24. Chỉ trong trí tưởng tượng, tình yêu mới có thể tồn tại mãi mãi và mãi mãi được bao quanh bởi vầng hào quang lấp lánh của thơ ca. Tôi nghĩ rằng việc tưởng tượng ra tình yêu còn tốt hơn là trải nghiệm nó trong thực tế. (Only in the imagination of love can last forever and can be forever surrounded by a sparkling halo of poetry. I think I can invent is much better to love than to experience it in reality.)
25. Không có gì con người
giấu kín sâu sắc như một giấc mơ. Có lẽ bởi vì nó không thể chịu đựng được những
lời chế giễu nhỏ nhặt, những trò đùa, và tất nhiên, cả những cái chạm thờ ơ. (Nothing people so deeply not hiding like a
dream. Maybe because she can't stand the small derision, jokes, and, of course,
a touch indifferent hands.)
26. Khả năng cảm nhận nỗi
buồn là một trong những phẩm chất của người đàn ông đích thực. Người nào không
có cảm giác đau buồn, cũng khốn khổ như người biết thế nào là niềm vui, hoặc đã
đánh mất cảm giác vui vẻ. (The ability to
feel sadness is one of the qualities of a true man. One who is devoid of
feelings of grief, as miserable as a person who knows what joy is, or have lost
the feeling funny.)
27. Chờ đợi những ngày hạnh
phúc đôi khi tốt hơn nhiều so với những ngày hiện tại. (Waiting happy days is sometimes much better these days.)
28.
Hãy tạo ra những điều khiến họ tự hào, để làm việc, suy nghĩ và thư giãn, chứ
không phải để bị ốm vì căng thẳng và bệnh dại. Nhu cầu về thành phố không bị đè
nặng bởi ý thức rằng chúng ta không chấp nhận nó như một nhu cầu mà chúng ta
không ghét nó như một thứ rút ngắn tuổi thọ, mà nó đến như ngôi nhà của bạn đầy
bạn bè, sách vở và công việc. (Make them
so that they can be proud of, to work, to think and to relax, not to get sick
with nervousness and tram rabies. Need to the city was not oppressed with the
consciousness that we do not put up with him like a need that we didn't hate it
as something that shortens life, and came in like he was your house full of
friends, books and work.)
29. Nếu
bạn tước đi khả năng mơ ước của con người, thì nó không còn là một trong những
động lực mạnh mẽ nhất sinh ra văn hóa, nghệ thuật, khoa học và khát vọng đấu
tranh vì một tương lai tươi sáng. (If you
take away the person's ability to dream, it is no longer one of the most
powerful motives that give birth to culture, art, science, and the desire to
fight in the name of a wonderful future.)
30. Để
thực sự nhìn thấy, bạn phải tự thuyết phục mình rằng bạn đang nhìn thấy nó lần
đầu tiên. (To see really have to convince
yourself that you see it for the first time.)
31.
Mùa thu đến bất ngờ. Vậy nên cảm giác hạnh phúc đến từ những điều bình dị nhất
- từ tiếng còi tàu xa xăm trên sông Oka hay một nụ cười bất chợt. (Autumn came suddenly. So comes the feeling
of happiness from the most obscure of things - from the distant ship's horn on
the Oka or a random smile.)
32. Mọi
người thích nói về hạnh phúc. Nhưng ít ai biết rằng hạnh phúc lớn nhất nằm ở sự
thấu hiểu. (People like to talk about
happiness. But nobody knows that the greatest happiness in understanding.)
33.
Khi con người hạnh phúc, họ trở nên hào phóng, họ tìm cách trở thành cầu nối
cho những điều tốt đẹp. (When man is
happy, he is generous, he seeks to be the conduit for great.)
34. Cảm
giác về cuộc sống của chúng ta như một điều độc nhất vô nhị và kỳ diệu tan biến
trong chính nó bởi sự thất vọng, mất mát và những thoáng hạnh phúc không trọn vẹn.
(The very sense of our life as something
singular and amazing dissolves in itself disappointment, loss, and glimpses of
incomplete happiness.)
35. Vật
chất làm nổi bật cảm giác về thời gian. Thường thì chúng tồn tại lâu hơn chúng
ta. (Things accentuate the feeling of
time. Often they live longer than us.)
36.
Yêu sâu sắc thiên nhiên, sức mạnh của tinh thần con người và giấc mơ đích thực
của nhân loại. Và nó không bao giờ ồn ào... Không bao giờ! (Deeply love the nature, the strength of the human spirit and the true
human dream. And it is never noisy... Ever!)
37. Hạnh
phúc chỉ đến với người có tri thức. Càng biết nhiều, người ta càng sắc bén,
càng nhìn thấy được thi ca của trái đất, nơi mà người có vốn kiến thức nghèo
nàn sẽ không bao giờ tìm thấy. (Happiness
is given only knowledgeable. The more the person knows, the sharper, the more
he sees the poetry of the earth where it will never find a person with a poor
Fund of knowledge.)
38.
Kiến thức gắn bó mật thiết với trí tưởng tượng của con người. Điều này thoạt
nhìn có vẻ nghịch lý, nhưng quy luật có thể được diễn đạt như sau: sức mạnh của
trí tưởng tượng tăng lên cùng với sự phát triển của kiến thức. (Knowledge is organically linked with the
human imagination. This at first sight paradoxical, the law can be expressed
as: the power of imagination increases with the growth of knowledge.)
39.
Ông [Chekhov] đã loại bỏ một cách tàn nhẫn khỏi văn xuôi những từ ngữ như
"ham muốn", "tán tỉnh", "lý tưởng",
"CD", "màn hình". Chúng khiến ông ghê tởm. (He [Chekhov] was brutally expelled from the
prose of words like "appetite", "flirt", "ideal",
"CD", "screen". They were repulsive to him.)
40.
Có những câu chuyện sẽ bay đi và biến mất như chim, nhưng sẽ mãi mãi ở lại
trong ký ức của những người vô tình chứng kiến chúng. (There are stories that will fly and disappear like birds, but will
forever remain in the memory of people who became unwitting witnesses to them.)
41.
Ký ức không phải là những lá thư ố vàng, không phải là những bông hoa khô héo
và di vật, mà là một thế giới sống động, rung động, tràn đầy thi ca... (Memories aren't yellowed letters, not old,
not dried flowers and relics, but a living, trembling, full of the poetry
world...)
42.
Hãy giữ gìn tình yêu như một điều quý giá. Một lần làm điều xấu sẽ phải trả giá
bằng tình yêu, và sau này bạn chắc chắn sẽ có những khuyết điểm. (Keep love as a precious thing. Once bad
will cost with love, and later you will have necessarily flawed.)
43.
Tâm trạng lãng mạn không cho phép một người trở thành kẻ nói dối, ngu dốt, hèn
nhát và tàn nhẫn. Sự lãng mạn nằm ở sức mạnh làm cao thượng hóa con người. (Romantic mood does not allow a person to be
a liar, ignorant, cowardly and cruel. Romance lies the ennobling power.)
44.
Con người không thể sống thiếu quê hương, cũng như không thể sống thiếu trái
tim. (Man can not live without a
homeland, as it is impossible to live without a heart.)
45. Sự
tôn trọng của mỗi người đối với ngôn ngữ của họ có thể được đánh giá khá chính
xác không chỉ ở cấp độ văn hóa mà còn về các giá trị công dân. (In respect of each person to their language
can be quite accurately judged not only on cultural level but also about its
civic values.)
46.
Tình yêu có hàng ngàn khía cạnh, và mỗi khía cạnh đều có ánh sáng, nỗi buồn, niềm
vui và hương thơm riêng. (Love has
thousands of aspects, and each of them - their light, their sadness, their
happiness, and their fragrance.)
47.
Trái tim, trí tưởng tượng và tâm trí - đó là môi trường sinh ra cái mà chúng ta
gọi là văn hóa. (Heart, imagination and
mind - this is the environment where is born what we call culture.)
48.
Ngay cả Pushkin cũng đã nói về dấu câu. Chúng tồn tại để làm nổi bật ý tưởng, để
đưa các từ ngữ về đúng tỷ lệ và mang lại sự trôi chảy, âm điệu phù hợp cho câu
văn. Dấu câu giống như các ký hiệu âm nhạc. Chúng giữ vững văn bản và không cho
phép nó tan vỡ. (Even Pushkin said about
punctuation. They exist to highlight the idea to bring the words in the correct
ratio and give the phrase ease and the right sound. Punctuation is like musical
notations. They firmly hold the text and do not allow him to crumble.)
49.
Không có âm thanh, màu sắc, hình ảnh và suy nghĩ nào - đơn giản hay phức tạp -
mà không thể tìm thấy cách diễn đạt chính xác trong ngôn ngữ của chúng ta. (There are no sounds, colors, images and
thoughts - simple and complex - which would not find in our language the exact
expression.)
-----------------

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét