26/5/12

160. THƠ VIỆT PHẢI ĐI ĐẾN TẬN CÙNG NGÔN NGỮ VIỆT

Lan Hương ( thực hiện)


Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha quan niệm: “Tư tưởng làm thơ phải khác người khác là rất chuẩn, có thể có cả tỷ người vội vã, nhưng cứ để họ thi đấu, người nào trụ được thì còn lại. Đôi khi sự công bố cũng chỉ là sự công bố, cái người ta sợ nhất vẫn là cái chưa công bố và người ta vẫn còn chờ đợi. Các nhà thơ hiện nay đang trong hội chứng dở nếp dở tẻ, không hồn nhiên được nữa, mà già dặn thì chưa tới. Thêm vào đó là hội chứng ham nổi tiếng. Cần phải biết theo cách nào. Có những người nổi tiếng chính bằng sự vô danh. Nhưng bây giờ tìm sự bình thường vô cùng khó. Dù vội vàng đến mấy thì cũng không nên vội vàng với thơ. Có một câu châm ngôn rằng: hãy vừa cày ruộng và vừa chờ chết. Có thể anh sẽ đi một chuyến vô tăm tích và không được gì cả, nhưng vẫn thực là anh”.
Hãy giữ gìn thơ Việt, đừng giết chết thơ Việt 

25/5/12

159. CHỚ ẢO TƯỞNG VỀ CÁCH TÂN THƠ


 Nguyễn Hoàng Đức

Vài năm gần đây, đứng trước tình trạng sình lầy, ứ đọng, dậm chân tại chỗ, bế tắc, đặc biệt tầm vóc sinh hoạt quá nhỏ bé của thơ, thì xuất hiện một trào lưu “vùng dậy” như một mặc cảm vượt thoát chua cay rằng: đâu đâu người ta cũng sẵn sàng chỉ ra cây bút này cách tân thơ, cây bút kia đổi mới thơ. Liệu cách tân hay đổi mới thơ có dễ dàng đến mức xuất hiện đại trà như vậy sao? Và cách tân có thực sự là liệu pháp thần tiên để cứu vãn sự nhạt nhẽo của thơ? Cách tân ư, cách tân có bao nhiêu giá trị nếu người ta chỉ có một chiếc bình nước sơn mới nhưng bên trong vẫn chỉ là rượu cũ vẫn cứ rỉ rả đàn nhị sáo trúc của ngũ âm ngày xửa ngày xưa?
 

21/5/12

158. THƠ VÀ SỰ LẠM PHÁT THƠ

Nguyễn Hiếu
(Nguồn : badamxoe)


“Tôi viết bài này đã lâu, cũng chẳng muôn đăng làm gì vì thiết nghĩ dù sao tôi cũng nghĩ đến cái tình anh em. Nhưng khổ một nỗi có thể do trình độ tôi có hạn nên tôi không hiểu vì sao Hội Nhà văn lại tán tụng thứ thơ “lai căng như kiểu ngưòi nứoc ngoài nói tiếng Việt không sõi”, làm hỏng thẩm mỹ của ngưòi đọc thơ, làm băng hoại ngôn ngữ Việt Nam muôn ngàn yêu quí của chúng ta, nên sau đôi hồi nghĩ ngợi, tôi quyết định cho Bà Đầm xòe công bố bài viết này. Có thể đúng,có thể sai về những ý kiến của tôi, rất mong anh em  xa gần góp ý, dậy bảo. Vẫn biết là một hội viên Hội Nhà văn, bài viết này sẽ có thể ít nhiều làm nhiều vị lãnh đạo hội không hài lòng. nhưng vì tồn vong của thi ca, sự trong sáng của tiếng Việt,  tôi quyết định cho đăng. Cám ơn những ai đọc bài này."

10/5/12

157. SỰ NGỘ NHẬN ĐI ĐẾN THA HÓA

Nguyễn Tất Thịnh



 Một bông hoa đẹp là chình nó và hòa được với những bông hoa đẹp khác.
Tôi thật cảm động khi biết rằng ngày xưa có những người làm biên tập xuất bản mót lại trong thùng giấy rác những tờ bị vò nát của ai đó để tìm lại những bài hay, lặn lội vất vả đến nơi xa cố tìm người không quen biết để thẩm định động viên họ cung cấp hay sửa lại đôi ý cho một tác phẩm nhỏ để in…từ đó có nhiều người đã thành danh, được công chúng nhớ đến tác phẩm của họ. Xuân Diệu tuyệt vời thế mà có tâm để tìm ra và nâng đỡ một mầm tài Thơ Trần Đăng Khoa. Có nhiều quốc sĩ thân gày yếu mà ‘mang chuông đi đánh nước người’ thật vinh quang…Những thày giáo đói khổ mà lỗi lạc quên mình cho thế hệ trẻ đứng trên vai mình
Tôi có dịp được tiếp xúc với khá nhiều người, nhiều giới, tạm gọi là tầng lớp khá trở lên của xã hội.có vài điều ( đương nhiên không phải là tất cả rồi, nhưng tương đối phổ biến ) nhận xét thế này :

9/5/12

156. ĐỐI MẶT VỚI NGUY CƠ BỊ ĐỒNG HÓA VĂN HÓA !

Tô Phán

Một dân tộc có thể chết từ văn hóa, chết bằng văn hóa!
Có một chiến trận không nóng bỏng và gây hiệu quả trực tiếp như mất đất, mất biển, mất người, mất tài sản, mất tự do, mất miếng cơm…, nhưng lại từng ngày, êm ả và ngọt ngào gặm nhấm xã hội, gặm nhấm mỗi con người; mà nếu không nhìn thấy trước, cuối cùng kẻ chiến bại sẽ là cả dân tộc, chịu một cái MẤT lớn hơn tất cả những cái mất nói trên cộng lại.
Một dân tộc bị “thất trận” về văn hóa thì không còn gì cả, đó là một dân tộc bị tan rã và chết, mặc dù hàng chục triệu sinh thể của nó có thể vẫn sống béo tốt ở khắp đó đây, nhưng tất cả đều mất gốc, không còn “căn cước” vì “không lớn nổi thành người” (thơ Đỗ Trung Quân).

6/5/12

155. NGẪM CHUYỆN BÚT TRE

Ngô Minh


Trong lịch sử thơ ca nước ta có lẽ tôi chưa biết có một nhà thơ nào sáng tạo ra một cấu trúc thơ riêng của mình có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống sinh hoạt xã hội của người Việt như Bút Tre. Thơ Bút Tre sinh ra từ những năm 60 của thế kỷ trước. Chỉ sau đó 5 năm thôi,Thơ Bút Tre đã được “nhân bản” thành các dòng thơ hậu Bút Tre khi ông còn sống, như Bút Tre trẻ, Bút Tre non, Bút Tre xanh, Bút Tre Tây….Bây giờ thì dân ta ai cũng thuộc những cậu thơ hậu Bút Tre :
"Anh đi công tác Plây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra;"
Hay:
            "Núi Voi trông thật giống con voi
            Có cả đầu đuôi, có cả vòi
            Núi cũng như người hăng sản xuất
Đầu thì trồng sắn, đít trồng khoai…."
Chắc chắn cuộc sống càng phát triển, thì “dòng thơ” Bút Tre ngày càng sinh sôi.
          Vậy thơ Bút Tre có phải là thơ không ? Dòng thơ đó sinh ra trong hoàn cảnh nào? Và tại sao nó lại được công chúng khắp cả nước truyền tụng, “nối mạng” liên tục như vậy ?. Nhà “Bút Tre học” Ngô Quang Nam qua cuốn sách đã cho chúng ta hiểu về thơ và giai thoại Bút Tre . Nhưng có thể do bối cảnh ông chưa muốn lý giải kỹ nguyên nhân tại sao lại sinh ra dòng thơ Bút Tre . Đây là một vấn đề xã hội học và lịch sử văn học nghiêm túc cần phải được nghiên cứu thấu đáo.

2/5/12

154. BÙI GIÁNG - K81 VÀ THÁC GRĂNG

K81 dã ngoại tại thác Grăng - Nam Giang
Hình ảnh từ Nguyễn Lương Tín và Mộc Nhân
Thơ lấy từ tập "Rong rêu", "Mười hai con mắt" của Bùi Giáng




Sáng nay chim hót thật nhiều
Tưởng nghe tiếng nói tình yêu đất trời
Chào anh suốt cõi chiêm bao
Suốt miền mộng mị đón vào đưa ra

24/4/12

153. TẢN MẠN BOLÉRO

Lê Đức Thịnh

          Boléro là một điệu nhạc dân gian của Tây Ban Nha được du nhập vào Việt nam từ khá lâu (khoảng đầu thế kỉ XX).
          Ở VN chưa biết ai là người sáng tác nhạc Boléro đầu tiên nhưng kể từ khi xuất hiện trong dòng chảy tân nhạc đến nay, nhạc Boléro đã có một chỗ đứng riêng trong lòng người yêu nhạc mà không lẫn lộn, không tranh hơn thua với bất kì điệu nhạc nào khác.

23/4/12

152. TẢN MẠN VỀ VĂN HÓA ĐỌC


Lê Đức Thịnh

Trong kỳ họp lần thứ 28 của Đại hội đồng Liên hợp quốc , UNESCO đã quyết định chọn ngày 23-4 hàng năm làm “Ngày sách và bản quyền Thế giới” (World Book and Copyright Day). Điều đó nói lên tầm quan trọng của văn hóa đọc trong cộng đồng.
Ngày này được tổ chức hàng năm tại mỗi quốc gia nhằm bảo đảm cho mọi người khám phá và thỏa mãn sở thích đọc của mình, đồng thời là dịp để tôn vinh những tác giả đã có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ văn hóa, văn minh xã hội của nhân loại.
***

13/4/12

151. ÁNH TRĂNG VÀ MÙA XUÂN TRONG BÀI THƠ TANKA NHẬT BẢN

Yasunari Kawabata - Nguyễn Văn Nho biên dịch

Phần trích dịch dưới đây nằm trong đoạn đầu của bài  diễn  văn  nhận  giải  Nobel  văn  chương  của  Yasunari Kawabata, đọc tại Hàn Lâm viện Thụy Điển vào tháng 12 năm 1968, với nhan đề “Japan, the Beautiful  and Myself”.(1) Tanka  (đoản  ca),  là  thể  loại  thơ  độc đáo  của  Nhật  Bản,  gồm  31  âm  tiết. Kawabata  muốn  giới thiệu những bài thơ này để nêu bật tinh thần Nhật Bản về thơ ca trong bài diễn văn của mình. Người dịch những bài thơ này đã phóng tác thành những câu thơ mang hơi thở Việt Nam. Rõ ràng đó là việc làm dễ mắc phải sai lầm, một phần, vì qua ngôn ngữ thơ ca, dịch phẩm phải giống như việc tái tạo một sản phẩm mà điều may mắn hy vọng đạt được là tinh thần cốt tủy của sản phẩm cũ không sai lệch là bao, phần khác, người dịch đã chuyển từ bản dịch Anh ngữ chứ không phải từ nguyên ngữ Nhật Bản. Đó là lý do người dịch viết những lời này, với niềm mong mỏi bạn đọc bỏ qua cho những sai lầm lệch lạc, và đón nhận bài viết này nhẹ nhàng như cơn gió nhẹ thoảng qua, không ảnh hưởng gì đến ai cả.  
***

12/4/12

150. GẶP NGUYỄN QUANG THIỀU Ở LÀNG CHÙA

Nguyễn Giúp
Kính tặng NQT và những người bạn thơ  ở làng Chùa



Men theo sông Đáy tôi về quê ông
Mặt đê cỏ đã chết
Phù du bay trong chiều phù du cán dập phù du khuất tầm nhìn người lái xe
Chiếc gạt nước đánh thức tôi cơn mê sảng
Ông cười và nói về con người về xứ sở những nông dân
Chỉ mỗi phiên chợ mẹt rồi chạy đi chạy đi trước lúc mặt trời thức dậy
Râu bạc như mây như sương vỡ tung chiều những câu chuyện bại liệt
Tiếng côn trùng hốt hoảng bóng đêm tượng Phật ngả nhào…

Đêm nay hoa bưởi thơm như yếm
Cá hoa bay đầy sân
Đêm tràn ra sân đình đón gió mộc lan thở kí ức buồn khốn và những con chó không thèm tru trăng
Cơn ho người đàn bà kéo dài khúc ru thác đổ
Tôi thấy bóng mẹ tôi đổ theo con đường này con đường của giấc mơ đích
Thương câu chèo: Đất thấp, đất thấp, ông trời cao … í .. a ..” lỗi nhịp sương

Tháng ba, mưa xuân và nồm nhón chân bên cửa sổ đứng nhìn bầu trời mọc gió cây lộc vừng trồi lộc dăm ba câu thơ chín đỏ mặt ao
Từng cốc rượu trườn qua kẻ họng cũng không thể nào dịu đi cơn khát cố xứ
Và tôi đã bật khóc với mớ ngôn ngữ loài chim mộng du đuối những ý nghĩ xuyên sâu ngõ hẻm hun hút mở ra một cánh đồng đầy nắng đầy lúa

Phía ngoài đêm hết thảy giác quan kịch liệt bới tìm tiếng mõ thóat lên từ đáy sông mang hơi thở bất an giấc mơ vô thần em đến. Liệu những bóng ma leo lắt có soi đường chúng ta tìm ra những vệt xanh của giấc mơ kia?

Buổi sáng tiếng chim thức dậy sau tiếng ho khan của người đàn bà. Tôi đã tỉnh thức và ồn ào cùng tiếng chim trong vườn nhà
Sương bay rơi hạt
Câu thơ nhô lên nhìn mặt trời chìa nụ cười chìa bàn tay về phía những người bạn ấm áp mọc ra bên cạnh thế giới hoang lạnh và ghẻ ruồi

Trong ngôi nhà cổ tôi đã nhìn thấy một Nguyễn Quang Thiều xếp hình người số 4 không chăn màn gối gắm. Chỉ nghe tiếng ngáy kéo dài vội vã chảy ngược… chảy ngược tuổi thơ tôi về phía cố hương ông.

       Quảng nam, tháng 3/ 2012

9/4/12

149. ĐỌC TÂY TIẾN, NHỚ QUANG DŨNG

Đinh Công Tôn
(Tác giả hiện đang công tác tại
Trường THPT Lương Thúc Kỳ - Đại Lộc, Q.Nam)


Làm quan gặp phải thời binh lửa
Chỉ biết xông pha với chiến trường
Dẫu không còn ở cùng đồng đội
Tây Tiến còn đây khúc yêu thương.

Cheo leo trên vách chân đạp đỉnh
Đùa cợt với nhau chuyện ngửi trời
Mà không ! Ngửi má nàng tiên nữ
Cấy mộng vào đêm dáng kiều ơi !

Biên cương dầu một đi không lại
Chiến trường chẳng tiếc cả đời xanh
Đuốc hoa cười cợt chàng trai trẻ
Tuổi xuân vẫn trọn khúc quân hành.

Năm tháng đi qua hơn sáu chục
Đoàn binh vẫn sáng những chiều sương
Đất nước vào xuân tròn hẹn ước
Bút hoa ngày ấy mãi còn vương!

                             
ĐCT / 12-2011
                                 

* Mộc Nhân và bạn đọc chân thành cảm ơn tác giả đã gởi bài chia sẻ trên trang

4/4/12

148. LÀM CHỦ THỜI GIAN

SÁU THỦ THUẬT LÀM CHỦ THỜI GIAN THEO LỜI PHẬT DẠY
Lama Surya Das - Minh Phú dịch (giacngo)


Trong số tất cả những thứ mà chúng ta sử dụng không hợp lý và lạm dụng thì thời gian là thứ đáng kể nhất. Thời gian là cuộc sống, chúng ta lãng phí thời gian thì sẽ gây nguy hiểm cho bản thân. Giết thời gian có nghĩa là chúng ta đang giảm dần mạng sống của chính mình.
Hầu như tất cả mọi người đều than phiền là họ không có đủ thời gian. Nhưng tất cả thời gian đã tiêu tốn vào đâu? Tại sao những công cụ tiết kiệm sức lao động và các phương tiện đi lại, truyền thông nhanh hơn của nhân loại không giải phóng chúng ta? Hoặc ít nhất là cung cấp cho chúng ta khoảng thời gian rảnh rỗi để thực hiện những điều mà chúng ta muốn và cần phải làm, hoặc chỉ đơn giản là làm chậm lại và tận hưởng những gì chúng ta đã làm việc rất khó khăn để tạo ra chúng, tại sao lại không được? 
Thực ra, không phải chúng ta thiếu thời gian, mà là thiếu sự tập trung, sự tỉnh giác và không biết thiết lập tính ưu tiên. Chúng ta phải thay đổi không gian trong nhịp sống của mình - đánh thức mình bằng cách chuyển sang một cách tồn tại khác. Chúng ta có tất cả các thời gian trên thế giới. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, tùy vào cách chúng ta chọn để sử dụng nó ra sao.

1/4/12

147. THƠ THẨN VỚI NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN

                         Mộc Nhân Lê Đức Thịnh

                                                       (Để nhớ về TCS nhân ngày mất của ông)

Còn hai con mắt khóc người một con...

        1. PHÚC

            Ru em từng ngón xuân nồng
            Ru đời đã mất
            Mưa hồng
            Phôi pha
            Người về bỗng nhớ
            Nguyệt ca
            Rừng xưa đã khép
            Ru ta ngậm ngùi .

         2. ÂM

            Em đi bỏ lại con đường
            Bên đời hiu quạnh
            Quỳnh hương
            Ru Tình
            Tuổi đá buồn
            Nắng thuỷ tinh
            Cuối cùng cho một cuộc tình
            Ướt mi.

        3. BUỒN

           Ngẫu nhiên
           Nghe những tàn phai
           Tình sầu
           Còn có bao ngày
           Tình xa
           Phúc âm buồn
           Từng ngày qua
           Lời thiên thu gọi
           Có ta trong đời.


                           MN- LĐT 

146. ĐỜI VÀ NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN


Đặng Tiến

Trịnh Công Sơn chánh quán Huế, làng Minh Hương, tổ tiên gốcTrung Hoa. Làng Minh Hương nay sát nhập vào Bao Vinh thành xã Hương Vinh. Bao Vinh là thương cảng của Huế ngày xưa.
Anh sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Lạc Giao, tỉnh Ðắc Lắc, lớn lên trong một gia đình buôn bán giữa trung tâm thành phố Huế. Nhà đông anh chị em, ba trai năm gái, mà anh là con trưởng. Tuy có thăng trầm, nhưng nói chung là khá giả. 
Trịnh Công Sơn theo học chương trình Pháp, tại Trung học Pháp tại Huế, đến hết cấp 2. Năm ấy, 1955, cùng lớp có ca sĩ Kim Tước (Giáo sư Decoux, dạy khoa học, thỉnh thoảng mang đàn vĩ cầm vào lớp, đàn đệm cho học sinh hát). Lúc này Trịnh Công Sơn chơi guitare đã hay. Trường giải thể, dời vào Ðà Nẵng, Trịnh Công Sơn có lúc theo học trường Thiên Hựu, Providence ở Huế. Rồi chuyển vào Sài Gòn, học tại trường  Taberd,  hay Jean Jacques Rousseau.. gì đó. Sau đó vào học trường Sư Phạm Quy Nhơn, rồi đi dạy học vài năm tại Lâm Ðồng.