7/2/26

3.778. KHOẢNH KHẮC VIẾT - Amit Chaudhuri

Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: “The Moment of Writing” - by Amit Chaudhuri
(2)


   Việc viết lách bắt đầu từ khi nào? Hành động đặt những từ đầu tiên lên trang giấy – như tôi đang làm bây giờ – được cho là khó khăn. Mặc dù những từ đó có thể bị xóa khỏi bản thảo cuối cùng, nhưng sự kháng cự của trang giấy trắng vẫn lên tiếng một cách chính đáng. 

Nó là cánh cửa dẫn đến điều chưa biết, giống như cánh cửa vào ngày đầu tiên bạn đến trường khi còn nhỏ. Một khi đã bước qua, bạn bước vào một thế giới khác; bạn bước vào câu chuyện, điều đó đòi hỏi bạn phải sống trong một không gian mới và một con người mới. Trước khi bước vào, bạn nhìn chằm chằm vào cánh cửa sáng rực của trang giấy trắng, một phần vì lo lắng và một phần vì mệt mỏi. Mệt mỏi bởi vì trang giấy trắng không chỉ là sự khởi đầu mà còn là sự kết thúc của một điều gì đó. Đó là sự kết thúc của những giờ, những ngày hoặc những tháng bạn đã dành để cân nhắc cả chủ đề và triển vọng viết về nó. Đến được trang giấy trắng tượng trưng cho việc chúng ta đi đến cuối không gian chưa được quyết định mà chúng ta gọi là cuộc sống. Giờ đây, chúng ta phải bắt tay vào kể chuyện.

Tôi cảm nhận được sự mất mát này khi đặt xuống từ đầu tiên - sự mất mát của việc trì hoãn và tự do không phải viết, những điều đối với tôi đồng nghĩa với cuộc sống—nhưng tôi cảm thấy mình phải đặt câu hỏi về mô hình mà chúng ta dùng để xác định chính xác thời điểm bắt đầu viết. Câu hỏi này có lẽ đặc biệt thích hợp với tôi, người thường xuyên quay trở lại—theo một số người—với cuộc sống của mình như một chủ đề. Người ta hỏi tôi rằng, khi nào tôi quyết định sẽ viết về một người chú trong cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình, hay một người anh em họ, hay thành phố Calcutta mà tôi từng đến thăm thời thơ ấu, hay Oxford thời sinh viên? Nhưng, chắc chắn trước đó, một khoảnh khắc khác đã xảy ra: nhận ra rằng người chú của tôi phi thường theo một cách nào đó mà người ta có thể viết về ông ấy. Tiếp theo đó là ý tưởng xây dựng một câu chuyện mà ông ấy là một nhân vật, và cuối cùng là hành động đặt những từ đầu tiên về ông ấy hoặc nơi ông ấy sống lên trang giấy.

Naipaul gọi quá trình chuyển đổi này là “khám phá chất liệu của chính mình” (discovery of one’s material), một sự chuyển đổi khó khăn mà một nhà văn phải trải qua từ giai đoạn học việc đầy đam mê trong văn học đến việc xây dựng một thế giới tưởng tượng của riêng mình. Sau đó – tôi dám chắc – vấn đề thành công bắt đầu trở nên, một cách kỳ lạ, không còn quan trọng nữa so với trước đây. Người học việc đọc những tác phẩm văn học vĩ đại và muốn tạo ra những tác phẩm tương tự; tác phẩm của anh ta, do đó, phải mang những dấu ấn phong cách và chủ đề của những gì đã được công nhận là văn chương. Tuy nhiên, đến một thời điểm nhất định, người học việc có thể thấy mình muốn, một cách khó hiểu, viết về chú của mình. Anh ta do dự: anh ta không chắc liệu chú của mình có phải là một chủ đề hợp lệ cho văn học hay không. Chúng ta lớn lên với những anh hùng thần thoại, và những người chú thường không tuân theo định nghĩa về người anh hùng. Chắc chắn tiểu thuyết cần phải đề cập đến những chủ đề và xung đột có ý nghĩa theo sự đồng thuận của giới phê bình. Cuối cùng, anh ta gạt bỏ sự băn khoăn của mình. Đây là cách mà việc viết văn bắt đầu.

Tôi đã viết về các chú của mình ít nhất hai lần (tôi dùng từ “chú” theo nghĩa đen nhưng cũng là cách nói tắt cho bất cứ điều gì tôi từng cho là không phù hợp với văn chương nghiêm túc). Lần đầu tiên là trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi, A Strange and Sublime Address. Lần cuối cùng là trong cuốn thứ sáu, Odysseus Abroad. Trong cả hai lần, những người chú này đều hiện diện trở lại trong trí tưởng tượng của tôi thông qua một quá trình mà chỉ có thể gọi là dịch thuật. Nghĩa là, tôi nhận ra họ đã tồn tại trong những cuốn sách khác. Tôi bắt gặp một trong những người chú của mình khi đọc Sons and Lovers lúc còn là sinh viên đại học ở London. Khi đọc về sự phóng khoáng yêu đời của Walter Morel và cách ông huýt sáo khi làm những công việc lặt vặt, tôi cảm thấy sự gần gũi của người chú ấy. Đây không phải là một suy nghĩ hoàn chỉnh; đó là một sự nhận ra bất ngờ về điều quen thuộc. Sau đó, tôi phát hiện ra ông ấy cũng xuất hiện trong những cuốn sách khác: ví dụ như A House for Mr Biswas. Việc khám phá ra họ, theo một nghĩa nào đó, chính là tham gia vào quá trình dịch thuật. Tôi không cần phải nhớ về ông ấy – việc đọc trở thành một hình thức tưởng tượng về thế giới của ông ấy: đọc là khởi đầu của việc viết (reading was the beginning of writing).

Nhiều năm sau, Odysseus Abroad ra đời như một kết quả của sự giao thoa giữa những bản sắc lẫn lộn. Năm 2001, lần đầu tiên trong đời, tôi mua một bức tranh: thực chất là một bức phác thảo bằng than chì. Đó là tác phẩm của một họa sĩ mà tôi rất yêu thích: F N ​​Souza. Ông đã sống ẩn dật ở New York và đến Calcutta chỉ một năm trước khi qua đời để triển lãm tại một phòng trưng bày. Giá cả, xét đến danh tiếng của Souza, thấp đến mức đáng kinh ngạc - tôi mua bức phác thảo với giá 55.000 rupee (hơn 800 đô la một chút, theo tỷ giá quy đổi hiện nay). Một người chú của tôi, dù là giám đốc điều hành vận tải biển, nhưng đã sống trong một căn phòng trọ nhỏ ở London suốt 30 năm, sau đó đã nghỉ hưu và đến Calcutta, dành phần lớn thời gian không làm gì ở nhà anh trai mình. Chính tôi là người đã khuyên ông trở về Ấn Độ năm 1991 để dự đám cưới của tôi. Kể từ đó, ông chỉ trở lại London trong những khoảng thời gian ngắn. Một buổi chiều nọ, chú tôi đến căn hộ của tôi mà không báo trước và thách thức tôi: “Nghe nói cháu vừa mua một bức tranh giá 55.000 rupee?” Tôi dẫn chú đến chỗ bức tranh treo trong phòng khách: một bức phác thảo bằng than chì hình đầu người đàn ông, được tạo nên từ những đường nét hoang dại và những vết lem luốc không liên tục. “Cháu trả chú 55.000 rupee cũng chẳng khác nào trả tiền để chú đánh rắm,” chú tôi nói. “Nhưng đây là một bức tranh tuyệt vời!” tôi phản đối. “Và người đàn ông trong tranh trông hơi giống chú, phải không?” “Đúng vậy,” chú tôi đáp, “rằng tác phẩm của một kẻ ngốc và tác phẩm của một thiên tài trông rất giống nhau.” (that the work of an idiot and the work of a genius look very alike.) Nói xong, chú bỏ đi. Tôi đứng đó, đánh giá món đồ mình vừa mua và sự giống nhau giữa người đàn ông trong tranh với người đàn ông đã chế giễu nó. Tôi chợt nhớ ra rằng Souza đã đặt tên cho bức phác thảo là “Ulysses”. Tôi chợt nghĩ: chẳng phải chú tôi cũng có chút gì đó giống Odysseus sao? Chú là một người lang thang. Chú không sở hữu bất động sản nào. Liệu tôi có thể viết một cuốn sách mà trong đó chú đóng vai Odysseus không? Ý tưởng đó - cái gọi là “bản dịch”—xuất hiện vào chiều hôm ấy. Phải mất một thập kỷ (khoảng thời gian chuyến hành trình của Odysseus) để những hệ quả của ý tưởng đó dần được hé lộ, và tôi mới bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết.

Việc viết thực sự bắt đầu khi nào? Theo quy ước, đó là khi ta viết từ hoặc câu đầu tiên lên trang giấy; đặt bút lên giấy, như ta vẫn làm. Quá trình dẫn đến khoảnh khắc này bao gồm ký ức, sự tiếp nhận và sự biến đổi – sự phân tách – biến những suy nghĩ và hình ảnh vô hình thành từ ngữ và câu chuyện. Bạn trải nghiệm mọi thứ; bạn sống; từ những trải nghiệm đó, bạn tạo ra tác phẩm viết. Ngày nay, đối với tôi, tôi cảm thấy mô hình này ngày càng ít đúng. Vì tôi thường xuyên viết về cuộc sống của mình – hay đúng hơn là về cuộc sống nói chung như tôi biết – nên tôi thấy ngày càng khó phân định ranh giới giữa cuộc sống tôi sống trong cuốn sách với cuộc sống tôi sống bên ngoài nó; giữa việc viết bằng từ ngữ với việc viết không dùng từ ngữ. Viết là một nhận thức không có chủ đích về một điều gì đó đang hình thành. Nhiều thứ trở thành một phần của hào quang khả năng mà chúng ta gọi là “viết” – con phố ta đang đi; một ban công có người đàn ông trên đó; âm thanh từ con phố bên cạnh. Việc tạo ra một cuốn sách chứa đựng con phố hay ban công đó chỉ là một phần của việc viết. Viết lách lan tỏa từ trang sách, vào một lĩnh vực không có ngôn từ, chỉ có nhận thức rằng điều gì đó đã xảy ra. Điều đã xảy ra không phải là một sự kiện; đó là việc viết, có thể bắt đầu bất cứ lúc nào, bởi vì bất kỳ khoảnh khắc nào cũng là khoảnh khắc của khả năng (in that any moment is a moment of possibility).

Hãy để tôi đưa ra một ví dụ. Nhiều người trong chúng ta mua sách vì những lý do khác nhau - chúng ta đã nghe nói về tác giả hoặc về một cuốn tiểu thuyết cụ thể; nó đã đoạt giải thưởng; cuốn sách nằm trong chương trình học (vẫn có chương trình học ngay cả sau khi chúng ta rời trường, và chúng ta ngoan ngoãn học những gì có trong đó). Hoặc có thể chúng ta bị thu hút bởi tiêu đề, hoặc bị cuốn hút bởi bìa sách. Đó có thể là sự kết hợp của tất cả hoặc một số lý do này. Số lượng sách chúng ta mua nhiều hơn rất nhiều so với số sách chúng ta đọc. Một lần nữa, lý do không đọc sách rất nhiều - trì hoãn, vì thiếu thời gian, là một lý do phổ biến. Nhưng một nguyên nhân mạnh mẽ khiến chúng ta không đọc sách là vì người viết trong chúng ta - tôi dùng từ “người viết” không phải cho người đã xuất bản sách, mà cho bất cứ ai bị thôi thúc bởi khả năng viết - lấn át người đọc. Điều này có thể xảy ra khi chúng ta bị cuốn hút bởi bìa sách và cứ mãi ngắm nghía, không thể lật sang trang đầu tiên. Hình ảnh trên bìa, thiết kế, kiểu chữ - tất cả đã đưa chúng ta vào thế giới của những khả năng. Một khi đã bước vào câu chuyện mà khả năng đó tạo ra, việc đọc chính cuốn tiểu thuyết trở nên thừa thãi. Chúng ta có thể không viết một chữ nào, nhưng người viết trong chúng ta vẫn chiếm ưu thế. Một phiên bản của cuốn tiểu thuyết hiện ra từ bìa sách - hoặc thậm chí là từ tiêu đề - đã mê hoặc chúng ta (A version of the novel emerging from the jacket - or even the title - holds us in its spell). Đó là lý do tại sao đống sách chưa đọc trên giá sách của chúng ta thường không bao giờ là gánh nặng. Chúng báo hiệu một khả năng—không phải là chúng ta sẽ đọc chúng vào một ngày nào đó, mà là ý tưởng, và khoảnh khắc, viết lách luôn hiện hữu trong chúng ta.

-----------

Chú thích:

(1). Text Available Here

(2). Amit Chaudhuri (1962-) là một tiểu thuyết gia, nhà viết luận, nhà thơ và nhạc sĩ người Mỹ gốc Ấn Độ. Ông là giáo sư văn học đương đại tại Đại học East Anglia. Năm 2013, ông được trao Giải thưởng Infosys vì những đóng góp xuất sắc cho nhân văn trong Nghiên cứu Văn học. Ông chuyên viết tiểu luận văn học cho  các tờ: The Paris Review, The Telegraph. (Cre) 

Không có nhận xét nào: