của người thơ với bạn đọc là một nhu cầu như yêu, như sống, như sướng vậy.
Chiều. Anh NHT đến. 
Áo sơ mi ngắn tay bỏ ngoài bình dị, phong trần trên chiếc xe Cub 79 cũ kỉ và đề tặng thơ ngay trên hiên nhà. Rồi lại tất bật “Để khi khác, để khi khác, tao còn có chuyện vui muốn nói với mi”
Chợt nhớ Nguyễn Mậu Hùng Kiệt từng gọi vui NHT là “Gã nhà quê” khi viết về tập “Rơm rạ mùa” – của anh ra mắt 2007.