Khi trưởng thành hơn trong nghề viết, người ta tích lũy được một cảm giác ngầm rằng tác phẩm của mình là một phần của tổng thể mà không cá nhân nào có thể tuyên bố sở hữu.
Trong một câu tương đối
ngắn của Patrick White (13) trong The Solid Mandala, người kể chuyện miêu tả
Waldo nghe lén cuộc trò chuyện của mẹ và em trai mình: “Vào khoảng thời gian
này, Waldo quyết định rằng mọi thành viên trong gia đình mình đều vô vọng nhưng
không thể tránh khỏi.” Việc liên kết hai từ "vô vọng" và "không
thể tránh khỏi" thể hiện một sự thật về gia đình: chúng vô vọng ở chỗ
chúng sẽ không bao giờ trở thành những gì người ta mong muốn; trên thực tế,
chúng thất bại trên mọi phương diện, nhưng gia đình vẫn mang lại cảm giác không
thể tránh khỏi, không thể thoát khỏi.
Tôi ghi chú và đánh số
trang ở mặt trong bìa sau của mọi cuốn tiểu thuyết, mọi tuyển tập truyện ngắn
hay thơ mà tôi đọc. Tôi không cảm thấy mình đã đọc một cuốn sách nếu chưa ghi lại
những ghi chú này về một cách lựa chọn từ ngữ cụ thể, sự tinh tế của một phép ẩn
dụ, sự thay đổi trong giọng điệu của một nhân vật, một câu dài uyển chuyển như
một con bướm xòe cánh. Tôi cũng nên nói thêm rằng tôi không bao giờ quay lại những
ghi chú đó, có lẽ vì tôi không còn là người đọc hay người viết đã đọc cuốn sách
đó nữa.
T.S. Eliot (14) nói: “Những nhà thơ chưa trưởng thành bắt chước, những nhà thơ trưởng thành ăn cắp.” Nói rằng những nhà thơ chưa trưởng thành bắt chước không phải là phủ nhận những nhà thơ trẻ, bởi vì tất cả chúng ta đều bắt đầu là những nhà văn chưa trưởng thành và tìm đường đến với văn chương một phần bằng cách bắt chước giọng văn của những nhà văn đã truyền cảm hứng cho chúng ta. Trong sự non nớt của mình, tôi đã viết bằng cách bắt chước Melville trong Moby-Dick, điều này đã chứng tỏ là một gánh nặng lớn đối với một cậu bé mười sáu tuổi.
Theo tôi, những "sự
ăn cắp" của các nhà thơ trưởng thành chính là việc họ sao chép nguyên văn
những câu thơ của các nhà thơ khác vào thơ của mình. Nhưng quan trọng hơn thế, khi
trưởng thành trong nghề viết, người ta tích lũy được một nhận thức sâu sắc rằng
tác phẩm của mình là một phần của tổng thể mà không cá nhân nào có thể tuyên bố
sở hữu.
Phải trải qua vô số kinh
nghiệm đọc sách, bắt đầu từ hồi tiểu học, mới giúp tôi nhận ra rằng những từ ngữ
trên trang giấy là tất cả những gì tồn tại. Không có gì nằm bên dưới hay phía
sau chúng. Việc đọc sách đối với một nhà văn bao gồm việc nhìn sâu vào từng từ
ngữ, lắng nghe âm thanh chúng tạo ra, và xem cách các từ ngữ kết hợp với nhau để
tạo nên những hiệu ứng kỳ diệu.
Tôi luôn luôn viết.
Trong khoảng thời gian giữa việc hoàn thành một tác phẩm và bắt đầu tác phẩm tiếp
theo, tôi là một người đang chuẩn bị để viết. Khi những ý tưởng ban đầu xuất hiện,
tôi cảm thấy như thể mình đã có ý tưởng này suốt cả cuộc đời và chỉ bây giờ mới
tìm ra cách để nghĩ về nó, và có thể viết ra. Một người bạn, vốn là họa sĩ, thường
nói với tôi khi anh ấy cho tôi xem một bức tranh mới: “Phải mất 75 năm để vẽ bức
tranh này.”
Từ khi còn là thiếu
niên, tôi đã bị cuốn hút bởi cách thức hoạt động của ngôn từ, cách chúng truyền
tải ý nghĩa, cách chúng tạo ra ý nghĩa, và cách ý nghĩa có thể bị tước bỏ khỏi
chúng. Khi còn học trung học, sau bữa tối, tôi bắt đầu tự lặp lại tên của mảnh
vải đặt trước mặt trên bàn. Tôi quyết định xem điều gì sẽ xảy ra nếu tôi tự lặp
lại từ “khăn ăn”. Sau mười lăm hoặc hai mươi lần lặp lại từ đó, tên của vật thể
tan biến thành một âm thanh không còn là một từ nữa. Vật thể không còn tên, nó
chỉ còn một âm thanh có thể được thay thế bằng bất kỳ âm thanh nào khác bởi vì
không có gì nội tại kết nối nó với vật thể. Tôi bắt đầu sợ hãi rằng mọi cái tên
tôi đặt cho các vật thể có thể bị thu gọn thành một âm thanh không thể nhớ được.
Nếu điều này xảy ra, tôi sẽ mất trí và không thể nói hay thậm chí suy nghĩ được
nữa. Trải nghiệm này đã hé lộ cho tôi một trong những bí mật đen tối của ngôn
ngữ: sức mạnh của nó trong việc tạo ra tôi và thế giới mà tôi đang sống, và sức
mạnh của nó trong việc tước đoạt ý nghĩa của thế giới đó.
Tôi sẽ đề cập đến một số
khía cạnh trong cách tôi viết cả tiểu thuyết và phi tiểu thuyết, không phải để
đưa ra lời khuyên về cách bạn nên viết, mà là để mô tả cách tôi viết. Tôi cố gắng
dành ra một số giờ nhất định trong tuần để viết mà không bị gián đoạn bởi bên
ngoài, nhưng điều này không phải lúc nào cũng khả thi, đặc biệt là khi các con
tôi còn nhỏ. Khi không có thời gian dành riêng cho việc viết, tôi tận dụng những
khoảng thời gian rảnh rỗi, nắm bắt từng phút trong ngày hoặc đêm để viết. Ví dụ,
tôi viết trong những phút vợ tôi đọc truyện trước khi ngủ cho các con, trong những
phút hoặc giờ chờ lên tàu hoặc máy bay, trong những phút chờ đợi khách hàng hoặc
đồng nghiệp đến muộn cuộc họp.
Tôi tránh đọc các tác phẩm của người khác về chủ đề mà tôi đang viết. Tôi nhận thấy rằng nếu tôi đọc những gì người khác đã viết về một chủ đề, tôi có xu hướng hoặc tranh luận với họ (điều này không thú vị đối với tôi hoặc người đọc) hoặc chấp nhận họ với cảm giác rằng ý tưởng của tôi đã được viết ra rồi và không cần phải viết lại nữa. Tôi không phải là người duy nhất cảm thấy như vậy. Winnicott (15) đã diễn đạt một cách tao nhã trong những câu mở đầu của một bài luận: Tôi sẽ không đưa ra một khảo sát lịch sử trước tiên và chỉ ra sự phát triển của các ý tưởng của tôi từ các lý thuyết của người khác, bởi vì tư duy của tôi không hoạt động theo cách đó. Điều xảy ra là tôi thu thập cái này cái kia, ở đây và ở đó, tập trung vào kinh nghiệm thực tiễn, hình thành các lý thuyết của riêng mình và sau cùng, cuối cùng, tôi mới quan tâm đến việc mình đã lấy cái gì từ đâu. Có lẽ đây là một phương pháp tốt như bất kỳ phương pháp nào khác.
Việc thoát khỏi lối mòn
của chính mình khi viết - kiềm chế việc quá khắt khe với những gì tôi đang nói
- vừa cần thiết vừa khó khăn. Tôi thấy các bài phê bình về tác phẩm của mình đặc
biệt không mang tính hướng dẫn đối với tôi. Tôi không còn đọc các bài phê bình
sách nữa, bởi vì trong những thập kỷ tôi còn đọc, tôi luôn giữ hình ảnh người
phê bình trong tâm trí như một giọng nói thúc giục tôi viết theo cách mà họ muốn.
Điều này đúng bất kể bài phê bình đó khen ngợi hay chỉ trích. Tôi cũng không thảo
luận với ai về những gì mình đang viết, bởi vì ở đó, một phản hồi nhiệt tình
hay một lời chỉ trích cũng để lại một định kiến cản trở quá trình viết của
chính tôi. Paul Klee từng viết rằng khi còn trẻ, xưởng vẽ của ông đầy ắp những
nghệ sĩ mà ông ngưỡng mộ nhất, nhưng khi lớn lên, căn phòng dần trống rỗng, cho
đến cuối cùng ông chỉ còn một mình khi vẽ.
Tôi thấy rằng một trong những cách đáng tin cậy nhất để cải thiện một tác phẩm văn học là lược bỏ văn bản: xóa bỏ mọi từ ngữ, cụm từ, câu, ẩn dụ, nhân vật thừa thãi mà sự hiện diện của chúng không cần thiết cho mạch truyện hay bài luận. Điều này làm tôi nhớ đến định nghĩa về thơ của Tom Stoppard (16): “sự cô đọng ngôn ngữ và mở rộng ý nghĩa đồng thời”.
Tôi nhận ra rằng nhiều
khi bài viết của mình dường như “không hiệu quả”, không tạo nên một cấu trúc
câu văn mạch lạc, thể hiện tư duy hay cách kể chuyện. Nhưng tôi lại khám phá ra
rằng, bài viết phải “không hiệu quả” - không có hình dạng hay định hướng - trước
khi nó trở thành một phần của cấu trúc ý nghĩa lớn hơn, rõ ràng hơn. Những cách
thức truyền đạt ý nghĩa trước đây của tôi phải nhường chỗ cho những cách thức mới
nếu muốn bài viết trở nên mới mẻ và độc đáo đối với tôi.
Nếu tôi cứ mãi theo đuổi
một ý tưởng hay một bước ngoặt trong câu chuyện, nó sẽ vuột mất. Nếu tôi tĩnh lặng
và chỉ đơn giản là viết, nó có thể đến với tôi. Tôi có thể hình dung ra một phản
hồi cho những gì tôi vừa nói: “Nó đến với bạn vì bạn là một nhà văn giàu kinh
nghiệm, còn tôi thì không. Tôi là một người mới đang mắc kẹt ở tiền sảnh của
nghề viết.” Tôi sẽ trả lời, “Cũng giống như mọi việc khác mà người ta làm - lái
xe, nướng bánh soufflé, chơi tennis - cần rất nhiều luyện tập để làm tốt những
việc này. Và ngay cả sau rất nhiều luyện tập, vẫn cần thời gian và sự kiên nhẫn,
và không có gì đảm bảo rằng nó sẽ thành công như bạn mong muốn.” Tôi đã vứt bỏ
nhiều bài luận, truyện ngắn và tiểu thuyết đã chết yểu. Những khởi đầu sai lầm
đó có thể sẽ không bao giờ trở thành một phần trong những tác phẩm sau này của
tôi, nhưng tất cả đều góp phần giúp tôi trở thành một nhà văn tốt hơn.
Khi viết, tôi kiên trì cho đến khi nghe thấy âm thanh của những câu văn hay. Tôi đã đọc Melville (17) và Shakespeare (18) khi còn học trung học. Văn phong của họ “hay” vì tôi được bảo là hay. Tôi chưa phát triển được khả năng cảm nhận văn phong hay. Tôi bắt đầu có thể nghe thấy những câu văn hay - những câu văn có ý nghĩa theo cách riêng của chúng - khi tham gia một khóa học viết luận dành cho sinh viên năm nhất. Giữa học kỳ, giáo sư đọc một đoạn văn do một sinh viên viết để trả lời câu hỏi: “Hãy mô tả một tình huống mà bạn cảm thấy tốt.” Sinh viên đó mô tả việc bước xuống bậc thềm trước nhà, đi dọc vỉa hè và chào một con chó khi đi ngang qua. Tôi rất ấn tượng với chi tiết chào hỏi con chó. Lần đầu tiên, tôi có thể cảm nhận được âm thanh của một bài văn hay.
Tôi thấy sự khác biệt giữa
tiểu thuyết và phi tiểu thuyết chỉ là tưởng tượng. Tất cả tự truyện đều là tiểu
thuyết, và tất cả tiểu thuyết đều là tự truyện. Tiểu thuyết không phải là sự
xuyên tạc hiện thực; nó là phương tiện đáng tin cậy nhất để thể hiện sự thật cảm
xúc của một trải nghiệm. Viết đối thoại là một trong những cách hiệu quả nhất
mà tôi có để truyền tải tính cách của một nhân vật tại một thời điểm cụ thể
trong câu chuyện. Là người kể chuyện, tôi có thể nói rằng nhân vật đó rụt rè,
cay độc hoặc kiêu ngạo, nhưng những phẩm chất đó được truyền tải tốt hơn qua giọng
nói của nhân vật.
Khi viết về bất kỳ trải
nghiệm nào, tôi cố gắng mô tả chứ không phải giải thích, bởi vì tôi không có lời
giải thích cho những thứ phức tạp và bí ẩn như cảm xúc và hành vi của con người.
Cuộc sống không thể hiểu được; nó thậm chí không hợp lý. Khi chúng ta viết,
chúng ta không ghi lại cuộc sống, chúng ta tạo ra cuộc sống.
--------
Chú thích:
(1). Nguyên tác từ nguồn: Parapraxismagazine.com
(2). Thomas Ogden: Thomas
Ogden là một nhà phân tâm học, giảng viên và nhà văn viết tiểu thuyết. Ông đã
xuất bản ba tiểu thuyết: "Những phần bị bỏ lại" (The Parts Left Out),
"Bàn tay của trọng lực" (The Hands of Gravity) và "Cơ hội, điều
này sẽ ổn thôi" (Chance, This Will Do), và tuyển tập truyện ngắn sắp ra mắt,
"Dì Birdie và những câu chuyện khác" (Aunt Birdie and Other Stories).
Sách của ông về phân tâm học (psychoanalysis) đã được xuất bản bằng hơn 25 ngôn
ngữ.
(3). Jorge Francisco
Isidoro Luis Borges (1899 - 1986) là một nhà văn viết truyện ngắn, tiểu luận
gia, nhà thơ và dịch giả người Argentina, được xem là một nhân vật then chốt của
văn chương tiếng Tây Ban Nha cũng như văn học quốc tế. Những tác phẩm nổi tiếng
nhất của Borges có đóng góp đáng kể cho văn học triết học và thể loại kỳ ảo, đồng
thời có ảnh hưởng lớn đến trào lưu hiện thực huyền ảo trong văn học Mỹ Latinh
thế kỷ 20.
(4). Albert Camus (1913 - 1960) là một nhà văn, triết gia, nhà báo người Pháp nổi tiếng. Các tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm: Người xa lạ, Dịch hạch, Huyền thoại Sisyphe, Con người phản kháng, Sa đọa. Albert Camus được trao tặng Giải Nobel Văn học năm 1957 "vì các sáng tác văn học của ông đã đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta". Về triết học, ông được biết đến vì những đóng góp cho chủ nghĩa phi lý. Mặc dù cũng được coi là một nhà triết học hiện sinh, nhưng ông thường bác bỏ điều này trong suốt cuộc đời mình.
(5). Philip Roth (1933
–2018) là một tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Do Thái. Ông nhận được Giải thưởng
Sách Quốc gia hạng mục tiểu thuyết vào năm 2005.
(6). Franz Kafka (1883 -
1924) là một tiểu thuyết gia và nhà văn viết truyện ngắn, sinh ra trong một gia
đình Do Thái nói tiếng Đức. Ông được giới phê bình đánh giá là một trong những
tác giả có tầm ảnh hưởng nhất văn học Châu Âu thế kỷ XX.
(7). Virginia Woolf
(1882 - 1941): nhà văn người Anh và là một trong những tác giả theo chủ nghĩa
hiện đại có ảnh hưởng nhất văn học Anh thế kỷ 20. Bà đã góp phần tiên phong
trong việc sử dụng lối kể chuyện dòng ý thức như một thủ pháp văn học.
(8). Alfonso Reyes
(1889-1959): nhà văn, triết gia và nhà ngoại giao người Mexico. Ông đã được đề
cử giải Nobel Văn học năm lần và được ca ngợi là một trong những tác giả tiếng
Tây Ban Nha vĩ đại nhất. Ông từng là đại sứ của Mexico tại Argentina và Brazil.
(9). Hegel (1770 -
1831): Georg Wilhelm Friedrich Hegel là một nhà triết học người Đức. Ông được
coi là một trong những triết gia quan trọng nhất của chủ nghĩa duy tâm Đức và
là một trong những nhân vật thiết lập nền móng triết học phương Tây đương đại.
(10). William Carlos
Williams (1883 - 1963): nhà thơ Mỹ, một gương mặt quan trọng của thơ ca Mỹ thế
kỷ 20.
(11). William Maxwell (1908
- 2000): biên tập viên, tiểu thuyết gia, nhà văn viết truyện ngắn, tiểu luận,
tác giả thiếu nhi và người viết hồi ký người Mỹ. Ông từng là biên tập viên tiểu
thuyết tại The New Yorker và nhiều tạp chí khác.
(12). Eudora Welty (1909 - 2001): nhà văn truyện ngắn, tiểu thuyết gia và nhiếp ảnh gia người Mỹ, người đã viết về miền Nam nước Mỹ. Cuốn tiểu thuyết "The Optimist's Daughter" của bà đã giành giải Pulitzer năm 1973. Welty đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Huân chương Tự do của Tổng thống và Huân chương Miền Nam.
(13). Patrick White (1912
- 1990): Patrick Victor Martindale White là nhà văn Úc đoạt giải Nobel Văn học
năm 1973 với tiểu thuyết The Tree of Man
(14). T.S. Eliot (1888 -
1965): Thomas Stearns Eliot là một nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học
Anh gốc Hoa Kỳ đoạt giải Nobel văn học năm 1948. Tác phẩm đầu tay: Bản tình ca của J. Alfred Prufrock được
coi là một kiệt tác của phong trào thơ hiện đại.
(15). Winnicott (1896 - 1971): Donald Woods Winnicott là một bác sĩ nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh, người có ảnh hưởng đặc biệt trong lĩnh vực lý thuyết quan hệ đối tượng và tâm lý học phát triển.
(16). Tom Stoppard (1937
- 2025): nhà viết kịch và nhà biên kịch người Anh. Ông viết kịch bản cho phim,
đài phát thanh, sân khấu và truyền hình, nổi tiếng với các vở kịch. Tác phẩm của
ông đề cập đến các chủ đề về nhân quyền, kiểm duyệt và tự do chính trị, thường
đi sâu vào các nền tảng triết học sâu xa hơn của xã hội.
(17). Melville (1819 -
1891): Herman Melville là nhà văn, nhà viết truyện ngắn, nhà thơ, nhà văn tiểu
luận người Mỹ. Ông nổi tiếng với tác phẩm Moby Dick. Những tiểu thuyết đầu tiên
của ông là những tác phẩm bán chạy và ăn khách nhất, nhưng danh tiếng của
Melville tụt thê thảm vài năm sau đó.
(18). Shakespeare (1564
– 1616): William Shakespeare là nhà văn và nhà viết kịch người Anh, được đánh
giá là nhà văn vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại và nổi
tiếng với các tác phẩm như Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Hăm-lét, Ô-ten-lô, ... Ông còn
được vinh danh là nhà thơ tiêu biểu của nước Anh và là "Thi sĩ của dòng
sông Avon".
----------
Mộc Nhân dịch và chú thích


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét