Trích chương XIX – Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh
Nguyễn Khải khác hẳn Nguyên Ngọc. Thiết thực, không phiêu lưu mạo hiểm,
không muốn chết, không muốn đi tù. Anh tự nhận luôn là thằng hèn cho người ta
khỏi phải bàn tán lôi thôi.
Sau cuộc hội nghị nhà văn đảng viên, bản đề cương của Nguyên Ngọc bị Tố
Hữu đánh, Nguyễn Khải vốn nhất trí với Nguyên Ngọc trong vụ này, nên sợ quá.
Anh nói thẳng với Nguyên Ngọc: “Tao nhát lắm, chưa đánh đã khai. Cho tao chạy
đi thôi, mày thông cảm, đừng khai tao ra nhé”.
Nguyễn Khải rất thiết thực và tỉnh táo, vậy mà cũng có lúc mê muội. Tôi
gọi là dại – tôi đã viết như thế về Nguyễn Khải trong bài Dại khôn Nguyễn Khải. Mới biết cái danh, cái lợi cũng dễ mê hoặc
lắm. Hồi được gọi ra Hà Nội để chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ tư (Trần Độ,
Nguyễn Văn Hạnh dự định sắp đặt Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc làm chánh, phó Thư kí
Hội Nhà văn). Nguyễn Khải xem ra cũng hăng hái lắm. Anh nói với tôi y như là sẽ
làm Tổng thư ký đến nơi: Anh phẩy tay “Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên thì phế cả
đi! Còn về lý luận phê bình thì anh phụ trách cho tôi. Nhưng ta phải khôn khéo,
đổi mới nhưng phải khôn khéo. Trần Độ cứng quá, cứ ỉa ra đấy cho người ta phải
dọn. Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu! Nếu cần quỳ xuống lậy, ta cũng
phải quỳ”.
Trong bài viết về Nguyễn Khải, tôi có nhắc đến chi tiết này, cho là một
cái dại của anh và hạ một câu: “Bây giờ nghĩ lại, xấu hổ chết được!”. Tôi tưởng
anh giận tôi, hoá ra anh lại thích thú. Thích vì thấy hiểu mình quá. Tôi rất
quý cái thành thực ấy của Nguyễn Khải. Có một cô nghiên cứu sinh tên là Tuyết
Nga làm luận án về Nguyễn Khải. Cô tìm gặp anh để tìm hiểu. Anh đưa cô xem bài
viết của tôi, nói là cứ đọc bài này là hiểu anh. Và anh cầm bài viết đọc luôn
cho cô ta nghe. Đến chỗ “Bây giờ nghĩ lại xấu hổ chết đi được!”, anh đỏ bừng
mặt và cười hô hố – Cô nghiên cứu sinh kể lại với tôi như vậy. Trong bài viết
nói trên, tôi có nói đến một bậc đàn anh trong nghề dạy tôi phải đào nhiều
hang. Ta là con chuột, lấp hang này, ta chui hang khác, đó là Đinh Gia Khánh. Ở
bài này, tôi dẫn câu Nguyễn Khải nói, có một nhà văn, trước 1975, chẳng có tư
tưởng gì cả. Đấy là Nguyễn Minh Châu. Đúng là trước 1975, tiểu thuyết Nguyễn
Minh Châu cũng chỉ là minh hoạ đường lối, tư tưởng của đảng. Sau 1975 mới có tư
tưởng. Tư tưởng Nguyễn Minh Châu đặt ở nhân vật Khúng trong Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát. Tôi cũng dẫn lời anh chê một nhà thơ viết hồi ký,
đọc lúc đầu có không khí, sau chẳng thấy có tư tưởng gì. Đó là A.T (Hồi
ký Từ bến sông Thương). Tôi còn dẫn ra câu anh nói về một giáo sư danh
tiếng mà đọc (hồi ký) cũng chả thấy có tư tưởng gì. Đó là ĐTM. Như vậy là đọc
văn hay viết văn, Nguyễn Khải rất chú ý đến tư tưởng của tác phẩm. Nhưng ở anh,
có một mâu thuẫn: một mặt muốn phát biểu tư tưởng riêng, vì ý nghĩa của văn
chương là ở đấy. Nhưng mặt khác lại muốn sống yên ổn với đời nên chỉ có thể
mạnh dạn nửa vời, mạnh dạn trong một khuôn khổ nào đấy thôi. Chính trị ghê gớm
lắm, không đùa được đâu, chắc anh luôn luôn tự dặn mình như thế. Vả lại nghĩ đi
nghĩ lại, anh không thể quên công ơn của cách mạng đối với mình. Từ một cậu bé
con rơi con vãi, sinh ra đã bị khinh bỉ, bị lăng nhục, sau cách mạng trở thành
nhà văn có danh, có lợi đủ cả. Cũng phải biết điều một chút chứ!.
Thông minh và tỉnh táo, Nguyễn Khải luôn có ý thức về thân phận của mình,
về cái giá trị của mình đối với đời. Anh kể chuyện, hồi anh là đại biểu quốc
hội, đi ôtô từ Ba Đình về nhà khách. Đến chỗ đường tàu, xe phải dừng lại cùng
một số đồng bào đi xe đạp, xe máy. Anh nhìn xuống, thấy rợn người: có một tay
đang nhìn lên anh, cặp mắt đầy căm thù. Anh nghĩ mình cũng chỉ là loại nghị
gật, vô tích sự, thằng ăn hại, dân nó khinh ghét là phải.
Chiến thắng 30.4.1975, anh đi vào Nam. Gặp Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng
Oánh. Anh cảm thấy Ngọc và Oánh nhìn mình như muốn nói: “Mình chiến đấu gian
khổ bao lâu không thấy mặt nó đâu, bây giờ chiến thắng rồi, nó vào. Rồi nó sẽ
viết nhiều, viết hay hơn mình cho mà xem!”. Nguyễn Khải nói: “Biết thân phận
thế, tôi cứ ngồi len lén, không dám nói năng gì”.
Mà cái tài của Nguyễn Khải là thế thật, có cần đi thực tế gì đâu. Trước
1975, anh chỉ ngồi ở ngoài Bắc mà viết về Hoà Vang chiến đấu như thật. Cho nên
có ai đó đã làm vè giễu anh: “Anh đi anh lại về ngay/ Hoà Vang cũng ở ngoài này
đó em”.
Khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, Nguyễn Khải đưa gia đình vào
Sài Gòn. Lúc đầu xem chừng sinh hoạt còn khó khăn. Anh ở quận Bốn (448B/9,
phường 18, Nguyễn Tất Thành) tôi có đến thăm. Nói chuyện với tôi, thấy anh cứ
nhấp nhổm chạy ra chạy vào: gia đình bán giải khát và cho thuê điện thoại. Có
khách đến, phải chạy vội ra phục vụ. Mấy năm nay thì khá hơn rồi. Anh có người
con (Nguyễn Khải Hoàn ) kinh doanh nhà đất, kiếm được. Nhưng nhà cứ mua đi bán
lại, nên anh cứ phải chuyển chỗ ở luôn. Mỗi lần tôi vào Sài Gòn, lại thấy anh ở
một chỗ khác. Biết tôi vào Sài Gòn, thế nào anh cũng mời đến uống rượu.
Đến Nguyễn Khải, lúc nào cũng có rượu. Anh nói, bây giờ rượu Tây sẵn,
nghĩ thương ông Nguyễn Tuân. Ngày xưa mỗi lần họp, thấy ông lấy ra một cái bi
đông rượu, rót vào cái nắp, mời vị này, vị khác. Nay rượu Tây đầy ra đấy, ông
không còn để mà uống.
Nói chuyện với Nguyễn Khải, tôi không ngờ hồi mới vào Sài Gòn, loại văn
nghệ sĩ cỡ Chế Lan Viên, Nguyễn Khải mà khổ đến thế: “Vũ Thị Thường nói, đi
đường chỉ mong nhặt được tiền ai đó đánh rơi. (Hệt như câu nói của Hoàng Ngọc
Hiến hồi ấy: “Đi đường thấy có một đồng xu rơi cũng phải nhặt. Kiếm đâu ra một
xu bây giờ!”)
“Chế Lan Viên ở quận Tân Bình chỉ thèm ăn một bữa ngon, phải ra tận
quán bà luật sư Huỳnh Ngọc Đại để được bà ấy đãi một bữa cơm Tây. Ai mời, đâu
mời cũng đi. Chỉ để kiếm bữa ăn thế thôi, và xách về một chai nước mắm hay mấy
cân gạo nó cho. Nguyễn Khải cùng đi với Chế Lan Viên. Một thằng làm thơ, một
thằng viết ký, một ca sĩ đi theo hát. Tôi gọi là hai kép, một cô đầu cùng đi
kiếm bữa ăn và ngồi nghe mấy tay giám đốc dốt nát vào đấy ba hoa. Nó có tiền
nên hai nhà văn cứ phải gật gù nghe nó dạy dỗ”.
Nguyễn Khải có nhiều ý kiến rất táo bạo: “Đảng không bao giờ coi trọng
trí thức, biến trí thức như Hoàng Xuân Nhị thành hèn hạ. Mà bị nó khinh. Tôi
từng gặp Hoàng Xuân Nhị ở nhà Tố Hữu. Tố Hữu không thèm nói chuyện với ông ta,
cứ để cho ông ta ngồi một mình. Tóc bạc phơ. Tố Hữu chỉ nói với tôi là một
thằng còn rất trẻ. Trần Đức Thảo thì bị biến thành một thằng thần kinh. Sang
Pháp, bao nhiêu Việt kiều mời đến, không đến, cứ ở Đại sứ quán, tuy bị nó khinh
như chó.
Thuỵ An thì bị tù. Trong tù đi lao động, ngã vào dây thép gai, bị mù
một mắt. Nay vẫn ở Sài Gòn, sống rất khổ. Không đi Pháp vì là con gái lớn phải
ở lại nuôi mẹ già…”
“Chúng ta thuộc lứa người bị bỏ phí cả một thời trai trẻ để học theo
một cái lý thuyết vớ vẩn, chả nghĩ ra được cái gì, chẳng làm ra được cái gì
trong giới hạn của chủ nghĩa Mác – Lê – một thứ triết học của người cầm quyền.
Mà có hiểu Mác – Lê thực đâu. Toàn nghe lãnh tụ nói và nói theo. Trong cái khung
của một ý thức hệ, còn ai nghĩ ra được cái gì nữa. Chủ nghĩa Mác thành ra một
thứ tôn giáo. Tin mà không hiểu. Bao người hy sinh vì cái lý thuyết vớ vẩn ấy.
Chủ nghĩa xã hội toàn đẻ ra những con người quái gở như Mao Trạch Đông,
Staline, Pônpốt, rồi Nguyễn Chí Trung…, toàn lũ điên”. “Ta có một thời cứ tin
tưởng ở cái không có. Như tin ở chủ nghĩa xã hội”.
“Chính trị và quan điểm giai cấp trùm lên tất cả. Con người không có
tình bạn. Bạn bè mà có vấn đề chính trị là không được quan hệ”. “Chủ nghĩa xã
hội nếu không thay đổi thì con người thành mọi rợ, rừng rú. Từ ăn, ỉa, mặc, ở…
Sợ quá!”
Nguyễn Khải nói về uy quyền ghê gớm của Lê Đức Thọ một thời. Anh chứng
kiến Sáu Bắc (Lê Đức Thọ) tiếp Sáu Nam (Lê Đức Anh). Hôm ấy, Thọ gọi một số văn
nghệ sĩ đến hỏi chuyện. Thọ đang tiếp khách. Bọn Khải phải ngồi đợi ở phòng bên
cạnh. Lát sau, khách ra về. Hoá ra khách là Lê Đức Anh. Nguyễn Khải thấy Lê Đức
Anh đi ra, cứ đi giật lùi, giật lùi ra mãi giữa sân mới dám quay đít lại. Thọ
tiếp chúng tôi. Đúng lúc ấy thấy Phạm Hùng đi sang. Hùng đề nghị gặp Thọ một
lát. Thọ phẩy tay: “Để lúc khác nhé, giờ đang bận tiếp khách văn chương”. Thọ
coi Hùng chẳng là cái gì, tuy Hùng lúc đó là thủ tướng, thay Phạm Văn Đồng ”.
“Nói chung cộng sản coi văn nghệ sĩ như rác. Lê Duẩn coi Tố Hữu cũng
chỉ như một con hát. Nhưng lại sợ văn nghệ. Vì chỉ dùng tuyên truyền, dùng nước
bọt mà giành được nước. Chỉ nói, có làm gì đâu. Nói đủ cả, chẳng làm gì. Thí
dụ, cứ nói phê bình tự phê bình mà chưa bao giờ phê bình tự phê bình cả. Có dám
nói thật đâu mà phê bình tự phê bình. Chỉ toàn đào tạo gia nhân, đầy tớ, bọn
nịnh hót. Sợ văn học cũng vì thế. Vì văn nó nói sự thật, nó lật tẩy. Rất sợ
biểu tượng hai mặt. Chỉ đề cao văn tuyên truyền, đề cao vè. Thật ra bọn nhà văn
nói chung nhát, không dám chống chế độ đâu!”. “Chế Lan Viên một thời, dựa thế
Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn
nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ trưởng, nói với Nguyễn Tuân: ông tưởng ông to lắm
à? Tôi phụ trách ông kia mà! Họp chấp hành, ý kiến Chế Lan Viên là quyết định.
Thí dụ, ban chấp hành bàn có nên kết nạp Phan Quang không? Mọi người chờ ý kiến
của Chế Lan Viên. Chế lan Viên đi đái vào, nói: “Thằng Thép Mới nó còn ở ban
chấp hành được thì thằng Phan Quang sao không cho vào hội được!”. Ai cũng gọi là
thằng tuốt; Thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài, thằng Hoàng Trung Thông,
chẳng sợ ai cả. Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên. Phải về nhà mới nghĩ ra
cách bác lại, nhưng hôm sau, không còn lý do để tranh cãi nữa, vì lão ấy lại
nói chuyện thân mật”.
“Nhưng Chế lan Viên chết rất khổ. Vũ Thị Thường phục vụ rất mệt. Gần
chết hay quát tháo vợ con. Vũ Thị Thường nói chỉ thèm được ngủ, khi Chế lan
Viên chết, việc đầu tiên là ngủ bù một giấc, dạy mới có sức mà khóc”.
Nguyễn Khải có một ưu điểm là có óc liên tài thật sự. Rất phục người
tài. Tôi đã được nghe anh phục Đỗ Chu như thế nào khi Chu mới xuất hiện. Đối
với Nguyễn Huy Thiệp lại càng phục hơn nữa.
Anh nói: “Kim Lân là con đẻ của đất Kinh Bắc. Đỗ Chu cũng thế. Trẻ con
có học hành gì đâu mà viết rất hay: Thung
lũng cò, Hương cỏ mật… Vợ nhặt của Kim Lân thì văn tuyệt hay. Con
người Kim Lân rât thích. Hồn nhiên, chân thật, tiếp xúc không phải ý tứ gì. Có
Kim Lân, mình cũng bớt lố bịch, cứ lấy ông ta làm chuẩn. Nguyễn Tuân còn điệu
bộ, làm dáng. Tôi rất ghét uốn éo, điệu bộ. Rất ghét cái ông Vũ Kỳ bắt chước Cụ
Hồ: áo bà ba, đi guốc mộc tiếp khách.
Muối của rừng, Thiệp viết rất giỏi. Hêminhuê viết Ông già và biển cả còn dài dòng. Thiệp
viết cực ngắn. Đi săn, trang bị đầy đủ. Cuối cùng cởi truồng trở về. Lại còn bị
lũ khỉ giễu cợt. Không có vua có cái
chi tiết bố chồng dòm con dâu tắm. Sợ quá!
Nhưng bây giờ xem ra hết tài rồi. Viết tiểu thuyết “Tuổi 20 yêu dấu”,
rồi truyện võ hiệp, thành ngòi bút khác mất rồi.
Ma Văn Kháng là dân Hà Nội, viết về dân tộc thiểu số cứ xôm cốp bên
ngoài thế thôi. Phải viết về dân tộc mình, về cái mình thuộc, mình am hiểu chứ.
Tô Hoài thì rất tinh quái, rất hóm. Nguyễn Đình Thi đẹp trai, hấp dẫn gái, thế
mà toàn ăn của thừa. Mình phải ăn từ bếp lên chứ! Này, có lần tôi đến LM gọi
cửa mãi, thấy đi ra, khuy ngực xốc xếch. Bên trong thấy có Tô Hoài.” Nguyễn
Khải cho kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ 7 là tốt: “Ban chấp hành như thế
là khác trước rồi. Trước đây, vào chấp hành, thằng nào cũng để kiếm chác một
cái gì đó: một chỗ dựa, một chỗ có tiền, một suất đi nước ngoài… Giờ bọn Vàng
Anh, Hồ Anh Thái nó chẳng cần gì! Đừng hòng Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm bảo
được nó. Nó không nghe đâu!”.
Nguyễn Khải cho viết văn là phải có tư tưởng. Vì thế anh chịu khó đọc
sách, gần đây hay đọc triết. Hình như có một bậc thánh hiền nào đó nói rằng, đọc
sách mà không nghĩ thì vô dụng, nghĩ mà không đọc sách thì nghĩ lung tung rất
nguy hiểm. Nguyễn Khải chịu đọc và chịu nghĩ.
Một lần tôi đến anh, thấy anh đặt trên bàn cuốn “Tinh thần pháp luật”
của Montesquieu. Anh nói: “Lâu nay chúng ta chỉ đi bên cạnh nền văn minh nhân
loại. Nói thế là đủ hiểu. Chẳng biết gì. Phủ nhận tất cả những cái gọi là phi
vô sản. Bây giờ mình mới được đọc những Montesquieu, Voltaire, Rousseau…
Đọc triết học phương Đông từ Cao Xuân Huy, Nguyễn Hiến Lê… đến khi đọc
bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến, cuốn “Bàn về tính hiệu quả”, mới ngộ ra được.
Phải nhìn từ xa, tuân theo quy luật tự nhiên. Gò ép nó, cải tạo nó là hỏng.
Liên Xô cứ đòi uốn nó, cải tạo nó. Cải tạo sao được con người. Con người không
thể cải tạo được. Bây giờ đấy: đủ cả mafia rất ghê gớm”.
Hoàng Ngọc Hiến dịch triết rất hay mà chả thấm được triết. Cứ tức tối,
căm thù. Tôi rất quý Hoàng Ngọc Hiến, nhưng đọc bài của Hiến (có lẽ là bài trên
Talawas) tôi không thích nữa.
Về điểm này, tôi chưa thật hiểu rõ ý của Nguyễn Khải. Tôi nhớ ông
Tolstoi già trong Chiến tranh và hoà bình
có luận về tình yêu của con người và tình yêu của Thượng đế. Khi yêu bằng tình
yêu của con người thì có thể từ yêu thương chuyển sang thù ghét, còn tình yêu
của Thượng đế thì có thể thương yêu cả kẻ thù, thậm chí cảm thấy vui sướng khi
thương yêu kẻ thù. Ăngđré Bôncônxki, trong giờ phút hấp hối, đã thấy mình bỗng
có được tình yêu đó. Anh ta vui sướng khi thấy mình thương cả Anatole là kẻ
tình địch của mình.
Nguyễn Khải muốn có thứ tình yêu cao cả đó chăng, mà anh gọi là thái độ
triết học?
Điều đó có phải là một điềm gở ở anh không?
Tôi gặp Nguyễn Khải lần cuối cùng ngày 24.7.2007 (cùng với Hồ Quốc
Hùng). Tất nhiên khi anh mất rồi mới biết đấy là lần cuối cùng: Thật không ngờ!
Tôi cứ tưởng sẽ còn nhiều lần được gặp anh. Anh với tôi cùng sinh một năm
(1930), nhưng anh còn sinh sau tôi tới chín tháng (tôi sinh đầu năm – tháng ba,
anh sinh cuối năm – tháng chạp).
Anh đi đâu về. Trông thấy anh, tôi bấm bụng cười thầm vì chợt nghĩ đến
nhận xét rất đúng nhưng rất tục của Đỗ Chu hồi nào: “Răng hơi hô, trông lúc nào
cũng như hớn hở, đi ngực ưỡn, hai tay ve vẩy, trông như con đàn bà nứng l”.
Nhưng bây giờ thì anh có vẻ yếu rồi, chống ba toong, cao lênh khênh, đi
lòng khòng.
Anh vẫn nói nhiều. Nào chuyện tướng tình báo Phạm Xuân ẩn, kho tài liệu
giúp anh viết về chính quyền Sài Gòn, nào chuyện cải cách ruộng đất xoá sạch
thành tích cách mạng, chuyện Chế Lan Viên chết rất khổ. Khổ mà rất khí khái,
không xin xỏ gì hết, tuy Tố Hữu, Hà Xuân Trường đến thăm luôn, chuyện Nguyễn
Tuân, chuyện Nguyễn Huy Thiệp, chuyện Cụ Hồ và tướng Giáp rất giỏi nín nhịn…
Anh nói đang viết một bài gọi là sự hình thành một bút pháp. Từ thực tế
sáng tác của mình mà viết. Xưa đã thấy người nông dân cần có tầm mắt nhìn xa
vượt ra khỏi sự hẹp hòi của hợp tác xã. Nhưng vượt ra bằng cách nào chưa biết.
nay mới thấy có điều kiện: kinh tế thị trường giải phóng cho nông dân… Anh nói
rất nhớ Hà Nội. Thèm không khí Hà Nội. Vào Sài Gòn anh chẳng chơi với một bạn
mới nào. Ra Hà Nội bây giờ cũng lại chỉ đến những bạn cũ đã già. Không nói
chuyện với đám trẻ được. “Người ta nói sáu mươi tuổi thì tính năm, bẩy mươi
tính tháng, tám mươi tính ngày… Tôi muốn sống lâu để xem thời thế ra sao. Lịch
sử do con người làm ra, làm sao biết trước được!”
Tôi nhớ lại ngày xưa anh đã có một câu nói gở rất thiêng về Nguyễn
Tuân. Anh khen Nguyễn Tuân đẹp lão và nói: “Đẹp lão thế là sắp sửa đấy!”. Ba
ngày sau Nguyễn Tuân qua đời.
Bây giờ anh nói bẩy mươi tuổi tính tháng. Anh nói ngày 24.7.2007.
Năm tháng sau, ngày 15.1.2008, nghe tin anh qua đời. Đúng là tuổi bẩy
mươi tính tháng.
Ngay sau khi Nguyễn Khải mất, tôi có anh bạn (Hoàng Dũng) trong Nam ra
Hà Nội, nói Nguyễn Khải chết không có đất chôn. Đúng ra là không được chôn ở
nghĩa địa Sài Gòn (tại Thủ Đức), phải đưa lên nghĩa địa Củ Chi rất xa. Tiêu
chuẩn được chôn ở Thủ Đức, ngoài những ông thành uỷ viên hay trung ương uỷ viên
không kể, phải có 65 năm tuổi đảng. Trần Duy Châu, nguyên hiệu phó Đại học Sư
phạm Sài Gòn, khi chết mới có 58 tuổi đảng, không đủ tiêu chuẩn, phải đưa đi Củ
Chi. Nguyễn Khải tất nhiên cũng phải đưa đi Củ Chi. Võ Văn Kiệt thấy thế chắc
lấy làm xấu hổ, nên can thiệp. Ông tuyên bố nhường suất chôn ở Thủ Đức của ông
cho Nguyễn Khải.
NĐM, Láng Hạ 23.1.2008.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét