Mộc Nhân dịch (1)
Nguyên tác: “In Praise of the New Aphorism, No Longer Just For Great Men" - (Ngợi ca châm ngôn mới, không còn chỉ dành cho những vĩ nhân) – by Kristen Martin (2) - Về cách làm mới châm ngôn của Sarah Manguso, Maggie Nelson, và Rivka Galchen.
Khi còn là một thiếu
niên, tôi bắt đầu sưu tầm những câu châm ngôn. Tôi đã hình thành thói quen ghi
chép lại những câu trích dẫn từ sách, bài hát và phim ảnh, viết nguệch ngoạc
chúng vào sổ tay và trên bìa cặp sách. Tôi đặc biệt yêu thích những câu thoại
trong phim Ferris Bueller’s Day Off -
“Cuộc sống trôi qua khá nhanh. Nếu bạn không dừng lại và nhìn xung quanh đôi
khi, bạn có thể bỏ lỡ nó”… hoặc trong cuốn The
Catcher in the Rye của J.D. Salinger - “Tất cả những kẻ ngốc đều ghét khi bạn
gọi họ là kẻ ngốc”... Đó là thời đại của các hồ sơ AIM (Asset Information Model
– Thông tin giá trị bản thân), thời mà người ta tự định nghĩa bản thân bằng một
câu nói ngắn gọn, sâu sắc, và tôi thay đổi câu trích dẫn của mình gần như mỗi
ngày.
Tôi thích việc tách những
điều mình cho là khôn ngoan ra khỏi ngữ cảnh – thật an ủi khi có những viên ngọc
quý của chân lý phổ quát để quay lại, để lặp đi lặp lại như những câu thần chú
nhỏ trong đầu. Tôi không hề đơn độc trong thôi thúc này: truyền thống sổ tay
ghi chép – một loại sổ tay chứa đầy tục ngữ, châm ngôn, câu nói hay và những điều
thoáng qua khác – đã có từ nhiều thế kỷ trước. Từ Milton đến Jack, đến H.P.
Lovecraft đều từng giữ một cuốn sổ tay ghi chép; Jack đã ghi lại những cụm từ
tiếng Latin và những mẩu chuyện khôn ngoan trong một cuốn sổ lịch từ công ty bảo
hiểm mà ông làm việc.
Tuy nhiên, ở một thời điểm
nào đó, tôi bắt đầu hoài nghi về những câu châm ngôn – có lẽ khi tôi nhận ra
chúng thực sự là gì. Định nghĩa về “châm ngôn” đã thay đổi theo thời gian, từ
cách sử dụng ban đầu của Hippocrates vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên để mô tả
những lời dạy y học ngắn gọn đến sự hiểu biết hiện tại của chúng ta, được tóm gọn
trong Từ điển tiếng Anh Oxford: “Bất kỳ nguyên tắc hoặc giới luật nào được diễn
đạt bằng ít từ; một câu ngắn gọn, súc tích chứa đựng một chân lý có ý nghĩa
chung; một câu châm ngôn.” Tuy nhiên, điều đó cũng không hoàn toàn chính xác –
như John Gross giải thích trong phần giới thiệu của cuốn sách The Oxford Book
of Aphorisms, châm ngôn khác với câu châm ngôn, bởi vì câu châm ngôn gợi nhớ đến
“một điều gì đó đang chờ được đưa ra theo tinh thần của Polonius,” trong khi
châm ngôn thì “mang tính chất lật đổ hơn rõ rệt.” Gross cũng nói thêm rằng “đặc
điểm rõ ràng nhất của châm ngôn, ngoài tính ngắn gọn, là nó mang tính khái
quát. Nó đưa ra nhận xét về một khía cạnh lặp đi lặp lại nào đó của cuộc sống,
được diễn đạt bằng những thuật ngữ có ý nghĩa áp dụng vĩnh viễn và phổ quát.”
Việc cố gắng đạt đến sự
vĩnh cửu và khái quát hóa quá mức này khiến tôi khó chịu với những câu châm
ngôn, khiến tôi đảo mắt trước những câu trích dẫn (thường không ghi nguồn) mà
tôi vẫn thấy tràn lan trên Instagram, như câu này của nhà thơ Insta-poet R.M.
Drake: “Nếu không đau thì còn ý nghĩa gì nữa? Yêu đến khi đau, yêu đến khi chết
và yêu mỗi ngày cho đến khi nằm trong mộ.” Ý tưởng rằng những cụm từ như vậy có
thể áp dụng phổ quát, rằng chúng đại diện cho chân lý với chữ T (Trust) viết
hoa. Tìm đến những cụm từ ngắn gọn như vậy để xin lời khuyên hay sự an ủi có thể
dẫn đến ngõ cụt, chỉ nhằm mục đích tự xoa dịu. Sự thoải mái là kẻ thù của sự
tìm tòi, như một câu châm ngôn vẫn nói. Chỉ khi chúng ta cảm thấy bất an, khi
có sự bất hòa dai dẳng đòi hỏi phải nhìn sâu hơn vào những kiến thức đã được
chấp nhận, chúng ta mới đặt câu hỏi về thế giới xung quanh mình. Tôi cho rằng,
trái ngược với Gross, ngày nay chúng ta sử dụng châm ngôn giống như những câu
nói cửa miệng hơn – châm ngôn kết hợp với bài đăng trên Instagram là “một câu
trả lời sáo rỗng”, cụm từ mà Gross dùng để hạ thấp tầm quan trọng của câu nói cửa
miệng. Nhưng cuốn sách mới của Sarah Manguso, 300 Arguments (300 lập luận), yêu cầu chúng ta đánh giá lại khả
năng truyền cảm hứng cho sự tìm tòi của châm ngôn.
Trong 300 Arguments, Manguso đã hồi sinh châm
ngôn khỏi sự suy thoái thành câu nói cửa miệng, đưa nó trở lại như một động lực
thúc đẩy tư duy thay vì làm tê liệt nó. Manguso, tác giả của những cuốn sách
trước đó bao gồm Ongoingness (Sự tiếp
diễn), một cuốn nhật ký dài 800.000 từ được cô đọng trong 104 trang, và The Two Kinds of Decay (Hai loại phân rã),
được trình bày dưới dạng các chương thơ mộng, cô đọng, là một nhà văn tìm kiếm
sự hoàn hảo trong hình thức nhỏ gọn. Như bà đã viết trong bài “Tóm lại: Ba mươi
sáu cách nhìn nhận về câu châm ngôn”, một bài viết cho tạp chí Harper’s vào mùa
thu năm ngoái, “Những tác phẩm văn học ngắn nhất không hướng đến sự vĩ đại mà
là sự hoàn hảo, điều kiện tối cao của sự hoàn thiện.” 300 Luận điểm trình bày
300 nỗ lực theo đuổi sự hoàn hảo này, với các chủ đề trải rộng từ nghề thủ công
đến nỗi đau khổ, thành công, trầm cảm đến tình mẫu tử.
Những hạt nhân này dường
như không liên quan, nhưng không thể cưỡng lại được sự thôi thúc tìm ra mối
liên hệ giữa chúng, biến việc đọc cuốn sách này thành một bài tập về phép nối
câu hơn là phép liệt kê câu. Mỗi lần đọc cuốn sách 90 trang này, tôi lại tạo ra
một câu chuyện khác nhau từ những câu châm ngôn của Manguso. Đầu tiên, tôi tìm
thấy một câu chuyện về tham vọng và sự đố kỵ: “Nghề nghiệp và tham vọng khác
nhau, nhưng tham vọng không biết sự khác biệt” xuất hiện đối lập với “Khi tôi
chìm đắm trong sự đố kỵ, tôi đố kỵ với tất cả những người đã từng đạt được bất
cứ điều gì, thậm chí cả những điều tôi đã đạt được mười lăm năm trước.” Lần tiếp
theo, cuốn sách dường như là một sự suy ngẫm về cuộc sống viết văn: “Tôi không
yêu thích việc viết lách. Tôi yêu thích việc có một vấn đề mà tôi tin rằng một
ngày nào đó mình có thể tìm ra cách giải quyết bằng văn chương.” Sau đó, là một
sự chiêm nghiệm sâu sắc hơn về sự hữu hạn của cuộc sống và những gì có thể đạt
được trong đời: “Cái chết sẽ tiết lộ những gì bạn lẽ ra đã hoàn thành. Cũng như
những gì bạn sẽ không bao giờ hoàn thành. Tôi tìm thấy những ghi chú cho một cuốn
sách mà một người phụ nữ đã viết trong ba mươi năm: mười sáu trang.”
Những câu châm ngôn rời
rạc của Manguso mời gọi người đọc nhìn sâu hơn vào chúng, đặt câu hỏi về chúng,
kiểm tra ứng dụng của chúng và tưởng tượng ra bối cảnh cho chúng. Đây là sự trở
lại với mục đích mà câu châm ngôn hướng đến: như Francis Bacon đã nói, “Những
câu châm ngôn, thể hiện một kiến thức rời rạc, mời gọi con người tìm tòi
thêm; trong khi các phương pháp, mang vẻ bề ngoài của một tổng thể, lại đảm bảo
cho con người, như thể họ đã đạt đến đỉnh cao nhất.” Hoặc, như James Geary đã
viết trong lời giới thiệu cuốn sách The World in a Phrase: A History of
Aphorisms (Thế giới trong một câu: Lịch sử các câu châm ngôn), “Các câu châm
ngôn mang đến cú sốc ngắn gọn, sắc bén về một chân lý cũ bị lãng quên… Châm
ngôn là động lực thúc đẩy hành động. Chỉ đọc một câu và lẩm bẩm một cách khôn
ngoan với chính mình: Thật đúng, thật đúng, là chưa đủ.”
Bằng cách đóng vai trò
là động lực chứ không phải điểm kết thúc, loại châm ngôn này thuộc một thể loại
hoàn toàn khác so với thơ trên Instagram và những câu nói truyền cảm hứng trên
mạng. Nó cũng khác với một số châm ngôn nổi tiếng nhất, vốn đã trở thành những
câu nói sáo rỗng đến mức gần như vô nghĩa. Thay vào đó, những lập luận gây khó
chịu của Manguso mang thế giới trở lại với người đọc ở 300 góc độ khác nhau,
gây sốc. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là, dự án này nổi bật bởi vì với
"300 Lập luận", Manguso đã giật lấy châm ngôn khỏi sự thống trị của
những "Vĩ nhân".
Xét về mặt lịch sử, những
người viết châm ngôn thường là nam giới. Như Manguso đã chỉ ra trong một bài
phân tích về châm ngôn trên tạp chí Harpers, "Trong số khoảng 500 nhà văn
trong mục lục của tuyển tập Oxford, chỉ có tối đa 50 phụ nữ." Sau đó, bà
lưu ý rằng “những người phụ nữ trong cuốn sách, những người viết ra những câu
châm ngôn độc lập thực sự, hầu hết đều là quý tộc Pháp.” W.H. Auden đã giải
thích mối liên hệ này trong một trong những câu châm ngôn mang tính siêu hình của
ông: “Châm ngôn về bản chất là một thể loại văn viết của giới quý tộc.” Điều
này hoàn toàn hợp lý; Manguso giải thích rằng “trước Cách mạng Công nghiệp,” chỉ
có phụ nữ quý tộc mới có được trình độ học vấn hoặc thời gian rảnh rỗi cần thiết
để chắt lọc trí tuệ thành những câu nói ngắn gọn, súc tích.
Vấn đề lớn hơn không phải
là châm ngôn vốn là lĩnh vực của đàn ông trong lịch sử, mà là nó vẫn tiếp tục
như vậy. Trong bài viết trên tạp chí Harper’s, Manguso cố gắng lý giải xu hướng
này: “Ngay cả bây giờ, những người không thể tự coi mình là những Người Vĩ Đại
có thể có xu hướng né tránh thể loại này.” Cần một cái tôi rất lớn để tin rằng
suy nghĩ của bạn nói lên một chân lý phổ quát, một chân lý sẽ mãi mãi mô tả một
khía cạnh nào đó của ý nghĩa làm người.
Một ví dụ có thể giúp
làm rõ quan điểm của tôi ở đây: trong phần giới thiệu cuốn sách The World in a
Phrase, James Geary viết về tình yêu thuở nhỏ của ông dành cho các câu châm
ngôn, và cách ông dàn dựng một “màn trình diễn” liên quan đến các câu châm ngôn
trong phòng ăn của trường đại học. Đối với “màn trình diễn” này, Geary mang
theo một quả địa cầu mà phần Vòng tròn Bài viết đã bị cắt bỏ, “để phần đỉnh của
trái đất có thể tháo rời như nắp hộp bánh quy. Tôi đã thả hàng tá mẩu giấy nhỏ
vào quả địa cầu, mỗi mẩu giấy mang một câu châm ngôn—hoặc là do tôi tự sáng tác
hoặc là của một nhà văn nổi tiếng. Khi tôi đi dạo quanh phòng ăn, tôi đến gần mọi
người khi họ đang ăn và yêu cầu họ thò tay vào và chọn một câu từ trên quả địa
cầu. Điều kiện duy nhất: Mọi người phải đọc to câu châm ngôn đó. Tôi sẽ không rời
bàn cho đến khi họ đọc xong.” Mọi thứ về điều này nghe thật khó chịu.
Thật vậy, vấn đề lớn nhất
với các câu châm ngôn hiện nay không chỉ là chúng thường là những lời khuyên được
ngụy trang, mà còn là những tuyên bố của con người. Tất nhiên, bạn có thể đưa
ra luận điểm này về bất kỳ thể loại văn học nào, nhưng bởi vì câu châm ngôn được
dùng để đại diện cho “một chân lý có tầm quan trọng chung”, như từ điển Oxford
(OED) đã nêu.
Nhiều tác phẩm phi hư cấu
xuất sắc của tác giả nữ dưới dạng ngắn; cuốn 300 Arguments của Manguso là một phần của xu hướng này, và là cuốn
đầu tiên tự khẳng định mình là một tuyển tập các câu châm ngôn. Những cuốn
khác, như Little Labors năm 2016 của
Rivka Galchen và Bluets năm 2009 của
Maggie Nelson, cả hai đều được viết thành những đoạn văn ngắn với độ dài khác
nhau, đều mang tính chất châm ngôn. Điều thống nhất ba cuốn sách này là cách
chúng mời gọi sự tham gia của người đọc - niềm vui của chúng nằm ở việc đọc lại.
Trong hình thức ngắn gọn, những cuốn sách này vừa mang tính chất dứt khoát vừa
cởi mở.
Phần giới thiệu trên bìa
sách Little Labors gọi nó là một “tuyển
tập văn học”, và điều đó có vẻ chính xác. Galchen kết hợp nhiều bài luận dài về
trẻ sơ sinh trong văn học và về tác phẩm tuyển tập văn học của Sei Shonagan, một
cung nữ Nhật Bản thế kỷ 11, có tên là "Sách Gối", với những đoạn văn
chỉ vài dòng, nhưng nó không phải là một cuốn sách an ủi hay truyền cảm hứng. Một
trong những đoạn văn ngắn gọn của bà, "Một dạng trầm cảm mới", đã tóm
gọn cốt lõi mang tính phản kháng của cuốn sách: "Đúng như người ta nói, một
đứa bé cho bạn lý do để sống. Nhưng đồng thời, một đứa bé cũng là lý do khiến bạn
không được phép chết. Có những ngày điều này không hề dễ chịu." Những mảnh
ghép của Little Labors được ghép lại
với nhau để kể những câu chuyện khác nhau. Tôi cho rằng những đoạn ngắn nhất, và
những đoạn dài hơn cũng đều chứa đựng những câu châm ngôn: “Một đứa trẻ là một
mỏ vàng.” Giọng văn và phong cách của Galchen củng cố cảm giác châm ngôn trong
Little Labors; mỗi phần đều được thể hiện bằng sự kết hợp giữa sự sắc sảo và tự
tin, khiến bạn càng muốn cùng Galchen trải nghiệm những suy nghĩ trên từng
trang sách.
Trong khi sự ngắn gọn
mang lại cho sách của Galchen và Manguso sự tự tin, dí dỏm và quyến rũ, nó cho
phép Nelson truyền tải một sự tìm kiếm đầy lo lắng, một hành trình rời rạc
xuyên suốt sự kết thúc của một mối quan hệ và trong cuộc truy tìm màu xanh lam.
Bluets được chia thành 240 đoạn văn
được đánh số; rất ít đoạn văn dài quá một trang, và hầu hết chỉ dài vài câu.
Các đoạn văn được kết nối với nhau, nhưng không phải lúc nào cũng theo trình tự
tuyến tính. Khi câu chuyện diễn ra, Nelson chuyển hướng, tiếp cận vấn đề cốt
lõi - sự cô đơn và mất mát - từ nhiều góc độ khác nhau. Bà tham khảo Goethe và
trích dẫn William Carlos Williams, Leonardo da Vinci, Heraclitus, Wittgenstein…
Phương pháp của Nelson
liên quan đến việc đặt câu hỏi rõ ràng hơn nhiều so với Manguso hay Galchen, và
người ta có thể nghĩ rằng điều này sẽ khiến nó không mang tính chất châm ngôn -
nếu một châm ngôn được cho là hoàn chỉnh và rõ ràng - mà lật ngược một châm
ngôn để chúng ta có thể thấy sự không rõ ràng thực sự của nó, cách mà Bacon gọi
là “một kiến thức bị phá vỡ”. Ví dụ, hãy xem mục 207: “Tôi nhớ có một thời
tôi đã khắc ghi lời khuyên của Henry James – ‘Hãy cố gắng trở thành một trong
những người mà chẳng có gì bị mất mát!’ – vào lòng. Tôi nghĩ khi đó tôi tưởng
tượng rằng hiệu quả cuối cùng của việc trở thành một người như vậy sẽ là sự
tích lũy. Trong khi đó, nếu bạn thực sự trở thành một người mà chẳng có gì bị mất
mát, thì sự mất mát cũng sẽ không bị mất mát đối với bạn.”
Không có sự mặc khải hay
lời giải đáp cuối cùng nào trong Bluets
- cũng không trong 300 Arguments, hay
trong Little Labors - và đó là điều
nên như vậy. Nếu có thể tìm thấy sự an ủi trong những cuốn sách đầy tính châm
ngôn này, thì đó là mặc dù những châm ngôn của các vĩ nhân có thể gợi ý điều
ngược lại, vẫn còn rất nhiều cách chúng ta có thể cố gắng để hòa giải với cuộc
sống này, với thế giới này.
--------
Chú thích:
(1). Nguồn nguyên tác: litub.com
(2). Kristen Martin là nhà tiểu luận, các bài viết và phê bình của cô đã được xuất bản trên các tạp chí: The Cut, Hazlitt, Catapult, Real Life… Cô nhận bằng Thạc sĩ Mỹ thuật (MFA) chuyên ngành viết phi hư cấu từ Đại học Columbia, tư vấn cho các nhà văn tại Trung tâm Viết văn của Đại học Columbia và giảng dạy viết văn tại Đại học New York (NYU).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét