2/2/26

3.772. THƯ GỬI NHÀ VĂN TRẺ - By Thomas Ogden

Mộc Nhân lược dịch (1)
Nguyên tác: "A Letter To a Young Writer" – by Thomas Ogden
(2)


   Thân gửi bạn.

Đáp lại thư của bạn, tôi có thể chia sẻ một vài suy nghĩ về việc viết lách mà bạn có thể sử dụng để tạo nên tác phẩm của riêng mình. Tôi làm điều này với một chút lo lắng vì tôi sợ rằng bạn sẽ hiểu những gì tôi nói như là chỉ dẫn về cách bạn nên viết thay vì những suy ngẫm về kinh nghiệm viết lách của chính tôi.

Điều quan trọng nhất đối với tôi trong nỗ lực viết lách là nhận thức rằng tôi không thể viết giống bất kỳ ai khác và không ai khác có thể viết theo cách tôi viết. Cố gắng viết giống người khác là phá hủy những gì độc đáo trong kinh nghiệm của riêng tôi, cách nói chuyện, cách suy nghĩ, cách viết, cách sống của tôi. Biết chắc điều này là vô cùng cần thiết đối với tôi với tư cách là một nhà văn.

Viết không phải là một công việc bán thời gian. Tôi nghĩ về việc viết lách mọi lúc: khi tắm, khi lái xe đi làm, khi ăn trưa, khi xếp hàng chờ xem phim, khi ngồi trên máy bay, khi ngủ thiếp đi. Không một giây phút nào, ngày hay đêm, tôi không nghĩ về việc viết lách theo một cách nào đó. Viết không phải là việc tôi làm, mà là con người tôi.

Câu hỏi đầu tiên mà Borges (3) cần được trả lời sau mười hai ngày hôn mê do nhiễm trùng huyết là: “Tôi còn có khả năng viết không?” Viết văn chính là con người của Borges. Trong nỗ lực chứng minh với chính mình rằng ông vẫn còn khả năng viết, Borges đã đặt ra thử thách viết ở một thể loại mà ông chưa bao giờ viết được: truyện ngắn. Trong nỗ lực xác định xem mình còn là nhà văn như xưa hay không, Borges không chỉ viết một truyện ngắn, ông đã sáng tạo ra một thể loại truyện ngắn mới. Ông đã viết “Pierre Menard, tác giả của Quixote”, tác phẩm đầu tiên trong số những ficciones đáng kinh ngạc của ông.

Albert Camus (4) mô tả tầm quan trọng của sự tận tâm với công việc viết lách: “Những tác phẩm nghệ thuật không được sinh ra từ những tia sáng cảm hứng mà từ sự trung thành mỗi ngày”. Kiên trì viết khi cảm thấy không thể viết được là một hành động dũng cảm.

Philip Roth (5), khi bị tắc nghẽn ý tưởng, đã dành hàng tuần liền trong phòng làm việc để cố gắng tìm lại mạch cảm hứng viết lách của mình.

Franz Kafka (6) viết trong nhật ký: “Thời gian trôi nhanh quá; mười ngày nữa trôi qua mà tôi vẫn chẳng làm được gì. Chẳng có gì tiến triển cả. Thỉnh thoảng viết được một trang, nhưng tôi không thể duy trì được, ngày hôm sau tôi lại bất lực.”

Virginia Woolf (7) viết trong nhật ký: “Và lẽ ra tôi phải viết cuốn Jacob’s Room; nhưng tôi không thể, và thay vào đó tôi sẽ viết ra lý do tại sao tôi không thể – cuốn nhật ký này như một người bạn tâm giao già nua, hiền lành và vô cảm.”…

Tôi đặt cả tâm hồn mình vào việc viết lách; viết là một hành động mạnh mẽ mà trong đó tôi dám tự mình nếm trải thành quả. Tôi sẽ đề cập ngắn gọn đến một vài suy nghĩ khác về nhà văn và việc viết lách mà có thể hữu ích cho bạn, một nhà văn trẻ:

- Mọi người coi trọng việc viết lách đều là nhà văn.

- Nhà văn là người viết, không phải người xuất bản.

- Một họa sĩ trẻ không học với một họa sĩ giàu kinh nghiệm để học cách họa sĩ đó vẽ; anh ta học với họa sĩ giàu kinh nghiệm để học cách chính mình vẽ.

- Một nhà văn viết để trở thành một nhà văn giỏi hơn.

- Các bài luận thuộc mọi thể loại, từ các bài báo khoa học đến các tuyên ngôn chính trị, đều là những hình thức nghệ thuật, những thể loại sáng tác văn học, xứng đáng được tôn trọng như các thể loại văn học khác.

- Không có phép màu nào gắn liền với việc viết lách; viết lách không phải là món quà của các nàng thơ. Đó là hành động độc lập của chính mỗi người.

- Văn phong càng tự nhiên, chứng tỏ người viết đã bỏ ra nhiều công sức và tài năng.

***

Một tác phẩm văn học không bao giờ hoàn thiện. Tất cả những gì tôi có thể nói về một tác phẩm sau nhiều bản nháp là nó tốt nhất có thể vào thời điểm này. Tôi không bao giờ hài lòng với những gì mình đã viết. Tôi không đọc lại những gì mình đã xuất bản, bởi vì tôi không muốn nhìn thấy chất lượng kém cỏi của nó. Alfonso Reyes (8), một người bạn của Borges, từng nói rằng ông “xuất bản những gì mình đã viết để tránh phải dành cả đời để sửa chữa nó: người ta xuất bản một cuốn sách để bỏ nó lại phía sau, người ta xuất bản một cuốn sách để quên nó đi.”

Tôi đọc triết học với tư cách là một nhà văn và nhận thấy ngụ ngôn về chủ nhân và nô lệ của Hegel (9) thể hiện một trong những cách quan trọng nhất mà việc viết lách nuôi dưỡng tôi. Trong ngụ ngôn của Hegel, người nô lệ làm mọi thứ cho chủ nhân: anh ta trồng lương thực cho chủ nhân ăn, anh ta xây nhà cho chủ nhân ở, anh ta dệt quần áo cho chủ nhân mặc, anh ta đóng ghế cho chủ nhân ngồi. Chủ nhân không làm gì cả. Kết quả của sự sắp đặt này là người nô lệ đạt được ý thức, khả năng tự phản tỉnh, khả năng tự nói chuyện với chính mình, khả năng vừa là chủ thể vừa là đối tượng, vừa là "tôi" vừa là "mình". Người chủ không bao giờ đạt được ý thức. Điều này là bởi vì, trong khi người nô lệ nhìn thấy bản thân mình phản chiếu trong những thứ anh ta tạo ra (trong mùa màng anh ta trồng, trong ngôi nhà anh ta xây, trong những tấm vải anh ta dệt, trong chiếc ghế anh ta đóng), thì người chủ không tạo ra gì cả và do đó không có gì để nhìn thấy bản thân mình phản chiếu. Tương tự như vậy, bài thơ mà nhà thơ viết, bài luận mà nhà văn viết, cuốn tiểu thuyết mà nhà văn viết, đều là những tấm gương mà người viết nhìn thấy chính mình phản chiếu.

Tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình để viết. Điều này không chỉ đúng về số giờ tôi đã dành để viết, mà còn đúng về cách mà mọi trải nghiệm tôi đã sống, cả thực tế và tưởng tượng, đều trở thành một phần con người tôi với tư cách là một nhà văn. Tôi đọc với tư cách là một nhà văn, tôi mơ với tư cách là một nhà văn, tôi xem phim với tư cách là một nhà văn, tôi dạy với tư cách là một nhà văn. Tôi là tổng hợp của những ấn tượng mà kinh nghiệm sống đã để lại trong tôi, và những ấn tượng ấy là nguồn cảm hứng để tôi khai thác các nhân vật, câu chuyện, bài luận và thơ mà tôi viết. Điều này không có nghĩa là tôi đứng ngoài cuộc khi đọc sách, xem phim hay ngủ thiếp đi. Hoàn toàn ngược lại. Những trải nghiệm khi đọc sách, mơ mộng, xem phim, làm việc, trò chuyện với mẹ, vợ, con cái, cháu chắt, người thu ngân ở siêu thị, tất cả đều trở nên trực tiếp và mãnh liệt hơn khi tôi đồng thời trải nghiệm những hoạt động này với tất cả những sắc thái và biến đổi của chúng từ góc nhìn của một nhà văn.

Khi đọc, tôi nhận thức được cấu trúc và độ dài của câu, chất lượng giọng nói của người kể chuyện và các nhân vật, cách sử dụng ẩn dụ, cách sử dụng ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, cách tạo nên âm nhạc trong thơ và văn xuôi hay, vân vân. Khi đọc một cuốn tiểu thuyết, tôi thường chỉnh sửa lại văn bản trong đầu như thể đang chỉnh sửa bản thảo bài viết của chính mình: tôi viết lại câu, thay đổi giọng kể, cân nhắc xem phép ẩn dụ có hiệu quả hay không. Các tác giả của những cuốn sách tôi đã đọc chính là những người thầy quan trọng nhất của tôi trong việc dạy viết.

Tôi duy trì mối liên hệ với việc viết lách trong suốt công việc của mình. Tôi luôn luôn viết về những trải nghiệm mình đang sống trong quá trình làm việc. Nếu không có cơ hội thể hiện những suy nghĩ và cảm xúc mình trải nghiệm trong công việc qua văn bản, tôi nghĩ mình sẽ mất hứng thú với nghề nghiệp và có lẽ sẽ cảm thấy khó chịu khi phải dành thời gian cho nó. Tôi đã học được rằng, với tư cách là một nhà văn, người ta có thể phản ứng với những trải nghiệm trong khi làm việc bằng cách biến đổi những trải nghiệm đó, thể hiện chúng như một chi tiết, một phép ẩn dụ, một lời nhận xét, một bước ngoặt trong cốt truyện mà tôi đang viết vào thời điểm đó.

***

Tất cả chúng ta đều là những nhà văn. Chúng ta viết rất nhiều mỗi ngày: email, tin nhắn, thiệp chúc mừng sinh nhật, những lời nhắc nhở cho chính mình. Để trở thành một nhà văn giỏi hơn, tôi luôn nghiêm túc với tất cả những bài viết của mình, ngay cả những bài viết tưởng chừng như tầm thường. Điều này được minh họa rõ nét nhất trong bài thơ “This is just to say” của William Carlos Williams (10): “Tôi đã ăn/ những quả mận/ ở trong/ tủ lạnh/ có lẽ bạn đã để dành/ cho bữa sáng./ Hãy tha thứ cho tôi/ chúng rất ngon/ ngọt ngào/ nhưng lạnh ngắt.”

Tôi cố gắng ghi nhớ cách bài thơ của Williams, và nhiều bài thơ khác tương tự, biến những điều bình thường thành nghệ thuật. Một bản ghi chép về trải nghiệm của một người không phải lúc nào cũng là nghệ thuật. Nghệ thuật là những gì chúng ta làm với trải nghiệm của mình trong hành động viết. Tôi đã ghi lại một ý tưởng cho truyện ngắn (khi đang xếp hàng ở bưu điện) trên một mẩu giấy nhàu nát trong ví, thứ mà tôi luôn để ở đó cho những dịp như thế này. Trong mỗi lần như vậy, tôi đều cố gắng viết thật hay, viết những cụm từ và câu văn có sức sống, những câu văn không sáo rỗng, những câu văn có chút hài hước, mỉa mai và chút nhạc điệu. Thật thỏa mãn khi viết được dù chỉ vài từ chân thành, mang tính cá nhân và gợi suy nghĩ. Một lời nhắn nhủ giàu trí tưởng tượng là một món quà quý giá để trao tặng hoặc nhận lại.

Tôi sẽ tập trung một chút vào cách tôi đọc với tư cách là một nhà văn. Tôi kinh ngạc trước cách các nhà văn tạo ra hiệu ứng trong văn bản, những hiệu ứng vượt lên trên ý nghĩa tượng trưng của từ ngữ. Tôi nhận thấy rằng ý nghĩa của câu văn ít nằm ở giá trị tượng trưng của từ ngữ, mà nằm nhiều hơn ở những cách thức bí ẩn mà chúng tác động đến tôi.

Khi đọc, tôi tự hỏi: Làm thế nào mà anh ấy/cô ấy làm được điều đó? Làm thế nào mà William Maxwell (11), trong cuốn sách "So Long, See You Tomorrow", lại có thể kể lại một phần câu chuyện từ góc nhìn của một chú chó: “Lá bắt đầu rơi, và chú chó có thể nhìn thấy những ngôi sao tỏa sáng trên ngọn cây.” Đối với chú chó, những ngôi sao không chiếu xuyên qua ngọn cây, mà chúng ở trên ngọn cây. Và chú chó chứng kiến ​​sự thay đổi ở cậu bé mà nó yêu thương, một cậu bé mà nó biết đã mất tất cả mọi thứ—nhà cửa, ngựa, mùi hương của ngày giặt giũ, sách vở, quần áo lao động, và rất nhiều thứ khác. “Lấy đi tất cả những thứ này, thì bạn đã làm gì với cậu ấy?”, chú chó tự hỏi.

Có một câu trong truyện ngắn “The Wide Net” của Eudora Welty (12) mà tôi cứ quay lại đọc đi đọc lại. Trong câu dài này, Brucie, một cậu bé da đen sáu tuổi ở Mississippi vào đầu thế kỷ XX, nhìn anh trai Grady đếm những toa tàu chở hàng đang đi qua ở phía xa: “Nó trông giống như một đám rước lễ hội nhỏ, di chuyển chậm chạp như thể bị lãng quên hoặc như trong mơ, từ xa đến xa, những chiếc xe nhỏ màu hồng và xám như những chiếc hộp bí mật. Grady đếm từng chiếc xe một, như thể cậu chắc chắn có thể nhìn thấy rõ từng chiếc, và Brucie nhìn cậu với đôi môi im lặng và thận trọng, giống như cách nó quan sát một con chim đang uống nước.” Câu này được tạo thành từ một chuỗi mười cụm từ miêu tả chuyển động chậm chạp như những toa xe của một đoàn tàu chở hàng. Trong phần đầu của câu này, nhịp độ của một đoàn tàu chở hàng được ví như sự uể oải của “sự lãng quên hoặc một giấc mơ”. Hai từ “lãng quên” và “giấc mơ” ám ảnh bởi sự kết hợp của tất cả những gì trống rỗng với tất cả những gì có thể xảy ra. Người kể chuyện đang nói về một phẩm chất đặc trưng của người miền Nam: hầu hết mọi thứ về người miền Nam dường như chuyển động một cách uể oải, bao gồm cả sự lãng quên và những giấc mơ của họ. Welty từng nhận xét rằng vì bà là người miền Nam, nên bà không cần phải bịa đặt bất cứ điều gì.

Câu văn đạt đến cao trào ở hai cụm từ cuối cùng khi miêu tả cách Brucie quan sát anh trai mình đếm: “im lặng và thận trọng, như thể cậu đang quan sát một con chim uống nước.” Còn cách nào tốt hơn để miêu tả cách người em trai này quan sát đôi môi của anh trai mình mấp máy khi anh ấy đếm những chiếc xe? Âm nhạc của ngôn từ dịu dàng, bắt nguồn từ sự kết hợp của hai âm “shh” nhẹ nhàng (“im lặng” và “thận trọng”), tiếp theo là sự lặp âm ba âm “w” nhẹ nhàng trong “như thể anh ấy đang quan sát.” Những sự lặp âm này gần như chắc chắn là không được lên kế hoạch trước. Chúng “tự nhiên xuất hiện” trong tay một nhà văn tài năng...

(Xem tiếp theo)


Không có nhận xét nào: